Popular Posts

Monday, June 17, 2019

Phân biệt quả dưa hấu có giống đực và giống cái.



Subject: Phân biệt quả dưa hấu có giống đực và giống cái.



Ăn dưa hấu nhiều nhưng bạn đã biết loại quả này có giống đực và giống cái?

        Có một sự thật ít ai biết đó là dưa hấu là loài thực vật duy nhất phân chia giới tính ở quả.
        Dưa hấu, có tên Khoa học là Citrullus lanatus, là một loại cây thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae) có nguồn gốc từ miền Nam châu Phi. Cây dưa hấu được biết đến rộng rãi vì quả của nó được xếp vào nhóm quả mọng cùng với nho, dâu, cà chua,  nhưng lại có lớp vỏ dày và có phần thịt xốp, được tạo ra từ bầu nhụy trong, đặc biệt là chứa nhiều chất dinh dưỡng.



Ăn dưa hấu nhiều nhưng bạn đã biết loại quả này có giống đực và giống cái? - Ảnh 1.
     Dưa hấu là món giải khát được ưa thích và còn rất bổ dưỡng.



        Dưa hâu là loại quả phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nơi trên thế giới, nhưng có một điều thú vị mà ít người biết đến đó là về giới tính của dưa hấu.
        Trên thực tế, các loài thực vật đều có giới tính và hoa là bộ phận sinh dục của thực vật. Tuy vậy, hầu hết các loài thực vật đều là lưỡng tính, tức là trên một cây có cả hoa đực lẫn hoa cái. Một số khác thì có hoa là lưỡng tính, do cả bộ phận sinh dục đực (nhị và phấn hoa) và bộ phận sinh dục cái (noãn và nhụy), ví dụ như hoa loa kèn, hoa bưởi,…
        Trái ngược với đa số các loài thực vật, dưa hấu lại là loại cây duy nhất có thể phân biệt giới tính rõ ràng nhờ vào quả, nghĩa là có quả dưa hấu đực và quả dưa hấu cái. Dưa hấu cái thì thường lớn hơn, ngọt hơn, và có ít hạt hơn nhiều.


               Dưa hấu cái lớn hơn và thường có rất ít hạt.

Ăn dưa hấu nhiều nhưng bạn đã biết loại quả này có giống đực và giống cái? - Ảnh 3.
Trong khi đó dưa đực là nhỏ hơn nhiều, lại chứa đầy hạt để duy trì nòi giống.

        Giới tính của quả dưa hấu có thể được xác định bằng cách nhìn vào phần đáy của quả, nơi có vòng tròn nho nhỏ ở chính giữa, đối diện cuống dây. Nếu ở quả dưa hấu đực, vòng này chỉ bé bằng đồng xu, thì quả dưa hấu cái lại có vòng lớn hơn, đường kính khoảng 2.5cm. Đây cũng là đặc điểm giúp chúng ta có thể nhận dạng giữa hai loại quả để mua được dưa hấu ngọt và ít hạt hơn.


Ăn dưa hấu nhiều nhưng bạn đã biết loại quả này có giống đực và giống cái? - Ảnh 4.
        Nếu vòng tròn ở đáy quả dưa hấu "đực" chỉ nhỏ xíu.



Ăn dưa hấu nhiều nhưng bạn đã biết loại quả này có giống đực và giống cái? - Ảnh 5.
... thì ở dưa hấu cái, vòng tròn này lại to hơn nhiều.


        Dưa hấu đem lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe, do có chứa nhiều vitamin A, B6, C và chất xơ. Ngoài việc giúp giải khát, dưa hấu còn rất bổ dưỡng và hoàn toàn không có chất béo, cholesterol xấu. Các chất kali, sắt trong dưa hấu kết hợp với vitamin C và sắc tố caroten màu đỏ tươi thể giúp cơ thể chống lại cơn mệt mỏi, buồn chán, làm da dẻ hồng hào tươi sáng.

        Điều tuyệt vời nhất đó là tất cả các bộ phận của dưa hấu đều có thể ăn được, kể cả vỏ và hạt!


Ăn dưa hấu nhiều nhưng bạn đã biết loại quả này có giống đực và giống cái? - Ảnh 2.


                                                Hết.


__._,_.___

Posted by: van tran <

Gặp nạn trên biển, con trai đòi buông tay thì ba dặn: ‘Chết cũng không được buông cổ ba ra nghe !’.


Subject: Câu chuyện Tình Cha Con thật cảm động

Câu chuyện Tình Cha Con thật cảm động, *:( sad rất có ý nghĩa trong ngày Father’s Day sắp tới .


Gặp nạn trên biển, con trai đòi buông tay thì ba dặn: ‘Chết cũng không được buông cổ ba ra nghe !’.



  Trưa ngày 5/5, tàu container Haian Bell đi qua vùng biển Bình Thuận thì phát hiện hai cha con ông Ngô Nhàn (49 tuổi) và con trai là Ngô Anh Vũ (16 tuổi) ngụ phường Lạc Đạo, TP Phan Thiết, trôi dạt trên biển.

    Theo báo Pháp luật, Thuyền trưởng tàu Haian Bell Đỗ Anh Tuấn kể lại: Tàu Haian Bell xuất phát từ Cảng Sài Gòn chở hàng đi Đà Nẵng. Khi con tàu đến vùng biển Bình Thuận, qua khỏi vị trí cha con ông Ngô Nhàn gặp nạn, từ ống nhòm, các Thủy thủ trên tàu báo cho Thuyền trưởng có người gặp nạn.
    Thuyền trưởng Tuấn đã nhanh chóng cho tàu tiếp cận, quăng phao cứu sinh, chăm sóc y tế ban đầu. Đến chiều cùng ngày, sau khi phát tín hiệu, tàu Haian Bell đã bàn giao hai cha con ông Nhàn cho tàu Bth-97522 đưa hai cha con vào đất liền cấp cứu.
   Cha con ông Nhàn được đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời. 
    Nằm trên giường cấp cứu, ông Nhàn cho biết: Vợ chồng ông vay mượn đóng được con tàu nhỏ 36CV để đi biển. Năm ngoái vợ ông bị tai biến liệt nửa người. Thấy mẹ đổ bệnh, Anh Vũ học lớp 9 quyết định nghỉ học theo cha đi biển, bất đắc dĩ ông Nhàn đành phải gật đầu cho con theo.
    Ngày 3/5 hai cha con lên tàu BT-84141 đi câu mực ngoài khơi, và dự định chiều 5-5 sẽ quay về đất liền.
    Ông Nhàn kể: “Gần trưa ngày 5/5, hai cha con tôi đang câu mực thì thấy từ xa một con tàu lớn màu đen xuất hiện. Cha con tôi cứ nghĩ tàu lớn có ra đa, định vị sẽ thấy mình để tránh nhưng con tàu cứ lù lù đi tới dù lúc đó cả hai cha con đã đứng lên la hét, làm đủ tín hiệu để con tàu phát hiện !”
    Sau đó con tàu lớn màu đen đã chồm lên và cuốn cả chiếc tàu nhỏ lẫn cha con ông Nhàn nhấn chìm. Ông Nhàn cho biết khi ông trồi lên mặt nước thì không thấy con trai đâu. Sau đó mới biết chiếc tàu lớn đã cuốn Vũ kéo đi gần 100m. Cậu bé may mắn thoát chết nhưng người đầy thương tích. Dù ông Nhàn lúc đó bị chấn thương đầu nặng, vẫn cố gắng ôm phao bơi tìm con. Khi ông Nhàn tìm thấy con, Vũ đã ra rất nhiều máu gần như kiệt sức.
  Cha con ông Nhàn được đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời.

    Hai cha con  ôm phao cầu nguyện có tàu phát hiện cứu giúp. Gần nửa giờ sau, quá đuối sức, Vũ nói với cha mình sẽ buông tay và dặn cha cố gắng sống sót về với mẹ. Ông Nhàn kể lúc đó ông đã không khóc, mà ôm chặt con trai rồi dặn con quàng hai tay qua cổ mình nói: “Có chết cũng không bao giờ được buông cổ ba ra nghe !”.
    May mắn thay, nửa tiếng sau, tàu Haian Bell xuất hiện và phát hiện hai cha con. Thuyền trưởng Đỗ Anh Tuấn đã lệnh cho con tàu giảm tốc kịp thời cứu sống hai cha con. Thuyền trưởng Tuấn cho biết: Trong tích tắc anh đã lệnh cho tàu giảm tốc độ quay con tàu có trọng tải lớn (trên 18.000DWT) để cứu người. Do tàu có trọng tải lớn nên để tiếp cận cứu hai cha con ông Ngô Nhàn, phải tìm cách che chắn sóng cho họ mới có thể quăng phao cứu sinh tiếp cận được.
    Anh Tuấn chia sẻ: “Cả Thủy thủ đoàn đều hiểu khi quay tàu lại sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hải trình, lịch giao hàng, nhưng chúng tôi quyết định dù có bị kỷ luật hay thiệt hại về kinh tế thì việc cứu hai mạng người đang gặp nạn là cấp thiết. Rất may là khi chúng tôi vừa cho tàu quay lại, vừa điện báo về đã nhận được đồng tình thậm chí là khuyến khích của Công ty!”.
    “Khi đưa được hai cha con lên tàu, họ đã mất máu rất nhiều, ông Nhàn cứ ôm chặt lấy con trai như sợ vuột mất. Chúng tôi đã chăm sóc y tế, thay quần áo cho họ và nói tàu sẽ tiếp tục hải trình đưa họ về Đà Nẵng !   ”.
              Tàu Haian Bell.

    Trước khi bàn giao cha con ông Nhàn cho tàu Bth-97522, Thủy thủ đoàn đã chung tay góp được 5 triệu đồng ủng hộ cha con ông Nhàn và hút hai can dầu DO để hỗ trợ tàu Bth-97522 đã bỏ dở chuyến biển đưa hai nạn nhân về đất liền. Tuy nhiên, người Tài công con tàu này từ dưới khoang, khoát tay từ chối nhận hỗ trợ rồi nổ máy trực chỉ đất liền.
    Sau khi được chia sẻ, câu chuyện đã nhận được rất nhiều phản hồi tích cực từ cộng đồng:
    Facebooker Hữu Toàn bày tỏ: “Thật cảm động. Tình cha con cao cả. Xin cảm ơn Thuyền trưởng Tuấn và Trưởng tàu đã đưa cha con họ về bờ an toàn !”.
    Độc giả Minh Trung viết: “Tình cha dành cho con là vô bờ bến, hy vọng khi cha già đi con đừng đối xử tệ với cha. Những ai đang có cha có mẹ hãy trân trọng !”.
    Độc giả Trâm Huỳnh: “Trời mưa đọc được bài này cảm động quá, cảm động vì nghĩa tình cha con và vì cái tình thương giữa người với người !”
    Độc giả Phan Anh viết: “Một tin hay mình muốn đọc nhất, người cha thật là anh hùng, người con và tất cả chúng ta được bài học quý: gặp khó khăn nhất, tuyệt vọng nhất cũng không được buông tay!”.
    Một độc giả khác chia sẻ: “Câu chuyện thật đẹp. Tình cha con thật cảm động và tình người thật ấm lòng!”
    Tình cảm của hai cha con ông Nhàn thật đáng quý. Lòng tốt của Thuyền trưởng Tuấn cùng đồng đội thật đáng ngưỡng mộ. Tấm lòng của Tài công con tàu Bth-97522 cũng thật đáng trân trọng. Vẫn còn rất nhiều điều tốt đẹp và ý nghĩa trong cuộc sống của của chúng ta!
(Nguồn và ảnh: Báo Pháp luật)
Trần Phong (TH)
_______________
   
                                                                   Hết.

__._,_.___

Posted by: van tran 

CÕI ĐỊA NGỤC


CÕI ĐỊA NGỤC
Toàn Không 
I). SINH TỬ THÔNG:
      Một thời Đức Phật ngự trong vườn Cấp Cô độc, nước Xá Vê, bấy giờ Đức Phật bảo các Tỳ Kheo:
- Ta dùng Thiên nhãn thanh tịnh nhìn thấy chúng sanh sinh ra chết đi, chết đi sanh ra, sắc đẹp sắc xấu, thiện hoặc ác, chỗ lành hoặc chỗ dữ tùy theo nghiệp mà chúng sinh đã tạo ra. Ta thấy những sự kiện ấy đúng như thật, không hư dối. Nếu có chúng sanh nào làm ác, nói ác, nghĩ ác, phỉ báng Thánh hiền, tà kiến, thì do nhân duyên ấy, khi chết chắc chắn đi vào chỗ dữ, sinh nơi địa ngục. Nếu chúng sinh nào làm lành từ thân miệng ý, ca ngợi bậc Thánh hiền, không có tà kiến, do nhân duyên này, khi chết người ấy sẽ đi vào chỗ tốt, sanh nơi cõi trời.
     Như khi mưa lớn, lúc ban đầu trút xuống, giọt nước rơi xuống, hoặc chỗ thấp hoặc chỗ cao, nếu có người đứng yên một chỗ, để ý thấy rõ những hạt mưa rơi xuống khi chỗ thấp khi chỗ cao; như bọt nước sinh ra rồi mất đi, nếu có người đứng một nơi quan sát thấy bọt nước mưa thoạt sinh rồi thoạt diệt, thấy rõ ràng.
     Như ngọc lưu ly tự nhiên sinh ra không có tỳ vết, tám góc xâu qua sợi dây hoặc xanh, vàng, đỏ, đen, trắng, người có mắt nhà nghề nhìn biết rõ ngọc lưu ly tốt xấu rõ ràng.
     Như hai nhà có chung một cổng ngõ, nếu có người đứng một chỗ thấy người ra vào qua cổng ngõ ấy rõ ràng.
     Cũng như người đứng trên lầu cao nhìn người qua lại hoặc ngồi nằm, chạy nhảy bên dưới, đều thấy tất cả một cách rõ ràng.
     Ta cũng thế, bằng Thiên nhãn thanh tịnh, nhìn thấy chúng sanh khi sinh lúc chết, hoặc xấu hoặc đẹp, qua lại chỗ lành chỗ dữ tùy theo nghiệp mà chúng sinh ấy đã tạo. Ta thấy sự kiện ấy đúng như thật, không sai lệch, nếu chúng sanh nào làm ác, nói ác, nghĩ ác, nói xấu bậc Thánh, có tà kiến, khi chết, chúng sinh ấy chắc chắn sinh vào chỗ dữ, địa ngục. Nếu chúng sinh nào làm lành, nói lành, nghĩ lành, không nói xấu bậc Thánh, có chính kiến, do nhân duyên ấy, khi qua đời, người ấy chắc chắn sinh vào chỗ lành, cõi trời hoặc cõi người.
     Nếu chúng sanh nào sống trong nhân gian không hiếu thảo với cha mẹ, không tôn trọng bậc Thánh hiền, không tạo phúc, không sợ tội đời sau, do nhân duyên ấy, khi chết chúng sinh ấy sẽ sinh trong loài Ngạ quỷ, Súc sinh, hay Địa ngục.
LỜI BÀN:
     Đoạn Kinh trên cho thấy Đức Phật có Sinh Tử Thông, Ngài dùng Thiên Nhãn thấy rõ chúng sanh chết đi sinh ra đều theo nghiệp của thân miệng ý đã tạo ra mà được đến chỗ tương xứng, tạo nhân ác phải vào chốn đau khổ, tạo nhân thiện được vào nơi vui sướng. Thân làm ác là hành hạ, đánh đập, giết hại chúng sinh các loài; miệng nói ác là nói dối, nói hai chiều, nói thêu dệt, nói ác; ý nghĩ ác là tham lam, sân hận, si mê tà kiền như không tin nhân quả nghiệp báo, không tin tái sinh luân hồi, phỉ báng bậc Thánh.
     Đức Phật cho biết Ngài nhìn thấy luân hồi sinh tử của chúng sinh rõ ràng cũng như người đứng nhìn giọt mưa rơi xuống chỗ thấp chỗ cao, như bong bóng của nước mưa sinh ra rồi biến mất, như người đứng nhìn người qua lại v.v..., tất cả đều rõ ràng, không sai sót, không hư dối. Chúng ta nên tin lời Đức Phật nói, vì sao? Vì ngày nay: chuyện tái sinh không còn xa lạ nữa, chúng ta tiếp tục đọc đoạn Kinh kế tiếp xem Đức Phật nói gì?
II). DIÊM VƯƠNG HỎI CUNG:
     Người làm ác không làm lành khi chết bị Quỷ Sứ bắt dẫn đến Vua Diêm La, cũng gọi là Diêm Vương, Quỷ Sứ nói:
- Đại Vương nên biết! Đây là người mà Thiên Sứ bắt, người này trước kia thân miệng ý đều ác, lại không tạo phúc nghiệp, cúi xin Đại Vương hỏi cung xét xử.
1). HỎI CUNG VỀ SINH KHỔ:
     Lúc ấy, Diêm Vương đòi Thiên Sứ thứ nhất có mặt để kiểm tra, hỏi kỹ, quở trách tội nhân, rồi Diêm Vương hỏi tội nhân:
- Thế nào tội nhân kia! Đời trước ngươi làm thân Người không thấy hài nhi sinh ra rất đau đớn nguy khốn, nằm trong máu nước tanh hôi dơ bẩn, lại có hài nhi ra ngang ra ngược đau đớn muôn phần cho cả mẹ lẫn con, ngươi có biết không?
     Tội nhân đáp:
- Thực có biết, thưa Đại Vương.
     Diêm Vương nói:
- Ngươi biết hạnh thiết yếu của sự sinh, đó là làm lành tránh làm ác từ thân miệng đến ý, sao ngươi không làm?
     Tội nhân thưa:
- Đúng vậy Đại Vương, chỉ vì si mê chẳng phân biệt lành ác, tâu Đại Vương, tôi là kẻ ngu muội nên đã phạm tội, xin Đại Vương tha cho.
     Diêm Vương bảo:
- Ta biết ngươi quả là kẻ ngu si, nay ta hỏi tội trước, sau sẽ trị tội ngươi đã tạo ra ác nghiệp. Ác nghiệp của ngươi không phải do ông bà cha mẹ làm, không phải do người khác làm, mà do chính ngươi làm nên phải thụ báo hình phạt tương xứng.
2). HỎI CUNG VỀ GÌA KHỔ:
     Lúc ấy, Diêm Vương cho đòi Thiên Sứ thứ hai có mặt để kiểm xét, hỏi kỹ, quở trách, rồi Diêm Vương hỏi tội nhân:
- Trước kia ngươi há không thấy người già cả đầu bạc, răng rụng, mắt mờ, tai lãng, lưng còng, thân run, đi đứng khó khăn, phải chống gậy mà đi sao?
     Tội nhân đáp:
- Tâu đại Vương, có thấy.
     Diêm Vương lại hỏi:
- Ngươi đã thấy sao không nghĩ: “Ta sẽ cũng như vậy?”
     Tội nhân đáp:
- Vì lúc đó tôi mê mờ, buông lung, nên không tự biết, xin Đại Vương tha cho.
     Diêm Vương nói:
- Ngươi rõ ràng là ngu si không nhớ, buông lung không làm lành về thân miệng ý, lại ngu si làm các điều ác độc. Nay ta sẽ cho ngươi biết cái giá phải trả của sự ngu si buông lung. Tội tạo ra không phải là do tổ tiên làm, chẳng phải do quốc vương đại thần làm, cũng chẳng phải do ai làm, mà chính là do ngươi làm nên chính ngươi phải chịu tội.
3). HỎI CUNG VỀ BỆNH KHỔ:
     Lúc ấy, Diêm Vương cho đòi Thiên Sứ thứ ba để kiểm xét, hỏi kỹ, quở trách, rồi Diêm Vương hỏi tội nhân:
- Tội nhân, ngươi có thấy Thiên Sứ thứ ba không?
     Tội nhân đáp:
- Thưa Đại Vương, tôi không thấy.
     Diêm Vương hỏi:
- Trước kia, ngươi há không thấy người bệnh từ lớn chí nhỏ, đau đớn lăn lộn, rên rỉ khóc than đến nỗi không ăn uống nổi, thân thể tiều tụy gầy còm chỉ còn da bọc xương sao?
     Tội nhân đáp:
- Có thấy, thưa Đại Vương.
     Diêm Vương hỏi:
- Ngươi chẳng tự nghĩ rồi ngươi cũng như vậy sao?
     Tội nhân đáp:
- Thực vậy, nhưng lúc đó tôi chẳng nghĩ vì si mê buông lung.
     Diêm Vương nói:
- Ta cũng biết ngươi ngu si chẳng hiểu, nên ngươi đã không tu tập về thân miệng ý, không từ bỏ việc ác, nay ta xử tội để sau này ngươi không phạm nữa. Tội này chẳng phải do tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh em họ hàng làm, mà do chính ngươi làm nên ngươi phải tự chịu tội lấy, không ai thay thế ngươi được.
4). HỎI CUNG VỀ CHẾT KHỔ:
(Còn tiếp)


 
CÕI ĐỊA NGỤC
Toàn Không
(Tiếp theo) 
4). HỎI CUNG VỀ CHẾT KHỔ:
     Bấy giờ Diêm vương gọi Thiên Sứ thứ tư để kiểm xét, hỏi kỹ, quở trách, rồi Diêm Vương hỏi tội nhân:
- Ngươi có thấy Thiên Sứ thứ tư không?
    Tội nhân đáp:
- Không thấy, thưa Đại Vương.
     Diêm Vương nói:
- Trước kia, ngươi có thấy người chết rồi qua một hai ngày thân thể cứng đơ, cho đến sáu bảy ngày bị sình trương hôi thối; có khi vứt ngoài gò mả bị quạ mổ chó ăn, hoặc có nơi dùng lửa thiêu đốt, hoặc chôn dưới đất thịt tan thối rữa không?
     Tội nhân đáp:
- Có thấy, thưa Đại Vương.
     Diêm Vương lại hỏi:
- Từ đó, ngươi đã hiểu biết về cái chết, ngươi không nghĩ chính ngươi cũng sẽ chết, không thể tránh khỏi họa chết, để rồi làm các điều thiện từ thân miệng đến ý; tại sao ngươi lại làm ác cả thân miệng ý?
     Tội nhân đáp:
- Tôi có thấy người chết, nhưng tôi chẳng suy nghĩ nên chẳng thể biết được vì si mê.
     Diêm Vương nói:
- Ta cũng biết ngươi không biết pháp này, nay hỏi tội ngươi, sau sẽ trị tội để ngươi không tái phạm nữa. Tội ác này do ngươi làm, nên ngươi phải tự chịu. Chẳng phải tổ tiên ông bà cha mẹ làm, chẳng phải quỷ thần trời người khác làm, chẳng phải tri thức sa môn bà la môn làm, chẳng phải ta làm, mà chính là do ngươi tự làm nên phải tự chịu lấy.
5). HỎI CUNG VỀ VIỆC LÀM ÁC:
     Vua Diêm La lại kêu Thiên Sứ thứ năm đến hỏi kỹ, tra xét, quở trách tội nhân, rồi Diêm Vương hỏi tội nhân:
- Ngươi có thấy Thiên Sứ thứ năm không?
     Tội nhân đáp:
- Không thấy, thưa Đại Vương.
     Diêm Vương nói:
- Nguơi xưa làm người có thấy kẻ trộm tiền của đồ đạc của người khác, hoặc cướp bóc vàng bạc châu báu, giết người không? Ngươi có thấy những kẻ ấy bị bắt bị trói, bị nhốt trong cũi, bị đánh đập, bị chặt tay chặt chân, hoặc bị xiềng xích nhốt trong tù, hoặc bị treo cổ bêu đầu sao?
     Tội nhân đáp:
- Thưa Đại Vương, có thấy.
     Diêm Vương hỏi:
- Vậy sao ngươi còn cướp của giết người?
     Tội nhân đáp:
- Tôi thật ngu si, nên đã làm bậy, xin Đại Vương tha tội cho.
     Diêm Vương bảo:
- Ta tin lời ngươi ngu dốt, nay trị tội ngươi để sau không phạm nữa. Tội ấy chẳng phải do tổ tiên ông bà cha mẹ ngươi làm, chẳng phải do quốc vương đại thần làm, chẳng phải do nhân dân làm, mà chính là do ngươi tự làm tự chịu, không ai chịu thay ngươi được, ngươi phải chịu khổ nghiệp này.
     Nói xong, Vua Diêm La ra lệnh cho quỷ ngục dẫn tội nhân đem giam trong địa ngục.
LỜI BÀN:
     Đoạn Kinh trên nói về Vua Diêm La và Thiên Sứ hỏi cung tội nhân, ta nên tìm hiểu về các vị này:
- Thiên Sứ: Là vị chứng kiến cảnh tội nhân làm ác từ thân miệng đến ý. Đây là những bằng chứng khiến tội nhân không thể chối cãi khi hỏi cung.
- Vua Diêm La: Diêm Vương có hình thù đầu mặt thật dữ dằn, khiến tội nhân sợ khiếp đảm vô cùng nên tội nhân không dám nhìn thẳng. Trong Trường A Hàm, quyển 2, trang 347, Đức Phật kể chuyện về Diêm Vương như sau:
     “Về phía Nam châu Diêm Phù Đề trong núi Kim Cang lớn, có cung thành Vua Diêm La vuông vức mỗi bề 6,000 do tuần (6,000 x 18 = 108,000 cây số), có 7 lớp tường thành, 7 lớp lan can, 7 lớp màng lưới, 7 lớp hàng cây, và vô số chim cùng ca hót líu lo.
     Tại chỗ Vua Diêm La ngự, ngày đêm ba thời tự nhiên có vạc đồng lớn xuất hiện; nếu vạc đồng xuất hiện ở nội cung thì Vua cảm thấy sợ hãi liền ra ngoài cung; nếu vạc đồng ra ngoài cung thì Vua sợ hãi liền đi vào nội cung. Nếu gặp, quỷ sứ bắt Vua Diêm La nằm trên bàn sắt nóng dùng móc sắt cậy vành miệng ra rồi đổ nước đồng sôi vào, khiến môi lưỡi, yết hầu, dạ dày tới ruột đều bị cháy; sau khi chịu hình phạt xong, nhà Vua lại cùng các thể nữ vui chơi, các đại thần cũng cùng hưởng phúc báo giống như thế.” 
     Xem như thế, được làm Vua Diêm La cũng chẳng có gì đáng ham, hưởng sung sướng với thể nữ rồi lại bị đổ nước đồng sôi vào miệng! Sướng khổ lẫn lộn như thế thật là khủng khiếp!
     Thảo nào, trong Tăng Nhất A Hàm, quyển 2, trang 213, Đức Phật nói:
- Các ông nên biết! Vua Diêm La nghĩ: “Chúng sanh ở thế gian vì mê lầm, không ý thức, nên thân làm ác, miệng nói ác, nghĩ điều ác. Do đó sau khi chết, ít có người không chịu khổ ở địa ngục. Nếu như chúng sinh ở thế gian cải đổi điều ác, làm điều lành, khi chết được đến cõi tốt, cõi trời, còn nếu tu hành tới nơi tới chốn sẽ được giải thoát an vui mãi mãi
     Rồi Vua Diêm La nói:
“- Ngày nào mà ta thoát khỏi khổ nạn này (khổ nạn làm Diêm Vương) và được sinh trong loài Người, đã được thân người, ta sẽ xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc áo Cà Sa, xuất gia học đạo, tu hành trong khuôn phép của Đức Như Lai, mong thoát khỏi luân hồi sinh tử khổ ải trầm luân.”
     Bởi vậy, chúng ta đang được làm thân Người, đó là điều quý giá vô cùng, nhưng nhiều người không biết “được làm thân người là quý giá”; Lại có nhiều người không biết đến Phật pháp, thật là tiếc thay; có người biết Phật pháp, nhưng lại lơ là không nhiệt tâm làm lành lánh ác, không chịu tu, thật là uổng thay. Đọc phần Kinh dưới đây mới thấy nỗi thống khổ của tội địa ngục biết nhường nào, và lúc vào địa ngục rồi thì đã quá trễ muộn để có thể làm những điều lành, chẳng thể làm gì được nữa; tất cả lúc ấy chỉ là buông xuôi chịu khổ trăm bề do nghiệp đưa đẩy, chúng ta cùng đọc để biết phần cảnh địa ngục dưới đây:
III). CẢNH ĐỊA NGỤC:
 (Còn tiếp)


CÕI ĐỊA NGỤC
Toàn Không
(Tiếp theo) 
III). CẢNH ĐỊA NGỤC:
     Kể từ khi Vua Diêm La ra lệnh cho Quỷ Sứ tống tội nhân vào địa ngục, thì tùy theo mỗi tội nặng nhẹ khác nhau mà phải vào địa ngục tương xứng. Trong Trường A Hàm, quyển 2, Phẩm Địa Ngục từ trang 313, nói:
     Giữa hai núi Kim Cang lớn là cảnh giới mờ mịt tối tăm âm u, trong đó có 8 đại địa ngục là:
1- Đại địa ngục Tưởng, 2 – Đại địa ngục Dây Đen,
3 – Đại địa ngục Đá Ép, 4 – Đại địa ngục Kêu La,
5 – Đại địa ngục Kêu La Lớn, 6 – Đại địa ngục Thiêu Nướng, 7 – Đại địa ngục Thiêu Nướng Lớn,
8 – Đại địa ngục Vô Gián.
     Mỗi đại địa ngục nêu trên lại có 16 địa ngục nhỏ.
1). ĐẠI ĐỊA NGỤC TƯỞNG:
     Đại địa ngục Tưởng có 16 địa ngục nhỏ, mỗi địa ngục nhỏ vuông vức mỗi chiều 500 do tuần (500 x 18 = 9,000 cây số). 16 địa ngục nhỏ là:
1 – Đn Cát Đen, 2 – Đn Phân Dãi, 3 – Đn 500 Cái Đinh, 4 – Đn Đói, 5 – Đn Khát, 6 – Đn Vạc Đồng Sôi, 7 – Đn Nhiều Vạc Đồng Sôi, 8 – Đn Đá Ép, 9 – Đn Máu Mủ, 10 – Đn Đong Lửa, 11 – Đn Sông Tro, 12 – Đn Rừng Đao Kiếm, 13 – Đn Búa Rìu, 14 – Đn Sài Lang, 15 – Đn Cây Lá Kiếm, 16 – Đn Lạnh Giá.
Tại sao gọi là ĐẠI ĐỊA NGỤC TƯỞNG?
     Gọi là Đại Địa Ngục Tưởng, vì chúng sanh trong ấy có móng tay mọc dài nhọn cứng sắc, có tâm sân hận, ý độc ác, nên cào cấu nhau, làm cho rách da xé thịt, thịt rơi máu đổ đến ngã lăn ra bất động, khiến họ tưởng đã chết. Nhưng rồi có cơn gió lạnh thổi đến làm cho thịt da sinh lành lại, sống lại, họ đứng dậy tự nghĩ và nói:
- Nay ta đã sống lại.
     Chúng sanh tội nhân khác cũng nói:
- Ta cũng nghĩ là ngươi đã sống lại, không chết.
     Những chúng sinh ở trong Đại Địa Ngục Tưởng lâu dài, sau được ra khỏi, chúng sanh hoảng hốt chạy càn, mong thoát nạn, nhưng vì tội ác quá khứ lôi kéo, nên vào địa ngục Cát Đen.
1. ĐỊA NGỤC CÁT ĐEN:
Tại sao gọi là địa ngục Cát Đen?
     Vừa vào trong, liền có gió nóng thổi tới, cát đen nóng bỏng bay bám dinh chặt vào đầu mặt tay chân thân thể. Cát nóng thiêu đốt da thịt, rồi lửa đen bộc phát thiêu đốt tới tận tim gan, xương tủy, tội nhân đau đớn vô cùng, vì nhân làm ác phải chịu quả báo độc dữ, nhưng vẫn không chết được. Cứ như thế thụ khổ lâu dài trong ấy, rồi sau được ra khỏi ngục Cát Đen, mừng rỡ chạy trốn, mong tìm nơi an toàn. Nhưng vì tội còn nặng lại sa vào địa ngực Phân Dãi.
2. ĐỊA NGỤC PHÂN DÃI:
Tại sao gọi là địa ngục Phân Dãi?
     Trong ngục lầy lội phân nước tiểu, đờm dãi ghê tởm, mùi hôi tanh, thối tha nồng nặc phát khiếp, tại nơi đây có một loại trùng mỏ sắt cắn da thịt tội nhân để ăn tới tận xương tủy. Mới đầu chúng ăn chân, sau lên tới đùi, rồi lên tới bụng, tới ngực, cho tới đầu, thật đau đớn cùng cực, nhưng vì nghiệp ác chưa hết, nên chưa chết được.
     Sau một thời gian lâu dài chịu khổ như thế, tội nhân được ra khỏi ngục Phân Dãi; vừa ra khỏi, tội nhân liền chạy càn trốn nạn, nhưng bất ngờ lại sa vào địa ngục 500 Đinh Sắt.
3. ĐỊA NGỤC 500 ĐINH SẮT:
Tại sao gọi là Địa Ngục 500 Đinh Sắt?
     Tội nhân vừa tới nơi, ngục tốt liền đánh văng lên bàn sắt, rồi bị căng chân tay ra và đóng 500 cái đinh lớn khắp chân tay đầu mình không chừa chỗ nào; tội nhân đau đớn kêu khóc thảm thiết, nhưng vì tội ác chưa hết, nên không thể chết được.
     Chịu khổ ở đó lâu dài, sau được cho ra, đã tưởng an thân, tìm nơi nương tựa yên ổn, ai ngờ lại vào địa ngục Đói.
4. ĐỊA NGỤC ĐÓI:
Tại sao gọi là Địa Ngục Đói?
     Tội nhân bấy giờ cảm thấy đói quá, trong bụng rỗng tuếch, chỉ muốn ăn, Ngục tốt hỏi:
- Ngươi đến đây cầu gì?
     Tội nhân đáp:
- Đói quá, tôi muốn ăn.
     Tức thì ngục tốt cầm tội nhân quăng lên bàn sắt nóng, đè nằm ngửa xuống, dùng móc sắt cạy vành miệng tội nhân ra, rồi bỏ hòn sắt nóng đỏ vào, khiến miệng, lưỡi, cổ họng, dạ dày cháy tiêu; tội nhân đau đớn cùng cực, dẫy dụa kêu la khằng khặc, nhưng vì tội xưa chưa sạch, nên không chết được.
     Ở trong ngục ấy lâu dài, chịu khổ triền miên, sau được tha ra khỏi, vội chạy trốn cho mau, mong cầu cứu giúp, chẳng ngờ lại sa vào địa ngục Khát.
5. ĐỊA NGỤC KHÁT:
Tại sao gọi là Địa Ngục Khát?
     Tại nơi này, ngục tốt vừa thấy tội nhân, liền hỏi:
- Ngươi đến đây muốn cầu gì?
     Vì trải qua thời gian lâu dài bị nuốt những viên sắt nóng, nên lúc đó tội nhân cảm thấy khô cổ, khát nước vô cùng, nên vội nói:
- Khát quá, tôi muốn uống nước.
     Lập tức, ngục tốt ấy liền nắm tội nhân đặt đè nằm ngửa trên bàn sắt, cũng dùng móc sắt gàng miệng tội nhân há to ra, rồi đổ nước đồng sôi vào, làm cháy cả môi lưỡi, yết hầu, bao tử, cho đến ruột; tội nhân đau đớn muôn phần, rên la thảm thương, nhưng vì tội cũ chưa hết nên không thể chết được; thọ khổ lâu dài ở đó, sau tội nhân được ra khỏi địa ngục Khát, lại vào địa ngục Một Vạc Đồng Sôi.
6. ĐỊA NGỤC MỘT VẠC ĐỒNG SÔI:
Tại sao gọi là Một Vạc Đồng Sôi?
     Vì vừa thấy tội nhân, ngục tốt liền nổi cơn thịnh nộ, nắm ngang hông tội nhân quẳng vào vạc đồng đang sôi sùng sục. Tội nhân theo nước đồng sôi trồi lên lộn xuống, đau đớn kêu la thê thảm, vì tội ác chưa hết nên không thể chết được.
     Ở trong ngục ấy lâu dài, bị hành hạ như thế đều đều, sau cũng được tha, ra khỏi đó đã tưởng thoát thân, ngờ đâu lại tự dẫn vào địa ngục Nhiều Vạc Đồng Sôi.
7. ĐỊA NGỤC NHIỀU VẠC ĐỒNG SÔI:
Tại sao gọi là Nhiều Vạc Đồng Sôi?
     Ngục tốt vừa thấy mặt tội nhân, liền nắm ngang hông ném vào vạc đồng sôi thứ nhất, rồi dùng câu liêm, móc câu, móc tội nhân từ vạc thứ nhất bỏ vào vạc thứ hai, rồi móc bỏ vào vạc thứ ba. Cứ như thế làm mãi cho đến vô số vạc đồng sôi, tội nhân chết đi sống lại, kêu gào thảm thiết vô cùng!
     Sau một thời gian lâu dài, tôi nhân bị móc từ vạc này bỏ vào vạc khác không ngưng nghỉ như thế, tội nhân được cho ra, nhưng vì nghiệp ác chưa hết, nên bị nghiệp dẫn dắt vào địa ngục Cối Xay.
8. ĐỊA NGỤC CỐI XAY:
Tại sao gọi là Địa Ngục Cối Xay?
     Tội nhân vừa bước vào cửa, ngục tốt trông thấy liền nổi thịnh nộ, bắt tội nhân quăng lên tảng đá lớn bằng phẳng, rồi lấy tảng đá bằng phẳng to lớn khác đè lên, xong xoay tảng đá ở trên, xoay tới xoay lui như cối xay, khiến tay chân đầu mình, máu me xương thịt tội nhân bị nghiền nát. Thật là khủng khiếp vô cùng!, như thế mà vẫn chưa chết, vì tội xưa chưa hết, chỉ ngưng xay là thân tội nhân trở lại bình thường.
     Thọ khổ qua thời gian lâu dài như thế, tội nhân được ra khỏi đó, hoảng hốt chạy càn mong thoát nạn, nhưng bị nghiệp lôi, nên sa vào địa ngục Máu Mủ.
9. ĐỊA NGỤC MÁU MỦ:
Tại sao gọi là Địa Ngục Máu Mủ?
     Trong địa ngục này tự nhiên có máu mủ tanh hôi nóng sôi sùng sục, tội nhân chạy tới chạy lui qua lại vì nóng quá, nên bị máu tanh nóng đốt từ chân lên đến đầu, thịt rữa ra chỉ còn xương, đau đớn kêu gào, không thể chịu nổi, vì tội cũ chưa hết nên chẳng thể chết được.
     Sau một thời gian chịu khổ lâu dài, tội nhân ra khỏi địa ngục Máu Mủ, trốn chạy mong tìm chỗ nương tựa an ổn, nhưng lại bị nghiệp kéo, nên bất ngờ lại đến địa ngục Đong Lửa.
10. ĐỊA NGỤA ĐONG LỬA:
Tại sao gọi là Địa Ngục Đong Lửa?
     Trong địa ngục này có một đống lửa lớn cháy hừng hực, ngục tốt bắt tội nhân cầm cái đấu bằng sắt múc lửa để đong đống lửa ấy; khi múc lửa, chân tay, mình mẩy tội nhân đều bị lửa cháy sém, đau đớn vô cùng, khóc lóc kêu than mà vẫn phải làm vì tội chưa hết; thụ khổ một thời gian lâu dài ở đó, rồi tội nhân được ra khỏi, nhưng vẫn bị nghiệp lực ác xưa dẫn vào địa ngục Sông Tro.
11. ĐỊA NGỤC SÔNG TRO:
Tại sao gọi là Địa Ngục Sông Tro?
     Tại nơi đây tối om, nước đen ngòm, sôî sùng sục, chảy cuồn cuộn, độc khí phừng phực xông lên, âm vang thật đáng sợ, từ dưới gươm giáo nhọn hoắt chĩa lên, hai bên bờ sông có rừng kiếm, có ngục tốt và thú dữ nữa. Tội nhân ở trong sông trồi lên hụp xuống theo sóng nước, bị gươm giáo đâm xỉa khiến da thịt nát tan, đau đớn cùng cực, kêu la rùng rợn, vì tội báo chưa hết nên chưa thể chết được.
     Chịu khổ trong Sông Tro một thời gian lâu dài, tội nhân được ra, vội chạy càn, mong cầu cứu hộ, nhưng lại bị nghiệp kéo nên lại sa địa ngục Rừng Đao Kiếm.
12. ĐỊA NGỤC RỪNG ĐAO KIẾM:
Tại sao gọi là Địa Ngục Rừng Đao Kiếm?
     Vừa bước vào là cả một rừng đao kiếm đụng da xẻ thịt, lại có chó dữ đuổi cắn lôi, tội nhân vội trèo leo lên cột trốn, vừa thoát khỏi chó dữ lại bị gươm đao từ trên chĩa xuống, còn có chim mỏ sắt mổ mắt mổ đầu; tội nhân vội tụt xuống lại bị đao kiếm ở dưới chĩa lên đâm xỉa, thân thể nát tan, chẳng còn chỗ nào nguyên vẹn, thật là đau đớn muôn phần, nhưng vì tội chưa sạch nên chưa thể chết được; thọ khổ lâu dài như thế, sau được ra vội chạy cho xa, nhưng lại lọt vào địa ngục Búa Rìu.
13. ĐỊA NGỤC BÚA RÌU:
Tại sao gọi là Địa Ngục Búa Rìu?
     Tội nhân vừa vào liền bị ngục tốt nắm đầu đè trên bàn sắt nóng, dùng búa rìu chặt chân, chặt tay, cắt tai, xẻo mũi; tội nhân đau đớn vô cùng, khóc kêu thê thảm, nhưng tội ác vẫn còn nên không thể chết được.
     Sau thời gian chịu khổ lâu dài, tội nhân được ra khỏi nơi đó, hoảng hốt chạy liều mong cầu thoát khỏi nạn khổ đau, nhưng bởi tội cũ kéo lôi, bất ngờ lại sa vào địa ngục Sài Lang
14. ĐỊA NGỤC SÀI LANG:
Tại sao gọi là Địa Ngục Sài Lang?
     Địa ngục Sài Lang có đủ thứ chó sói to lớn hung dữ, tranh nhau cắn xé chân tay, thân người đầu mặt đều bị chúng xúm vào cắn xé kéo lôi, làm cho thịt da nát tan, đau đớn cùng cực, thét kêu thảm thiết, nhưng vẫn chưa chết được; chịu đau khổ lâu dài ở đó, tội nhân sau thoát khỏi địa ngục Sài Lang, nhưng bất ngờ lại đến địa ngục Rừng Cây Lá Kiếm.
 15. ĐỊA NGỤC RỪNG CÂY LÁ KIẾM:
Tại sao gọi là Địa Ngục Rừng Cây Lá Kiếm?
     Tại đây, có những cơn gió rít thổi giật từng hồi, làm cho rừng cây lá bằng sắt sắc như gươm đao rơi rụng bay tứ tung như tên bắn. Những lá sắt ấy bay chạm đâu đứt đó, khiến da thịt, tai mũi, tay chân tội nhân rơi lả tả như sung rụng; chưa hết, lại có quạ mỏ sắt mổ đầu mổ mắt, moi ruột moi gan, tội nhân kêu la thảm thương vẫn không chết được; tội nhân chịu đau khổ như thế lâu dài, sau được ra khỏi, đã tưởng thoát nạn, lại bị nghiệp lực dẫn nên chạy lọt vào địa ngục Băng Giá.
16. ĐỊA NGỤC BĂNG GIÁ:
Tại sao gọi là Địa Ngục Băng Giá?
     Ở trong đó, gió buốt từng cơn thổi liên tiếp không dứt, khiến tội nhân lạnh thấu xương tủy, da thịt tê cứng nứt nẻ, máu mủ rướm ra rồi khô cứng lại như đá; tội nhân đau đớn vô ngần, kêu gào không thành tiếng nữa, mệt mỏi đến chết đi, đến đây, tội nhân mới thoát nạn, và được chết ở địa ngục.   
 2). ĐẠI ĐỊA NGỤC DÂY ĐEN:
 (Còn tiếp)

__._,_.___

Posted by: Tien Do 
__._,_.___

Posted by: Tien Do 

__._,_.___

Posted by: Tien Do 

Featured Post

Phân biệt quả dưa hấu có giống đực và giống cái.

Subject:   Phân biệt quả dưa hấu có giống đực và giống cái. Ăn dưa hấu nhiều nhưng bạn đã biết loại quả này có giống đực và giố...

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List