Popular Posts

Showing posts with label Dân Chủ Ca. Show all posts
Showing posts with label Dân Chủ Ca. Show all posts

Friday, February 5, 2016

Văn tế Ài Nam Quan

----- Forwarded Message -----
From: "HungThe
To:
Sent: Thursday, February 4, 2016 9:16 AM
Subject: [VN-TD] Fw: Gửi Trọng Lú và đồng bọn: Văn tế Ài Nam Quan

 
          Kính chuyển quývị xin tiếp phổ biến, Văn Tế AỉNamQuan, T/g văn thi quân đội ChuTấtTiến, ht

----- Forwarded Message -----
From: Bac Ky Di Cu wrote
To:
Sent: Thursday, February 4, 2016 8:20 AM
Subject: Gửi Trọng Lú và đồng bọn: Văn tế Ài Nam Quan

Nếu Trọng Lú và đồng bọn còn chút đỉnh lương tâm, thì hãy đọc bài này, viết từ năm 2006.

VĂN TẾ ẢI NAM QUAN

                                    Chu Tất Tiến

Không nỗi đau nào bằng nỗi đau mất nước
Không nước mắt nào nặng bằng nước mắt trong tim
Không nhục nhã nào bằng đất nước đắm chìm
Trong nô lệ, cùm gông quân ngoại quốc
Mà lực không còn, hai tay tê buốt
Không làm được gì cho đất nước, giang san
Khi nhớ lại những năm xưa, hùng tráng băng ngàn
Đất nước chuyển mình, rùng rùng ngựa chạy
Chiêng trống dồn vang, bùng bùng lửa cháy
Hàng vạn tên bay, lao thương vùng vẫy
Quân bạt ngàn, như đổ thác, tuôn mây
Tiếng hò la kinh sợ cả rừng dầy
Tiếng ngựa hí, voi gầm như bỏng rẫy
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
         ****
Than ôi!
Trời sinh dân Việt anh hùng, anh thư
Nhưng cũng sinh một lũ lòng lang, dạ thú
Rước voi dầy mồ tổ,
Cõng rắn cắn gà nhà
Ải Nam Quan xưa, từng oanh liệt hiên ngang
Thác Bản Giốc nọ, từng ngời ngời ánh sáng
Chứng kiến cảnh quân Tầu chạy bạt ngàn thục mạng
Tiếng hò reo vang dội, rỡ ràng
Từng nghe lão tướng Phi Khanh trầm giọng, căm hờn:
“Con hãy về đi, trả nợ giang sơn
Lấy đất nước, lịch sử mình làm trọng
Mạng sống mất còn, không là gánh nặng
Chỉ sợ nhục nhằn, nô lệ muôn năm.”
Cũng nơi đây, Nguyễn Trãi cúi gầm
Thề tiêu diệt giặc xâm lăng gian ác
Vậy mà,
Ngày nay,
Cũng phường Việt Nam gian ác
Bán đứng giang sơn cho lũ giặc bên Tầu
Trời buồn đất thảm, cây cỏ âu sầu
Lệ rơi ướt trên thân, trên lá
Ải Nam Quan ơi, xưa ngươi uy nghiêm chi lạ
Hùng vĩ góc trời,
Oai vệ bao đời.
Ngươi đã đứng từ thuở Vua Hùng dựng cõi
Đến Triệu, Trưng, Lê Lợi vẫn khơi khơi
Rồi Lý, Trần, rồi Nguyễn Huệ
Ngươi vẫn đó, bể dâu không kể
Nắng táp, mưa sa, ngươi vẫn hiên ngang khí thế
Cho muôn đời sau ngưỡng mộ bộn bề
Vậy mà,
Than ôi!
Lịch sử không ngờ lại có một đời
Ngươi bị bán đứng cho kẻ thù truyền kiếp
Những kẻ lãnh đạo đã phá đất nước không thương tiếc
Chặt cây, phá rừng, bán đồ cổ, trống chiêng
Chúng hủy hoại môi trường, bẩn đục môi sinh
Đào xới mộ tổ tiên, kiếm vàng, tìm bạc
Diệt rừng nguyên sinh, thú muông tan tác
Lụt vỗ tràn bờ, dân chạy tan hoang
Kẻ nhặt lá ăn, người vớ cỏ dại trên ngàn
Thân thể trần truồng, sống như thú dữ
Giờ chúng lại bán ngươi cho phường quỷ dữ
Luôn nuôi mộng xâm lăng, chiếm đất, cướp thành
Chỉ mong cho chúng yên lành, đạp dân, hưởng thụ
Trời sẽ có ngày không tha
Đất sẽ có ngày không thứ
Ta chỉ có hai bàn tay không
Đành cúi đầu mà nước mắt lưng tròng
Dâng lên ngươi một nén hương lòng vĩnh biệt
Ải Nam Quan ơi! Ải Nam Quan ơi!
Đã xa ngươi ngàn vạn dặm
Lại mất ngươi hàng thế kỷ thăng trầm
Phẫn nộ, bi ai,
Hờn căm, tê tái
Xin tạ tội với ngươi
Tạ tội với muôn đời
Lạy Vua Hùng, chúng con bất tài, vô tướng
Lạy Ải Nam quan, chúng ta vô hậu, bất lương
Nén hương  này, xin ngàn thu vĩnh biệt

                                    Chu Tất Tiến, 2006






__._,_.___

Posted by: Phu Van <

Thursday, November 12, 2015

Chuyện tình cảm động ít người biết của bà Aung San Suu Kyi của Miến Điện



----- Forwarded Message -----
From: BAN DIEU HOP VNSN <
To: "vn-share-news
Sent: Wednesday, November 11, 2015 11:22 AM
Subject: [VN-SHARE-NEWS] Chuyện tình cảm động ít người biết của bà Aung San Suu Kyi của Miến Điện

Inline image 1




Chuyện tình cảm động ít người biết của bà Aung San Suu Kyi của Miến Điện

Rebecca FraynNgoc Nhi Nguyen dịch - Telegraph
06:08' PM - Thứ tư, 11/11/2015
Khi tôi bắt đầu nghiên cứu một kịch bản phim về bà Aung San Suu Kyi bốn năm trước, tôi không bao giờ nghĩ mình lại sẽ khám phá ra 1 câu chuyện tình yêu vĩ đại của thời đại chúng ta. Tuy nhiên, những gì đáng chú ý là một câu chuyện tình rất lãng mạn - nhưng cũng rất đau lòng - giống như một tình sử Hollywood: một cô gái sắc sảo xinh đẹp từ phương Đông gặp một thanh niên đẹp trai và đam mê từ phương Tây.


Đối với Michael Aris đó là 1 mối tình sét đánh, và cuối cùng ông cầu hôn bà Suu Kyi giữa những ngọn núi phủ tuyết trắng của Bhutan, nơi ông đã được mướn làm gia sư cho gia đình hoàng gia của Bhutan. Trong 16 năm sau đó, cô Suu Kyi trở thành người vợ tận tụy của ông và mẹ của hai đứa con trai, cho đến khá tình cờ cô bị bị cuốn vào chính trị trên một chuyến đi ngắn tới Miến Điện, và không bao giờ trở về nhà nữa. Buồn thay, sau 10 năm vận động để cố gắng giữ cho vợ an toàn, ông Michael chết vì ung thư mà không bao giờ được phép nói lời vĩnh biệt.

Tôi cũng phát hiện ra rằng lý do không ai biết về câu chuyện này là do Tiến sĩ Michael Aris đã làm tất cả để giữ cho gia đình của ông không bị đưa ra công chúng. Ngày nay con trai của họ đã lớn - và Michael đã chết - bạn bè và gia đình của họ cảm thấy đã đến lúc để nói chuyện một cách cởi mở, và rất hãnh diện, về vai trò quan trọng của ông, mà bấy lâu nay ít ai biết đến.

Là con gái của một anh hùng vĩ đại, tướng Aung San, người đã giải phóng Miến Điện ra khỏi ách thống trị của thực dân Anh và Phát xít Nhật, người đã bị ám sát khi cô chỉ có hai tuổi, Suu đã được mẹ nuôi dạy với một ý thức mạnh mẽ về di sản chưa hoàn thành của cha cô, vì ông đã bị ám sát và thay thế bởi chính quyền độc tài. Năm 1964, cô đã được mẹ gửi đi học ở nước ngoài để nghiên cứu về Chính trị, Triết học và Kinh tế học tại Oxford, nơi người giám hộ của gia đình, ông Gore-Booth, giới thiệu cô với Michael. Ông Michael là nhà nghiên cứu lịch sử tại Durham nhưng đã luôn luôn có một niềm đam mê cho Bhutan - và ở Suu ông đã tìm thấy sự thể hiện lãng mạn của tình yêu lớn của mình cho Đông Phương. Nhưng khi cô chấp nhận lời cầu hôn của ông, cô đã giao trước: nếu đất nước của cô cần đến cô, cô sẽ phải ra đi. Và Michael sẵn sàng đồng ý.


Cô sinh viên San Suu Kyi

Nhà nghiên cứu lịch sử Michael và San Suu Kyi
Trong 16 năm kế tiếp, Suu Kyi đã giấu đi sức mạnh phi thường của bà và trở thành bà nội trợ hoàn hảo. Khi hai cậu con trai, Alexander và Kim, được sinh ra bà đã trở thành một người mẹ rât tỉ mỉ, lưu ý từng bữa tiệc sinh nhật tổ chức thật chu đáo cho con và những bữa ăn hàng ngày nấu rất tinh xảo. Nhiều khi bà làm cho các bạn bè nữ của mình phải phát bực, khi bà khăng khăng đòi ủi vớ cho chồng và tự tay lau dọn mọi thứ trong nhà mình.
Rồi một buổi tối yên tĩnh vào năm 1988, khi con trai của bà lúc đó 12 và 14 tuổi, khi bà và Michael ngồi đọc sách trong nhà tại Oxford, họ đã bị gián đoạn bởi một cuộc gọi điện thoại cho biết mẹ của Suu Kyi đã bị đột quỵ.


Bà ngay lập tức bay đến Rangoon trong 1 chuyến viếng thăm dự định độ 2 tuần, chỉ để thấy một thành phố trong tình trạng hỗn loạn. Một loạt các cuộc đối đầu bạo lực với quân đội đã đưa đất nước Miến Điện đến chỗ bế tắc, và khi bà vào Bệnh viện Rangoon để chăm sóc cho mẹ , bà thấy cả bênh viện đầy nghẹt các sinh viên bị thương và chết , vì bị bắn khi đi biểu tình. Kể từ khi các cuộc họp công cộng bị cấm, bệnh viện đã trở thành trung tâm điểm của một cuộc cách mạng không có thủ lĩnh, và tin con gái của vị anh hùng dân tộc đã trở về Miến Điện lan tỏa nhanh như 1 trận cháy rừng.
Khi một đoàn đại biểu của các trí thức đến mời bà Suu Kyi đứng ra lãnh đạo phong trào dân chủ, bà đã đồng ý, nghĩ rằng một khi một cuộc bầu cử được tổ chức, bà sẽ được tự do để quay trở lại Oxford. Chỉ hai tháng trước đó bà là một bà nội trợ tận tụy, bây giờ lại dẫn đầu một cuộc nổi dậy của quần chúng chống lại một chế độ man rợ.
Ở Anh, Michael lo lắng vô cùng vì chỉ có thể theo dõi các tin tức của bà khi bà đi khắp nơi vận động cho dân chủ tại Miến Điện, tiếng tăm của bà tăng vọt, trong khi quân đội quấy rối bà từng bước đi và nhiều thành viên trong nhóm của bà bị bắt và bị tra tấn. Ông bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi rằng bà có thể bị ám sát giống như cha của mình. Và khi năm 1989 bà bị quản thúc tại nhà, an ủi duy nhất của ông là nó ít nhất có thể giúp giữ cho vợ mình an toàn tánh mạng.
Michael bây giờ đáp lại tất cả những năm Suu đã dành cho ông với một lòng vị tha đáng quý của người chồng, bắt tay vào một chiến dịch cao cấp để thiết lập bà như là một biểu tượng quốc tế để quân đội Miến không dám hãm hại. Tuy nhiên, ông đã cẩn thận để giữ cho công việc của mình kín đáo, bởi vì một khi bà nổi lên như là lãnh đạo của một phong trào dân chủ mới, quân đội sẽ lợi dụng việc bà đã kết hôn với người nước ngoài làm cơ sở cho một loạt các bài viết, thông tin đánh phá - và thường mang tính tình dục thô tục - để xuyên tạc bà trên báo chí Miến Điện.
Trong năm năm tới, khi 2 con trai của bà đã lớn thành những người thanh niên trẻ, bà Suu Kyi vẫn còn bị quản thúc tại nhà và lưu giữ trong sự cô lập. Bà duy trì tinh thần bản thân bằng cách học ngồi thiền, đọc rộng rãi về Phật giáo và nghiên cứu các tác phẩm của Mandela và Gandhi. Michael đã được cho phép chỉ có hai lần trong thời gian đó được thăm vợ. Tuy nhiên, đây là một loại tù đặc biệt, vì bất cứ lúc nào Suu có thể yêu cầu được đưa tới sân bay và bay về với gia đình, miễn là bà chịu từ bỏ đấu tranh .
Nhưng cả hai đều không bao giờ dự tính làm một điều như vậy. Trong thực tế, là một nhà sử học, dù ông Michael đau đớn vì nhớ vợ và tiếp tục gây sức ép chính trị đằng sau hậu trường, ông đã biết bà là một phần của lịch sử đang hình thành của Miến Điên. Ông giữ trên màn hình điện thoại di động của mình cuốn sách vợ đã đọc khi bà nhận được cuộc điện thoại của gia đình gọi về Miến Điện. Ông trang trí các bức tường trong nhà với các giải thưởng bà đã được trao về nhân quyền, trong đó có giải Nobel Hòa bình năm 1991. Và trên đầu giường của mình, ông treo một bức ảnh lớn của vợ.
Trong nhiều khoảng thời gian dài khi không có thông tin liên lạc gì, ông lo sợ Suu có thể đã chết, và chỉ khi nghe được báo cáo từ người dân đi ngang qua nhà bà còn nghe thấy tiếng đàn piano do bà chơi vẳng ra mới khiến ông yên tâm . Tuy nhiên, khi độ ẩm của Đông Nam Á cuối cùng cũng phá hủy cây đàn piano, thì thậm chí bảo đảm mong manh này cũng đã bị mất đi.
Sau đó, vào năm 1995, Michael khá bất ngờ nhận được một cú điện thoại từ Suu. Bà đã được tin nhắn từ Đại sứ quán Anh. Bà đã được cho phép gặp người thân! Michael và các con đã được cấp thị thực và đã bay tới Miến Điện. Khi Suu thấy Kim, con trai của bà, bà đã rất ngạc nhiên khi thấy cậu đã trở thành một người đàn ông trẻ tuổi. Bà thừa nhận bà có thể không nhận ra con trên đường phố. Nhưng Suu đã trở thành một người phụ nữ hoàn toàn thay đổi , bà đã là chính trị gia có tầm cỡ, những năm tháng bị giam trong cô lập đã hun đúc cho bà một quyết tâm sắt đá, và bà đã quyết định ở lại đất nước của mình để đấu tranh, ngay cả khi cái giá phải trả là phải vĩnh viễn xa chồng con.
Nhà báo Fergal Keane, người đã gặp Suu nhiều lần, mô tả bà là người có một tâm hồn thép. Ông cho biết chính sự can trường thầm lặng này của bà đã khiến ông phải nể phục khi ông tìm hiểu về bà để viết kịch bản cho bộ phim The Lady. Câu hỏi đầu tiên nhiều phụ nữ hỏi khi họ nghe câu chuyện của Suu là làm thế nào bà có thể chấp nhận rời xa những đứa con của mình. Ông đã nói đơn giản: " Bà ấy đã làm những gì bà phải làm." Bà Suu Kyi thường tránh nói về vấn đề này, mặc dù bà thừa nhận rằng những giờ phút đen tối nhất của bà là khi bà nghĩ " Các con tôi có thể đang cần tôi ".
Đó là năm1995, là lần cuối cùng Michael và Suu được phép gặp nhau. Ba năm sau, ông được biết ông bị ung thư giai đoạn cuối. Ông gọi cho vợ để báo tin xấu và ngay lập tức xin visa đi Miến Điện để ông có thể nói lời từ biệt với bà. Khi đơn xin của ông bị từ chối, ông đã liên tục xin thêm 30 lần nữa, trong khi sức khỏe ông xuống dốc nhanh chóng. Một số nhân vật nổi tiếng - trong đó có Đức Giáo Hoàng và Tổng thống Clinton - đã viết thư khiếu nại với chính quyền độc tài Miến, nhưng tất cả đều vô ích. Cuối cùng, một quan chức quân sự đến để gặp Suu. Họ cho phép bà đi gặp chồng nhưng với điều kiện bà phải từ bỏ đấu tranh và trở về sống ở Anh Quốc .
Sự lựa chọn âm thầm ám ảnh bà suốt 10 năm xa cách chồng con bây giờ đã trở thành một tối hậu thư rõ ràng: bà phải chọn giữa gia đình và tổ quốc. Bà đã rất đau lòng. Nếu bà rời khỏi Miến Điện, cả hai đều biết điều đó có nghĩa là lưu vong lâu dài - là tất cả những gì họ đã cùng nhau chiến đấu vì dân chủ tự do cho Miến Điện sẽ tiêu tan. Suu gọi cho Michael từ Đại sứ quán Anh hỏi ý kiến ông, và ông kiên quyết nói với bà đừng bao giờ nghĩ đến việc đó, ông nói bà cứ yên tâm đấu tranh cho quê hương.
Khi tôi gặp người em sinh đôi của Michael, ông Anthony, ông nói với tôi một điều ông chưa bao giờ nói với bất cứ ai trước đây. Ông nói rằng khi bà Suu Kyi nhận ra rằng bà sẽ không bao giờ nhìn thấy Michael một lần nữa, bà đã mặc chiếc váy màu ông thích nhất, gắn một bông hồng trên mái tóc của mình, và đã đi đến Đại sứ quán Anh, ghi lại một đoạn video nói lời chia tay với chồng, trong đó bà nói với ông rằng tình yêu ông dành cho bà là điểm tựa duy nhất trong bao nhiêu năm qua của bà. Đoạn video đó được chuyển lậu ra khỏi Miến Điện, nhưng khi đến được Anh Quốc thì ông Michael đã qua đời 2 ngày trước đó . Ông không được nhìn thấy mặt bà cũng không nghe được những lời cuối cùng của bà, sau hơn 10 năm xa cách .
Trong nhiều năm sau đó, khi hồ sơ nhân quyền của Miến Điện ngày càng xấu đi, dường như sự hy sinh của gia đình Aris có thể là vô ích. Tuy nhiên, trong những tháng gần đây chính quyền quân đội độc tài cuối cùng đã công bố đồng ý thay đổi chính trị. Và 22 năm đấu tranh không ngừng nghỉ của bà Suu Kyi đã tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi này - khi nó thực sự xảy ra - cũng như Mandela đã thành công đấu tranh cho Nam Phi.
Giống như họ luôn vẫn tin , giấc mơ dân chủ của bà Suu Kyi và ông Micheal vẫn có thể trở thành hiện thực.

--

__._,_.___

Posted by: <vneagle_1

Sunday, September 15, 2013

Ðêm Đọc Cổ Thi


 

DanChuCa.org
kính mời Quý Vị và Các Bạn vào “links” sau đây để nghe bài hát:

Đêm Đọc Cổ Thi

DanChuCa phổ nhạc từ hai bài thơ dưới đây của tác giả Lý Đông A và Vô Ngã.

 

Nhân đây, DânChủCa cũng xin cảm ơn tác giả Viên Linh về bài viết giới thiệu: Nhà Thơ Vô Ngã Với “300 Năm Thơ Văn Cổ” mà DânChủCa xin đính kèm dưới đây cùng với hai bài thơ phổ nhạc.


 

Kính mời Quý Vị vào thăm trang nhà danchuca.org qua “link” sau đây:


 

Kính

DanChuCa.org

 




Ðêm Đọc Cổ Thi

Thơ: Lý Ðông A - Vô Ngã

Nhạc: Dân Chủ Ca

 

1.

Ðêm đọc cổ thi,
Chữ còn, chữ mất,
Trên vách tường,
Trăng múa thúy hoa.

Ðêm đọc cổ thi,

Người đi xa đã khuất,
Nhấn phím đàn,
Cất tiếng ly ca.

 

Ta vỗ án hét thành Ca Chính Khí
Một ngày lạnh, nước người không tri kỷ
Thấu buốt tận lòng người trong cốt tủy.

Ðông thê thê như gió thổi u hồn

Ta vỗ án hét thành Ca Chính Khí
Một ngày lạnh nước người không tri kỷ
Thấu buốt tận lòng người trong cốt tủy.

Ðông thê thê như gió thổi u hồn

 

2.

Ðêm đọc cổ thi,

Gió thổi thiết tha,
Lá trúc bay phơ phất,
Nắng thu vàng
Nay đã xưa xa.

 

Sông Bạch Ðằng sóng vỗ thuyền cắc cắc

Nước Mê Linh trăng thu còn vằng vặc
Ðồng Ðống Ða xương người phơi man mác.

Non Chi Lăng gió cuốn rừng cung đao
Chiều tịch dương chìm khuất,
Trên tơ đàn, tí tách mưa sa...

 

Ta vỗ án hét thành Ca Chính Khí
Một ngày lạnh, nước người không tri kỷ
Thấu buốt tận lòng người trong cốt tủy.

Ðông thê thê như gió thổi u hồn

 

Chiều tịch dương chìm khuất,
Trên tơ đàn, tí tách mưa sa...
Chiều tịch dương chìm khuất,
Trên tơ đàn, tí tách mưa sa...

 

Chính Khí Việt

Lý Ðông A

 

Một ngày lạnh, nước người không tri kỷ
Ta vỗ án hét thành ca chính khí
Ðông thê thê như gió thổi u hồn
Thấu buốt tận lòng người trong cốt tủy.

Nước Mê Linh trăng thu còn vằng vặc
Sông Bạch Ðằng sóng vỗ thuyền cắc cắc
Non Chi Lăng gió cuốn rừng cung đao
Ðồng Ðống Ða xương người phơi man mác.

 

Ðêm Đọc Cổ Thi

Vô Ngã

 

Ðêm đọc cổ thi,
Chữ còn, chữ mất,
Trên vách tường,
Trăng múa thúy hoa.
Người đi xa đã khuất,
Nhấn phím đàn,
Cất tiếng ly ca.

Gió thổi thiết tha,
Lá trúc bay phơ phất,
Nắng thu vàng
Nay đã xưa xa.
Chiều tịch dương chìm khuất,
Trên tơ đàn,
Tí tách
Mưa sa...

Nhà thơ Vô Ngã với ‘300 Năm Thơ Văn Cổ’

Viên Linh

 

“300 Năm Thơ Văn Cổ” là tiền đề của bộ sách do tác giả Vô Ngã Phạm Khắc Hàm viết và sửa lấy bằng nhu liệu Microsoft Word trên máy vi tính riêng của ông, trong một thời gian dài trên hai mươi năm, đọc tới sửa lui nhiều lần. Với chiều dài Lịch Sử Nền Ðộc Lập của nước ta từ sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Tầu (939, thế kỷ mười), qua Tiền Lê, Lý, tới hết Nhà Trần, (vài năm qua thế kỷ mười lăm), nội dung sách gồm hai bộ, bốn quyển, tổng cộng 1270 trang thơ văn của tiền nhân, nhà thơ Vô Ngã đã trao bản thảo cho tôi để in ấn càng sớm càng tốt.


Tôi đã làm ngay phần đầu cuối tuần qua, 370 trang sưu khảo và phẩm bình thơ văn của Nhà Ngô, Nhà Tiền Lê, và Nhà Lý. Sự việc này đã khiến tôi tới gần người bạn vong niên hơn nữa. Anh năm nay 86 tuổi, và chúng tôi đã đọc thơ văn cổ trong ánh sáng của lịch sử, mặc dù bên kia đường Lâm Truy, nẻo vào Vô Tích, dưới những ngọn đèn lồng trước cửa cao lâu xanh, mấy nhà học giả đạo mạo đang sướt mướt nâng xiêm áo ngạt ngào hương xả để ca ngợi tấm gương bán hoa mua sự yên thân cho lão Vương già.

Anh Vô Ngã Phạm Khắc Hàm viết về Thơ Văn Cổ như sau: “Qua thơ văn, ta sẽ thấy mỗi tác giả - thường là những nhân vật lịch sử - kể lại một mẩu chuyện về đời mình, khiến cho trang văn học trở thành những trang lịch sử sống động.”

“Như vậy, văn thơ (cổ) đã minh họa lịch sử,... các biến cố lịch sử luôn luôn là bối cảnh của văn thơ. Văn thơ và lịch sử đi đôi với nhau như bóng với hình như thế nên muốn hiểu rõ nội dung một bài thơ, ta cần biết rõ bối cảnh lịch sử của nó, và ngược lại, đôi khi nhờ thơ văn, ta có thể hiệu đính các sai lầm trong các sách viết về sử.” (tr.25, cuốn 1, Thơ Văn Ðời Ngô Lê Lý)

Bản văn cổ đầu tiên của bộ sách chỉ có 95 chữ, là “Ðại kế phá Hoàng Thao” của Ngô Quyền. Tác giả Phạm Khắc Hàm đã dịch từng chữ một, giải nghĩa hết 95 chữ, với chữ Hán in trước, rồi phiên âm sau mới dịch nghĩa. Sau đó là Lời Bàn, tổng cộng 16 trang khổ lớn. Mới nghe qua, người nghe tưởng sẽ rất khô khan; không phải, đó là 16 trang hứng khởi, hưng phấn, vừa giận vừa đau, vừa vui vừa sướng, đọc đến đâu hình ảnh chiến trận, trong trướng tham mưu, ngoài sông đỏ máu, hiện ra đến đó.

“Kế Lớn Phá Hoằng Thao”

“Hoằng Thao (chỉ là) một đứa trẻ ngốc mà thôi. Cầm quân (từ) xa lại, binh sĩ mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn (đã) chết, không (có) nội ứng, khí (thế của chúng) đã bị mất (ngay từ) trước. Chúng ta lấy sức (nhàn) đón (đánh) mỏi mệt, tất phá được chúng.

Tuy nhiên, (kẻ) kia lợi (thế) ở hạm đội, nếu không phòng bị trước việc đó, cục diện thắng bại chưa thể biết trước được.
Nếu trước đó, sai người trồng cọc lớn tại cửa biển, đầu vót nhọn, bịt sắt; thuyền kia theo (nước) triều lên, vào trong (chỗ đóng) cọc; nhiên hậu ta (sẽ) dễ dàng chế (ngự) chúng. Không có (kế nào) ngoài kế này.”

Chỉ có thế! Ðọc “Kế Lớn Phá Hoàng Thao” của Ngô Quyền (899-944) ta được biết thân thế người anh hùng làng Ðường Lâm, Giao Châu (vùng Sơn Tây), và lời ông nói với tướng sĩ kế sách phá tên Tướng Hoằng Thao ra sao, để sau này sông Bạch Ðằng trở thành nơi diễn ra trận đánh lịch sử, đưa dân tộc tới đài độc lập sau gần ngàn năm bị Bắc phương đô hộ. Lời Bàn nhắc đến đôi câu đối “Cột đồng tới giờ rêu chưa xanh / Sông Ðằng từ xưa máu còn đỏ,” mà tác giả Phạm Khắc Hàm sưu tầm, đem vào sách, để đưa ra nhận định rằng nội cái tên con sông ấy cũng đã làm Bắc phương phải nhục, vì nó đã trở thành câu đối đáp giữa sứ Ðại Việt và chức quyền Tầu sau này. Ðọc và viết về Thơ Văn Cổ Dân Tộc, theo ông, chính là ôn lại lịch sử. Thơ văn cổ chép sử, và nhân vật trong những áng văn xưa nhiều người là anh hùng dân tộc. Có thể có nhiều người biết như thế, song nói ra được, nói ra mà làm người ta tin, lại là một việc khác.

Tác giả Phạm Khắc Hàm dùng tên thật làm bút hiệu, khi làm thơ ký là Vô Ngã, sinh ngày 19 tháng 2, 1928 tại Phương Du, Yên Khánh, Ninh Bình, đỗ Tú Tài Toán (1948) tại trung tâm Yên Mô, Ninh Bình. Giáo sư trường Trung Học Tân Việt, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa (1949), sĩ quan Trừ Bị Khóa I Nam Ðịnh (1951), tác chiến trong Tiểu Ðoàn Biệt Lập 23, tại Quảng Bình (1951-54), tới năm 1956 giải ngũ, sang Pháp du học (1956), đậu Tiến Sĩ Vật Lý Vi Tử và Lý Thuyết (1964).

Về nước, ông dạy tại các Ðại Học Khoa Học Sài Gòn (1965-1981), Nông-Lâm-Súc Sài Gòn, Ðại Học Cần Thơ, Ðại Học Huế và Ðại Học Ðà Lạt (1968-75). Vượt biên, định cư tại Hoa Kỳ (tháng 8, 1981), hiện cư ngụ trong một ngôi nhà lưu động với vợ ông, Bác Sĩ Minh Châu. Cả hai đã về hưu. Với cuộc đời đã trải qua từ Ðông tới Tây, từ võ sang văn, từ khoa học vi-tử tới thơ vô ngã, con người ấy lại rất lặng lẽ, rất âm thầm, ngày ngủ, đêm thức, miệt mài nghiên cứu cổ thư, dõi bóng Lý Ðông A một triết gia kỳ bí của quê hương Ninh Bình, hồn hướng về ngọn Nga My vọng chân nhân cứu nước, lòng lưu vong mà thao thức khôn nguôi một đất nước tro than dấy mộng phượng hoàng:

 

Một ngày lạnh nước người không tri kỷ
Ta vỗ án hét thành ca chính khí
Ðông thê thê như gió thổi u hồn
Thấu buốt tận lòng người trong cốt tủy.

Nước Mê Linh trăng thu còn vằng vặc
Sông Bạch Ðằng sóng vỗ thuyền cắc cắc
Non Chi Lăng gió cuốn rừng cung đao
Ðồng Ðống Ða xương người phơi man mác.
(Lý Ðông A, Chính khí Việt)

 

Ðêm đọc cổ thi,
Chữ còn chữ mất,
Trên vách tường,
Trăng múa thúy hoa.
Người đi xa đã khuất,
Nhấn phím đàn,
Cất tiếng ly ca.

Gió thổi thiết tha,
Lá trúc bay phơ phất,
Nắng thu vàng
Nay đã xưa xa.
Chiều tịch dương chìm khuất,
Trên tơ đàn,
Tí tách
Mưa sa...
(Vô Ngã, Ðêm đọc Cổ thi)

 

Do niềm kính trọng đối với một nhà thơ tiền bối, một soạn giả Hán học uyên thâm, một người bạn vong niên có tầm nhìn sâu suốt, tôi viết những dòng này và nhận xuất bản cuốn sách cho anh. Tôi tin rằng “300 năm Thơ Văn Cổ” của Phạm Khắc Hàm là một bộ sách quí giá sẽ được hiện ra trong Tủ sách Văn học Dân tộc và người đọc chọn lọc đâu đó sau này. 

 


Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List