Popular Posts

Showing posts with label nhómngườiviệt. Show all posts
Showing posts with label nhómngườiviệt. Show all posts

Sunday, September 2, 2012

Montréal - Ngọn lửa đấu tranh

 

Kính chuyển đến quý đồng hương,

 

Bài nói chuyện của Bs. Cấn Thị Bích Ngọc trong Buổi nói chuyện về Nhân quyền ngày 30-08-2012 tại Centre Renaissance.

 

Ban Thông-tin

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia vùng Montréal

Trang mạng: http://www.vietnam.ca/

==

(Ghi chú: Bs. Cấn Thị Bích Ngọc đã trình bày vấn đề này trước tập thể người Việt Quốc Gia và cả người xem văn nghệ Đàm Vĩnh Hưng ở phía ngoài hội trường. Đây là một ý tưởng độc đáo vì đã trực diện đấu tranh và cảm hóa những người tưởng là làm từ thiện nhưng vô tình nối giáo cho giặc, quên đi nỗi thống khổ của đồng bào).

 

 

Ngọn lửa đấu tranh

 

 

Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần,

Quý hội đoàn cùng tất cả quý đồng hương.

 

Kính thưa quý vị, ngày hôm nay niềm xúc động đã vỡ òa trong tim tôi khi vừa đến Centre Renaissance. Sáu giờ chiều, trời vẫn trong xanh, sân đậu xe đã rực rỡ bao ngọn cờ vàng. Gió thật lồng lộng ngày hôm nay, gió đã thổi cờ bay phất phới, gió đã đưa niềm hy vọng lên tột đỉnh: sẽ có một ngày, ta cùng về Việt Nam không còn Cộng Sản, cùng hôn lại mãnh đất thân yêu, cùng nhau xây dựng lại đất nước từ những đổ nát gây nên bởi bọn CS bán nước.

 

Vâng hy vọng đã vươn lên khi tôi thấy đông đảo quý đồng hương nơi đây một chiều thứ năm trong tuần, để giương cao khí thế người Việt Quốc Gia. Điều này chứng tỏ rằng CSVN đã lầm khi nghĩ rằng thành phố Montréal là một thành trì lỏng lẻo khiến chúng có thể mập mờ đưa Nghị Quyết 36 vào gây chia rẽ Cộng Đồng chúng ta. Đàm Vĩnh Hưng hay một ca sĩ Cộng Nô nào khác đừng hòng đem tiếng hát của mình để khoả lấp những tiếng kêu thống khổ của người dân Việt lầm than tại quê nhà.

 

Xin cám ơn quý đồng hương, xin cám ơn những trái tim còn nặng tình dân tộc. Sự hiện diện của mỗi vị ở đây là một thông điệp hùng hồn về ý chí yễm trợ cuộc đấu tranh dân chủ tại quê hương của người Việt hải ngoại.

 

Kính thưa quý vị, trong hùng khí của buổi chiều nay, lẫn không khí trang nghiêm của buổi lễ tưởng niệm về sự ra đi oan khuất của bà Đặng Thị Kim Liêng, thân mẫu của nhà đấu tranh dân chủ Tạ Phong Tần, tôi xin được thắp một nén hương lòng bày tỏ lòng kính phục lẫn ngậm ngùi trước sự hy sinh cao cả của một người mẹ đau khổ nhưng can trường.

 

Thưa quý đồng hương, Ngọn lửa thiêu đốt thân bà Kim Liêng đã là ngọn lửa thắp sáng lương tâm nhân loại, một lần nữa thế giới lại được chứng kiến nỗi oan khiên của dân tộc chúng ta dưới ách Cộng Sản.

 

Ngọn lửa Bạc Liêu cũng là ánh đuốc soi đường đấu tranh cho toàn thể người dân Việt, trong và ngoài nước. Trong tinh thần này tôi xin được chia sẻ với quý vị những tâm tư của chúng tôi về tình hình đất nước hiện nay.

 

Chúng ta đều biết, sau 37 năm dưới sự thống trị của đảng CS, ngoài sự hào nhoáng giả tạo, thành tích lớn nhất của Đảng CSVN là tham nhũng, là độc tài, cướp đất, giết người, buôn dân, bán nước. Với guồng máy cai trị bằng bạo quyền, CSVN đã tước đoạt hết tất cả mọi quyền tự do căn bản của người dân. Những tiếng nói lương tâm, đòi tự do dân chủ  đều nhanh chóng bị bóp nghẹt

 

Vì thế, VN ngày nay đang là tâm điểm của bao thảm trạng đau lòng.

 

Nếu trong vũ trụ, con người và vạn vật có thể thông hiểu nhau, thì chúng ta sẽ nghe được tiếng rên siết hấp hối của những dòng sông đang giãy chết, của trùng trùng rừng núi Việt Nam đang cạn kiệt nguồn sinh lực vì ô nhiễm do một sự quản trị vô trách nhiệm của giới cầm quyền.

 

Và trong từng giây phút của mỗi ngày, chúng ta sẽ nghe được tiếng khóc than tuyệt vọng của những người dân VN bất lực trước cảnh nghèo đói cơ cực, cùng tiếng kêu đau đớn, tiếng hét hãi hùng của các em bé VN trong đông đảo các địa ngục trần gian tức các động mãi dâm ở Cam Bốt, Thái Lan…

 

Chúng ta cũng sẽ cảm nhận được sự uất ức của tổ tiên khi thấy nền đạo đức VN đang bị băng hoại trầm trọng,và chúng ta cũng sẽ nghe thấy những tiếng kêu than hờn oán của vô số các vong hồn bệnh nhân đã chết oan ức trong các bệnh viện quá tải ở VN. Tôi xin lỗi đã đưa ra những cảnh tượng thương tâm, có vẻ như là cường điệu, nhưng đó hoàn toàn là thực trạng quê hương chúng ta ngày nay. Và khi chúng ta chưa thật sự là nạn nhân thì chúng ta không thể nào thấm thía đúng mức sự thống khổ của đồng bào ruột thịt tại quê nhà.

 

Tương phản với đại đa số nhân dân lầm than, là tầng lớp lãnh đạo, một loại tư bản đỏ, chúng trấn lột dân lành bằng nhiều hình thức lọc lừa nên thừa tiền sống cực kỳ xa hoa, hoàn toàn lãnh đạm thờ ơ trước những tiếng kêu than thống thiết của người dân.

 

Ngoài ra, tình trạng ở quê hương yêu dấu ngày càng khẩn trương vì CSVN đang từ từ cắt xẻ dải giang sơn mà Cha Ông chúng ta đã gầy dựng bằng máu xương để dâng cho quan thầy Tàu Cộng. Đất nước VN quả đang bên bờ vực thẳm, nếu không có sự thức tỉnh và nhất trí của toàn dân  thì chẳng còn bao lâu nữa, VN chỉ còn là ký ức của một quốc gia đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới và dân tộc ta lại một lần nữa triền miên trong bóng tối nô lệ như lời cảnh báo của nhạc sĩ Việt Khang.

 

 

TUỔI TRẺ VIỆT NAM

 

Nhưng theo tôi thì VN quả là một linh địa, trong hoàn cảnh nguy ngập của đất nước thì luôn có những anh hùng, anh thư xuất hiện vì hào khí của Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Lê Lai luôn tiềm tàng trong tim của những người trẻ VN.

 

Ý thức được thảm họa mất nước cận kề, lần đầu tiên trong lịch sử dưới chế độ CS, năm 2007 thanh niên học sinh cùng giới trí thức trong nước đã cùng nhau xuống đường xác nhận ý chí bảo vệ giang sơn. Thay vì hoà mình, cỗ võ những tấm gương yêu nước này thì CSVN đã hết sức ra tay đàn áp.

 

Mặc dù vậy, cũng đã có 11 cuộc biểu tình diễn ra trong năm 2011, và gần đây nhất vào tháng 7 và tháng 8 vừa qua. Và đây chỉ là sự khởi đầu. Bọn cầm quyền bán nước đã ra sức đàn áp. Nhưng càng khủng bố những người yêu nước thì CSVN càng đẩy mạnh làn sóng ái quốc và sự thức tỉnh nơi giới trẻ.

 

Theo gót của tiền nhân Lý Thường Kiệt, tuổi trẻ VN đã  nêu cao ý chí dân tộc qua bài thơ Nam Quốc Sơn Hà thường được xuất hiện trong các cuộc biểu tình ở VN

 

Nam Quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

 

(Sông núi nước Nam, vua Nam ở,

Rành rành đã định ở sách trời,

Cớ sao chúng bay sang xâm phạm,

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời - BTT)

 

Và có thể nói công cuộc đấu tranh cho dân chủ tại quốc nội như một cuộc chạy tiếp sức mà những người tham dự là những người con quả cảm của dân tộc. Dẫu biết nguy hiểm đang chờ mình, nhưng họ vẫn hùng dũng tiến tới để mở ra một sinh lộ cho dân tộc. Một Lê Chí Quang, một Phạm Hồng sơn,  một Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn đã vào tù,  nhưng vẫn không làm chùn bước của những người đi sau.

 

Lại xuất hiện những Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển, Cù Huy Hà Vũ, Điếu cày Nguyễn Văn Hải, Hồ Thị Bích Khương, Tạ Phong Tần,  Phạm Thanh Nghiên, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức. Đây là những người con yêu của tổ quốc. Họ như những làn sóng, lớp sóng sau tiếp theo lớp sóng trước, không khuất phục, không nhân nhượng.

 

Và càng ngày càng nhiều gương mặt trẻ, nối gót cha anh,  thắp sáng con đường đấu tranh . Những anh hùng, anh thư  thời đại tiếp tục xuất hiện với Việt Khang, Nguyễn Tiến Trung, Đỗ Thị Minh Hạnh, Huỳnh Thục Vy, Trịnh Thị Kim Tiến và tất cả những Phù Đổng thiên Vương, Trần Quốc Toản còn đang trong bóng tối, chỉ đợi thời cơ cách mạng chín mùi sẽ vùng lên đáp lời sông núi.

 

Nhiều người đang bị trù dập dã man, nhưng bạo lực không thể uốn cong ý chí và lòng dũng cảm của họ như lời cô Đỗ Thị Minh Hạnh sinh năm 1985 đã nói với mẹ: "Má ơi, con không buồn về thân phận tù đày của mình. Ở ĐỜI CHỈ CHẾT MỘT LẦN THÔI. Con buồn là họ dám coi thường sự bất khuất của dân tộc."

 

Kính thưa quý vị, ở lứa tuổi của Đỗ Thị Minh Hạnh, đáng lẻ cô phải mơ về một tình yêu đôi lứa, một mái ấm gia đình. Đó là những giấc mơ thật trong sáng của lứa tuổi thanh xuân. Nhưng trước vận mệnh tổ quốc, Đỗ Thị Minh Hạnh, Lê Thị Công Nhân và nhiều người trẻ khác đã vượt hơn hạnh phúc cá nhân mà ôm ấp một hoài bão to tát hơn, cao cả hơn.

 

Đó là một hoài bão tự do dân chủ cho quê hương. Tôi thật sự ngưỡng phục và hổ thẹn cho những đóng góp thật nhỏ nhoi của mình.

 

Ngoài ra, ngày nay, khả năng truyền tin của Internet là vũ khí lợi hại tố cáo tội ác CS một cách nhanh chóng trước thế giới. Nhờ Internet, tại hải ngoại chúng ta có thể biết những diễn tiến tại quốc nội và nhanh chóng phản ứng, yểm trợ những người đang bị áp bức.

 

Và những biến cố chính trị xảy ra tại Ai Cập, Tunisia, Yemen, Lybia đã là bằng chứng cụ thể của sức mạnh Internet trong công cuộc lật đổ những chế độ độc tài.

 

Khi không thể xuống đường biểu tình, người dân trong nước vẫn qua mặt hệ thống công an, họ đến với nhau qua mạng lưới Internet để bày tỏ lòng yêu nước, và sự uất ức căm giận của mình trước thái độ hèn hạ của giới lãnh đạo, CSVN và truyền tải cho nhau những tin tức, những hình ảnh. Đây là bước đầu của sự Dân Chủ Hoá và cũng là một dấu hiệu báo hiệu sự cáo chung không còn xa của CSVN.

 

Đúng như vậy, vì trước các phong trào thanh niên tự phát, trước những trao đổi của các thanh niên VN qua mạng chúng ta thây được rằng:

 

1) Tuổi trẻ VN đã thức tỉnh, người trẻ VN đã nhận diện ra chân dung của kẻ thù dân tộc: chính là cái đảng CSVN hèn với giặc, ác với dân.

 

2) Dân tộc Việt dứt khoát không chịu khuất phục trước kẻ thù nội xâm và ngoại xâm. Sự đàn áp chỉ rèn thêm ý chí đấu tranh, mưu đồ chia rẽ chỉ đem đến một sự đoàn kết mạnh mẽ hơn. Âm mưu cô lập lại thúc đẩy công cuộc tổ chức.

 

3) Tiếng nói đòi công lý của các nhà đấu tranh dân chủ không còn là tiếng kêu lẻ loi. Ngày hôm nay, tiếng nói, ước nguyện và hành động của họ là tiếng nói của toàn dân tộc, một dân tộc đã chịu quá nhiều bất hạnh, đã lâu năm im lặng trước bạo quyền.

 

Ngày hôm nay dân tộc này đã cùng nhau đứng dậy, cùng góp bàn tay lật đổ một chế độ bạo tàn.

 

Quả thật, đất nước thân yêu của chúng ta đang thống nhất trong một ý chí Dân Chủ và Tự Do.

 

Những người trẻ quốc nội đã không chịu khuất phục trước bạo lực. Họ đã chọn con đường DẤN THÂN. Họ là tương lai, là cứu cánh của dân tộc. VÀ CHÚNG TA CÓ NHIỆM VỤ PHẢI BẢO VỆ HỌ.

 

 

TỘI ÁC CSVN – Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại

Khí thế trong nước thì như thế, ở hải ngoại chúng ta đang nghĩ gì? Tất cả người Việt tỵ nạn đã ý thức được sự tàn độc và hiểm họa CS một cách đúng mức chưa?

 

Trong lịch sử, Đức Quốc Xã đã phạm một tội ác lớn lao khi đã sát hại 6 triệu người Do Thái trong mộng tưởng ngông cuồng diệt chủng dân tộc này. Và thế giới đã biết đến, cho đến ngày nay, các nước Âu Châu kể cà Đức Quốc luôn đưa sự kiện lịch sử này vào chương trình giáo dục bậc Trung và Tiểu học để nhắc nhở giới trẻ đừng để tội ác này tái diễn.

 

Tội ác CSVN cũng cao ngập trời, nhưng đã không được tất cả giới trẻ biết đến. Thật ra 3 triệu người Việt hải ngoại biết rất rõ về chân tướng của CSVN, vì thế nhiều người trong chúng ta đã liều chết ra đi. Nhưng những tiện nghi êm ái ở thế giới tự do cùng với thời gian đã khiến  nhiều người ở hải ngoại hình như đã quên. Ước mong sao, cái chết tức tưởi của bà Đặng Thị Kim Liêng, của ông Trịnh Văn Tùng, thân phụ cô Trịnh Thị Kim Tiến, cùng nhiều cái chết bí ẩn và oan khiên của những người VN khác cũng như thân phận tù đày của những người yêu nước đã thức tỉnh những ai đang còn mê ngủ, mà hòa mình vào cuộc đấu tranh chung.

 

Vì tương lai của Tổ quốc, vì trách nhiệm đối với những đồng bào ruột thịt, chúng ta phải vượt lên hết tỵ hiềm, cùng nhau đoàn kết, cùng nhau tiếp tục hành động, tích cực hỗ trợ và vận động quốc tế để can thiệp cho các tù nhân lương tâm.

 

Một cách cụ thể, chúng ta phải vào bộ ngoại giao, gặp gỡ các dân biểu tố cáo những vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền CSVN. Chúng ta có thể lập hồ sơ tên tuổi các người đang bị cầm tù, hàng năm Mạng Lưới Nhân Quyền đều công bố danh sách các tù nhân lương tâm tại VN. 

 

Hiện tại cộng đồng của chúng ta có hai vị dân biểu trẻ, đây cũng là niềm hãnh diện và sự trợ lực quý giá cho chúng ta. Dân biểu Anne Quách Minh Thư đã nhiều lần lên tiếng cho nhân quyền ở VN.

 

Điều này cho thấy rằng,  chúng ta có bổn phận hướng dẫn con em chúng ta biết về tội ác CS để các em đừng mắc mưu CS xảo quyệt, luôn bóp méo lịch sử để che lấp tội ác của chúng. Chúng ta có thể khuyến khích các em đọc về lịch sử VN.

 

Khi các con em của chúng ta nhận định được đứng đắn thực chất của CS, chúng ta nên khuyến khích con em cùng tham gia sinh hoạt cộng đồng, bắc nhịp cầu tiếp nối giữa nhiều thế hệ, tham gia phái đoàn gặp gỡ chính giới bản địa, yêu cầu lên tiếng bênh vực những nhà đấu tranh dân chủ trong nước. Tiếng nói của tuổi trẻ bao giờ cũng được lắng nghe. (Tôi thật tự hào về các con và các cháu của tôi, ngày hôm nay các cháu đã có mặt nơi đây phất cao ngọn cờ vàng chính nghĩa, mong rằng đây là sự khởi đầu của những tâm hồn yêu nước)

 

Kính thưa quý vị, chính nghĩa chắc chắn phải thắng. Cộng Sản VN đã dồn dân tộc ta vào con đường tử lộ, muốn sống còn thì phải đấu tranh cho chính mình và cho thế hệ mai sau. Bây giờ chúng ta đã có đủ 3 điểu kiện: đó là Thiên Thời (CSVN bán nước), Địa Lợi (chủ lực đấu tranh trong lòng quê hương), Nhân Hoà (lòng người đã hướng về một mối).

 

Trong nước và hải ngoại ngày càng sát cánh. Với khí thế đấu tranh của 90 triệu dân và sự yểm trợ tích cực của hải ngoại, sự đấu tranh của chúng ta sẽ như cơn sóng thần, sẽ không có một quân đội nào cản ngăn được khi lòng dân đã quyết, không có một vũ khí nào có thể tiêu diệt được sức mạnh của cả một dân tộc. (Xin thú thật, câu này tôi “mượn” lại của một người bạn vì thấy hay quá).

 

Trước khi dứt lời, xin gửi đến chị Tạ Phong Tần cùng gia đình niềm thông cảm sâu xa và chân thành trước một mất mát quá lớn lao. Nhưng trong tận cùng của niềm đau mất Mẹ, chắc chị cũng có niềm hãnh diện là con của một người mẹ bất khuất. Một người MẸ đã ra đi nhưng hơn bao giờ hết, hình ảnh của Bà lại thật sống động trong tim óc những người dân Việt yêu nước, như một tấm gương đấu tranh oai dũng.

 

Cùng với chị, và bao người VN đang bị tù đày, các vị là một niềm hy vọng của một dân tộc không hề lùi bước trước bạo lực.

 

Và ngày hôm nay, chúng tôi có mặt đông đảo nơi đây để khẳng định cùng đồng bào quốc nội thân thương: chúng tôi sẽ không để quý vị đơn độc trong trách nhiệm cứu nước.

 

Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe những lời tâm tình của tôi.

 

Cấn Thị Bích Ngọc.

 

Montréal 30-8-212, một ngày khó quên.

 

==

Tiểu sử Bác sĩ Cấn Thị Bích Ngọc

  • Cựu học sinh trường nữ trung học Gia Long, vượt biên đến Mã Lai năm 1978.
  • Học Y Khoa tại Montréal, ra trường năm 1992, hành nghề Bác sĩ tại Montréal.
  • Đã viết một số tùy bút, biên khảo ngắn, đặc biệt quan tâm đến thảm cảnh buôn bán phụ nữ trẻ em VN.
  • Năm 2007 đã tổ chức Tiệc Gây Quỹ cho cô dâu và nhân công lao động Đài Loan.
  • Năm 2008 đã qua Đài Loan tham dự cuộc vận động tranh cử cho tổng thống Mã Anh Cửu, thăm một số cô dâu và nhân công tại đây.
  • Nhân dịp này đã gửi thỉnh nguyện thơ đến tân tổng thống Mã Anh Cửu xin Ông để ý và cứu giúp các cô dâu và các người VN xuất khẩu lao động tại đây.
  • Đã từng cộng tác với Tập San Y Sĩ, Truyền Thông, Văn Bút San Jose. Một số bài đăng trên các diễn đàn đấu tranh.
  • Tháng 3-2012 đã cùng một số hội đoàn Hoa Kỳ vào gặp Cao Ủy LHQ trình bày về những vi phạm nhân quyền và vận động trả tự do cho một số nhà đấu tranh dân chủ đang bị cầm tù.
  • Hiện đang giữ chức vụ Chủ tịch Ban Chấp Hành Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do.

__._,_.___

Saturday, July 28, 2012

GIỮ TÌNH BẠN

GI TÌNH BN

Than men chuyen LT

 

 

                  GIỮ TÌNH BẠN.

 

 

 

 

 

 

Có một người bạn đã khó , và giữ cho tình bạn đó bền lâu càng khó hơn .

 

Có những việc tưởng chừng như rất dễ , song thực hiện lại khó vô vàn.

 

Bạn đã chắc chắn muốn có 1 tình bạn lâu bền ???

 

Vậy bạn đã làm được những điều dưới đây chưa ???

 

Chúc các bạn tìm thấy đc những người bạn tốt biết quan tâm chia sẽ cùng nhau .

 

Và hãy cùng nhau giữ vững tình bạn của mình nhé.

1. Muốn giữ được bạn thì đừng nói xấu bạn sau lưng, đừng đem bạn ra là chuyện làm quà cho người khác!

2. Muốn giữ được bạn thì đừng lợi dụng bạn. Đừng nghĩ rằng thân nhau thì giúp nhau kiểu gì chẳng được!

3. Muốn giữ được bạn thì đừng xúc phạm bạn. Với bạn lớn tuổi hơn hay bé tuổi hơn cũng cần lễ độ
.

 

 

4. Muốn giữ được bạn thì cần tuyệt đối sòng phẳng . Nhất là chuyện tiền nong.

 

Chỉ vay và cho vay trong trường hợp cùng cực bất đắc dĩ hay bất khả kháng. Trong công việc phải ăn chia sòng phẳng. Không được tham lam!


5. Muốn giữ được bạn thì đừng bao giờ vì mình mà khiến bạn phải chịu thiệt thòi.

6. Muốn giữ được bạn thì cần chân thành với bạn. Có thể chia sẻ với bạn những niềm vui cũng như nỗi buồn.

 

Muốn giữ được sự chân thành thì đừng trong bụng bực tức mà ngoài mặt vẫn niềm nở!

7. Muốn giữ được bạn cần phải giữ được những điều bí mật của bạn!

8. Muốn giữ được bạn thì đừng coi mình luôn luôn giỏi hơn bạn. Đừng bao giờ hạ thấp bạn để nâng mình lên!

9. Muốn giữ được bạn thì đừng nói cạnh nói khóe bạn hay người thân của bạn. Nếu không vừa lòng bạn điều gì. Có thể thẳng thắn mà nói ra!

10. Muốn giữ được bạn thì phải luôn tự nhìn nhận thái độ của mình với bạn. Luôn cố gắng sống đàng hoàng không khuất tất!

11. Muốn giữ được bạn thì đừng thờ ơ với bạn quá. Tình bạn đẹp luôn luôn cần được nuôi dưỡng.

12. Muốn giữ được bạn thì càng không nên thân với bạn quá, không nên xâm phạm vào khoảng trời riêng của bạn.

 

Tạo ra một khoảng cách vừa phải để bạn không thể tiếp cận quá gần mình!

 

 

Wednesday, July 25, 2012

Ông Cao Xuân Vi nói gì về Nền Đệ Nhất Cọng Hoà

   Chuyển tiếp :- Ông Cao Xuân Vi nói gì về Nền Đệ Nhất Cọng Hoà

  Để Hiểu Biết thêm  về T .T Ngô Đình Diệm & Ông Ngô Đình Nhu.

       Cầu Chúc AN LÀNH .

  

Moi cac ban doc de cam thay buon cho dat nuoc da mat di vien ngoc vo gia va gio nay chung ta phai song ly huong, dan toc dang trong vong trien mien tam toi.

 

 


Ông. Cao Xuân Vỹ


Như đã hứa, (1) ông Cao Xuân Vỹ, sau ba lần vào cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, đã vui lòng dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn để cống hiến bạn đọc một số hồi ức và kỷ niệm của ông trong thời gian đi theo Việt Minh kháng chiến rồi về hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm với tư cách là người phụ tá thân cận của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ và là cố vấn chính trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

1. Hỏi: Thưa ông, nghe nói ông cùng quê Nghệ An với ông Hồ Chí Minh?

Đáp: Phải. Tôi người làng Thịnh Mỹ, phủ Diễn Châu ở về phía biển, còn ông Hồ ở xã Kim Liên huyện Nam Đàn về phía núi.

2. Hỏi: Ông có thể cho biết gia đình ông có liên hệ gì với gia đình ông Hồ không?

Đáp: Tôi được biết ông cố tôi là cụ Cao Xuân Dục, thượng thư bộ học thuộc triều đình Huế có giúp đỡ thân phụ ông Hồ là Nguyễn Sinh Sắc về tài chính và khuyến khích, giúp đỡ ông ấy nhiều trong việc học hành để có thể đi thi và đậu phó bảng. Một phần vì ông Nguyễn Sinh Sắc là bạn học với ông nội tôi là Cao Xuân Tiếu. Đây là hình căn nhà ông nội tôi cho ông cử Sắc. (Ông Vỹ đưa xem hình căn nhà.)

3. Hỏi: Có tài liệu của phía Cộng Sản, như của Sơn Tùng và Nguyễn Đắc Xuân nói, khi thấy ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng khoa Ất Mùi, (năm 1895), ông Cao Xuân Dục đã giúp cho ông Nguyễn Sinh Sắc được vào Huế, để có phương tiện và đủ sách vở hầu tiếp tục việc học và có thể thành đạt. Điều này có đúng không?

Đáp: Đúng. Ông cố tôi còn can thiệp để cho ông Nguyễn Sinh Sắc, dù không phải là con quan cũng được vào học ở Quốc Tử Giám. Đến khoa thi năm Tân Sửu (1901) chánh chủ khảo Cao Xuân Dục thấy khóa sinh Sắc không trúng tuyển đã cho lệnh xét lại bài thi của 4 thí sinh để rồi xin vua Thành Thái cho ông ta đậu phó bảng. Khóa ấy có 9 tiến sĩ, 13 phó bảng. Ông Sắc đậu phó bảng thứ 11.

4. Hỏi: Hồi còn nhỏ ông có biết về hoạt động của Cộng sản ở quê nhà và có chứng kiến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản thường được gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh không?

Đáp: Có. Phong trào này mạnh nhất ở hai huyện Nam Đàn và Thanh Chương. Nhiều người bị chết oan. Cộng Sản đã giết hai tri phủ. Vì thế phản ứng của chính quyền bảo hộ cũng rất quyết liệt. Pháp đem bom thả cũng giết nhiều người, trong số ấy có cả Cộng Sản lẫn thường dân. Cha tôi có kể lại rằng để đối phó với phong trào này, ông Nguyễn Hữu Bài, thượng thư bộ Lại của Triều Đình Huế, (tương đương với chức thủ tướng thời nay), đã cho áp dụng một kế hoạch chiêu dụ Cộng Sản khá thành công. Lúc ấy ông cố tôi cùng ở trong nội các Nguyễn Hữu Bài.

5. Hỏi: Khi Việt Minh cướp chính quyền ông ở đâu? và có ủng hộ họ không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang học ở Hà Nội. Tôi nhớ là mấy tháng trước khi Việt Minh cướp chính quyền, thanh niên sinh viên Hà Nội chúng tôi rất hăng hái ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, vì là chính phủ của Việt Nam độc lập đầu tiên, dù phải nhờ có người Nhật lật đổ người Pháp. Nhưng chúng tôi rất phấn khởi và đã ủng hộ hết mình. Tiếc rằng bỗng nhiên chính phủ này từ chức ngày 7 tháng 8 (1945). Thật khó hiểu. Tuy từ chức nhưng chính phủ Trần Trọng Kim vẫn xử lý theo lệnh nhà vua. Khi mà Việt Minh tới trám vào chỗ trống chính trị này thì chúng tôi đã đi theo Việt Minh. Chúng tôi không biết Việt Minh là Cộng Sản. Thực ra lúc ấy chả mấy người biết Việt Minh là Cộng Sản.

6. Hỏi: Ông có gặp ông Hồ bao giờ không?

Đáp: Có. Hồi ấy tôi ở trong phong trào thanh niên sinh viên tranh đấu. Chúng tôi được hai ông Hoàng Minh Giám và Phan Mỹ giới thiệu để gặp ông Hồ ở Bắc Bộ Phủ. Lúc ấy ông ấy có cái vẻ bề ngoài rất ân cần và dễ mến. Về sau tôi mới hiểu tại sao ông ấy đã chiêu dụ được nhiều người đi theo ủng hộ Việt Minh. Cho đến giờ này tôi vẫn nghĩ ông ta thật là thông minh và xảo quyệt. Lại được tay Võ Nguyên Giáp cũng rất thông minh trợ tá đắc lực. Tôi học với Võ Nguyễn Giáp 4 năm, Tôi biết ông ta rất rõ. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã tỏ ra sắc sảo và quả đoán… Rất “độc tài”. Nhưng dầu sao Võ Nguyên Giáp không thể sánh được với Ngô Đình Nhu. Còn Phạm Văn Đồng thì không đáng là học trò Ngô Đình Nhu.

7. Hỏi: Rồi tại sao ông lại bỏ Việt Minh?

Đáp: Vì chúng tôi kết án ông Hồ đã ký thỏa ước mồng 6 tháng 3, nhượng bộ Pháp quá nhiều. Hơn nữa họ đã hãm hại nhiều người yêu nước bất đồng chính kiến. Chúng tôi chạy sang phía Việt Cách của các ông Nguyễn Hải Thần và Nghiêm Kế Tổ…

8. Hỏi: Khi nào thì các ông rời Hà Nội?

Đáp: Liền khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ ngày 19-12-46. Lúc ấy ông Hồ và đại bộ phận Việt Minh chạy lên Việt Bắc kháng chiến. Thì chúng tôi gồm 36 nhà trí thức và thanh niên sinh viên tranh đấu chạy vào khu Tư, gồm Thanh Nghê Tĩnh, để cùng với một số Việt Minh ôn hòa lập một phòng tuyến mới phi Cộng Sản chống thực dân và giúp dân mở mang về kinh tế và văn hóa. Có thể nói Liên Khu Tư lúc ấy như là một khu tự trị.

9. Hỏi: Ông có thể cho biết tên một số trong 36 nhà trí thức mà ông bảo đã rời Hà Nội vào Liên Khu Tư sau kháng chiến bùng nổ không?

Đáp: Tôi còn nhớ chẳng hạn có Luật Sư Trần Chánh Thành, các ông Trần Hữu Dương, Hồ Đắc Điềm, Phạm Thành Vinh, sau này trở thành rể của ông Hồ Đắc Điềm, ông Nguyễn Duy Quang, người của ông Bảo Đại, ông Phan Huy Xương, anh của bác sĩ Phan Huy Đán tức Phan Quang Đán, ông Tôn Thất Trạch v.v… Các ông này về sau đã hợp tác với thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông Trần Chánh Thành từng là bộ trưởng phủ thủ tướng, với ông Tôn Thất Trạch là đổng lý văn phòng. Ngoài ra, về phía thường dân tôi nhớ còn có bà Hòa Tường là một thương gia giầu có ở phố Hàng Đào cũng đi theo.

Tôi xin nói thêm ông biết điều này, là những vị này và tôi hồi đầu theo Việt Minh. Nhưng tất cả đều không phải Cộng Sản. Và ngay từ 1930 thì đã có hai phe cùng chống Pháp một bên là Đảng Cộng Sản, lúc ấy chưa có Việt Minh. Một bên là các nhân vật và tổ chức quốc gia phi Cộng Sản trong đó ngoài những người như ông Ngô Đình Diệm đã bắt đầu hoạt động từ đó, còn có các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, mà đảng trưởng là Nguyễn Thái Học và 13 đồng chí đã bị Pháp xử bắn.


Ông Ngô Đình Nhu


10. Hỏi: Khi nào ông rời Liên Khu Tư vào Sài Gòn và gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Chúng tôi rời Liên Khu Tư ra Hà Nội. Chứ chưa vào Sài Gòn. Lúc ấy là vào khoảng đầu năm 1953. Ông Hồ Chí Minh theo lệnh Stalin và Mao Trạch Đông khỉ sự chuẩn bị mở chiến dịch Giảm Tô và cải cách ruộng đất. Có người thân trong Việt Minh cho chúng tôi biết. Nên tìm đường chạy trước. Về sau trong họ tôi có nhiều người có chút tư điền bị đem ra đấu tố. Chị ruột tôi cũng bị giết. Tôi “dinh Tề” qua ngả Phúc Nhạc, Phát Diệm là khu an toàn tự trị dưới quyền trông coi của giám mục Lê Hữu Từ. Khó khăn lắm mới tới được Hà Nội. Hà Nội lúc ấy đang sống an bình dưới chính quyền Bảo Đại. Tôi đi thoát được là nhờ có người chú họ ở trong tổ chức Việt Minh cấp cho một giấy thông hành. Ở Hà Nội tôi gặp lại các ông Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát từng hoạt động chung với chúng tôi thời 1945.

Trong thời gian còn ở Liên Khu Tư chúng tôi nghe biết cán bộ Cộng Sản trong tổ chức Việt Minh chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cán bộ Trung Cộng. Sau khi Mao Trạch Đông chiếm trọn lục địa vào cuối năm 1949, ông ta đã bắt Hồ Chí Minh gửi một số lớn cán bộ Việt Cộng sang Tầu để tẩy não, cải tạo tư tưởng, bắt học tập chủ nghĩa Mao-ít. Vì cái chủ nghĩa này mà các chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất đã đẫm máu với những vụ con tố cha, vợ tố chồng và nông dân tàn sát lẫn nhau thật rùng rợn. Làng tôi có ông hàn Lương biết mình sắp bị đưa ra đấu tố đã nhảy xuống giếng tự tử, vậy mà đội cải cách đã lôi xác ông lên để đấu cái thây ma. Chúng đánh nát bấy cái thây ấy. Tôi mong có người thâu thập những tin tức khắp nước về cuộc Cải Cách Ruộng Đất thời gian đó để cho mọi người biết Cộng Sản dã man chừng nào.

11. Hỏi: Khi nào thì ông gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Cuối năm 1953. Tôi vào Sài Gòn thì gặp lại ông Trần Chánh Thành. Ông Thành giới thiệu tôi với ông Nhu. Ông Thành vào Sài Gòn năm 1952 cùng một lượt với phần lớn trong số 36 nhà trí thức đã vào Liên Khu Tư để kháng chiến chống Pháp nhưng bất hợp tác với Việt Minh. Lúc gặp lại tôi thì ông Thành đang làm cho tờ báo Xã Hội của ông Nhu, đồng thời tập sự luật sư với Luật Sư Trương Đình Du…

12. Hỏi: Theo chỗ chúng tôi biết thì ông Ngô Đình Nhu từng có 5 nhiệm vụ quan trọng: một là dân biểu Quốc Hội, hai là Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, ba là thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, bốn là Tổng Bí Thư đảng Cần Lao Nhân Vị, và sau hết vào năm cuối cùng ông còn là chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược. Vậy ông ấy có một lực lượng nhân sự nào đáng kể để giúp thi hành chừng ấy nhiệm vụ không? Ví dụ ông ấy có mấy văn phòng? Có bao nhiêu nhân viên được ăn lương?

Đáp: Ông ấy chỉ có một mình thiếu tá Phạm Thu Đường làm chánh văn phòng, thường được gọi là chánh văn phòng ông Cố Vấn. Và dưới quyền thiếu tá Đường chỉ có 5 nhân viên, hầu hết tự túc. Không có ngân khoản nào dành cho ông Cố Vấn. Và phải nói thực khó hiểu là chính chức Cố Vấn này cũng chẳng được một văn kiện nào bổ nhiệm hay quy định nhiệm vụ. Thực tế ông Nhu chỉ giúp việc cho riêng ông Diệm với tư cách là phụ tá cho Tổng Thống. Người ta thấy việc ông làm thì gọi ông là Cố Vấn vậy thôi. Vì thế ông không có quyền hạn và nhiệm vụ gì chính thức.

Còn về thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, thì ông chỉ thị cho chúng tôi, phải tự túc. Mọi đoàn viên đều tự nguyện và tự túc theo tinh thần cách mạng. Cho nên cũng chẳng có quyền lợi gì.

Về văn phòng dân biểu, ông cũng không có. Thực ra ông ấy rất ít đi họp Quốc Hội. Chỉ khi nào có vấn đề chính sách quan trọng như Ấp Chiến Lược chẳng hạn, hay vấn đề “Giáo Dục nhân bản”, vấn đề “kinh tế tư hữu cơ bản” v.v.. thì ông mới tới trình bày mà thôi. Cho nên mọi thứ một mình ông cáng đáng. Tôi thật phục sức làm việc của ông Nhu.

13. Hỏi: Thế còn chức chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược thì sao? Có văn thư nào quy định không?

Đáp: Chức này thì có. Nhưng cũng chỉ là một thông tư của phủ Tổng Thống gửi đến các bộ, để việc ông chủ tọa các phiên họp Ủy Ban Liên Bộ được danh chính ngôn thuận. Ông Nhu quan niệm chương trình Ấp Chiến Lược là một cuộc cách mạng xã hội và chính trị, chứ không phải chỉ là một chiến lược để đối phó với sự xâm nhập và khủng bố của Cộng Sản mà thôi. Ông thúc đẩy các tỉnh trưởng khai hóa người dân quê theo tinh thần tam túc, nghĩa là tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về kỹ thuật, để có thể làm chủ cuộc đời mình, làm chủ được xã hội, không bị lệ thuộc vào bên ngoài, vào ngoại bang.

Ông để rất nhiều thì giờ đích thân soạn những bài thuyết trình có tính lý luận cao dành cho các cấp lãnh đạo chính phủ và cán bộ cao cấp, chỉ cho họ cách thức đưa những tư tưởng cao vào đầu óc thường dân qua những hình ảnh và ngôn ngữ bình dân dễ hiểu. Mục đích của ông là tiến dần tới một xã hội có tổ chức cao, có đầy đủ các phương tiện truyền thông, giao tế, kinh tế, văn hóa cao trong đó mỗi con người, “mỗi nhân vị”, đều được quan tâm đồng đều, chứ không biến con người thành những “cái đinh, con ốc” trong một guồng máy xã hội theo kiểu Cộng Sản. Ông tin tưởng rằng phương pháp đó về lâu về dài sẽ làm cho CS phải đầu hàng. Chứ không phải chỉ dựa vào những hàng rào giây kẽm gai. Dĩ nhiên ban đầu thì việc rào ấp là cần thiết để giữ cho Ấp Chiến Lược được an toàn trước sự phá hoại và tấn công của du kích CS. Quốc sách Ấp Chiến Lược mà thành công thì Cộng Sản sẽ thành cá bị tát ra khỏi ao, nằm trên đất.

14. Hỏi: Về đảng Cần Lao Nhân Vị, nó thành hình ra sao, và ai là những đồng chí cốt cán nhất của ông Nhu?

Đáp: Hai người cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần Lao Nhân Vị là các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Nhưng ban đầu các ông không gọi tên đảng là Cần Lao mà gọi là đảng Công Nông. Nhưng vì không muốn gợi ý về cái liên minh công nông của Cộng Sản, nên về sau các ông đổi ra là Cần Lao. Còn vế Nhân Vị thì sau nữa mới thêm vào theo đề nghị của ông Nhu. Ông Bửu, chủ tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp đoàn, đã quen ông Nhu khi còn ở bên Pháp. Và ông Huỳnh Hữu Nghĩa một tín đồ Cao Đài, là cố vấn chính trị của tướng Trình Minh Thế. Ông Nghĩa đã giúp ông Nhu chinh phục được tướng Thế, chứ không phải như có người Mỹ cho rằng ông Nhu có được ông Thế là nhờ đại tá Edward Lansdale. Ông Lansdale có can thiệp để quân của tướng Thế được hợp thức hóa và trả lương như Quân Đội Quốc Gia thì đúng. Người nào bảo Lansdale dùng tiền mua Tướng Thế là cố tình xuyên tạc để hạ uy tín của một vị tướng kiên cường anh dũng, thanh liêm mà anh em ông Diệm rất quý trọng. Khi nghe tin tướng Thế tử trận Tổng Thống Diệm đã ngất xỉu. Điều này tướng Lansdale có ghi trong hồi ký.

Văn phòng Tổng Bí Thư đảng Cần Lao cũng do một mình Thiếu Tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm.


TT. Ngô Đình Diệm


15. Hỏi: Ông Ngô Đình Diệm có giữ vai trò gì trong đảng Cần Lao không?

Đáp: Không. Ông ấy hoàn toàn ở ngoài và trên đảng Cần Lao. Với ông Diệm chỉ có Tổ Quốc và Quốc Dân. Tôi còn nhớ khoảng năm 1956, Tổng Thống gọi tôi vào bảo tôi lên cao nguyên đèo heo hút gió để quan sát nghiên cứu tìm ra những địa điểm thích hợp để lập các khu dinh điền, hòng đưa người kinh lên trấn giữ địa điểm mà ông bảo là vô cùng quan trọng về mặt chiến lước. Tôi thấy mình đi thì ông Nhu thiếu một trợ lý. Lại cũng hơi ngán cảnh cô đơn ở nơi xa lạ. Tôi bèn thưa với Tổng Thống: Công tác đoàn thể của ông Cố Vấn đang thiếu người. Tổng Thống nói: Đoàn thể gì. Dẹp. Tuy nhiên rồi ông cũng đấu dịu. Cứ đi đi. Thỉnh thoảng tôi sẽ lên với anh… Cũng cần thêm rằng ông Diệm rất quan tâm đến vùng cao nguyên. Ông thường nói: giữ được cao nguyên thì giữ được miền Nam . Và ông tìm cách đưa nhiều cán bộ và những người dân có kinh nghiệm với Cộng Sản lên đó lập nghiệp.

16. Hỏi: Ông nghĩ gì về việc chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đại?

Đáp: Nhiều người chê ông Diệm, là nhà Nho mà bất trung, không giữ lời thề trung thành với cựu hoàng. Nhưng tôi thấy không đúng. Trước hết chính cựu hoàng bảo ông Diệm chỉ thề trước Thánh Giá trung thành với Tổ Quốc. Thứ nữa, khi cựu hoàng triệu ông sang Pháp, ông Diệm đã sẵn sàng lên đường, dù biết sang đó sẽ mất chức thủ tướng.

Nhưng chính nhóm liên khu Tư chúng tôi đã thuyết phục ông, gần như làm áp lực với ông, để ông bỏ ý định sang Cannes . Chúng tôi xúm vào yêu cầu ông ở lại lấy cớ tình hình không cho phép vắng mặt. Chúng tôi phải nói với thủ tướng rằng nếu Cụ bỏ chúng tôi lại mà đi một mình thì sinh mệnh chúng tôi ai sẽ lo? Chúng tôi đã bỏ tất cả vào đây là vì cụ, vì tin cụ sẽ bảo vệ phần đất tự do còn lại này, bảo vệ chúng tôi. Nay cụ nỡ lòng nào bỏ chúng tôi, bỏ đất nước này cho Thực dân, Cộng Sản? Rồi nhiều đoàn thể họp nhau lại đặt ông Diệm trước sự việc đã rồi là tự ý hạ bệ ông Bảo Đại. Cuộc trưng cầu dân ý của chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức sau đó chỉ là để hợp pháp hóa hành động của chúng tôi.

17. Hỏi: Có sử gia Mỹ bảo ngày 22 tháng 8 năm 1963, Thanh Niên Cộng Hòa đã tấn công chùa Xá Lợi cùng với Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt. Điều này có đúng không?

Đáp: Hoàn toàn bịa đặt. Tổ chức này không phải để dùng vào những việc như vậy. Nó là tổ chức phi vũ trang mà.

 

18. Hỏi: Sử gia Mark Mayor viết trong tác phẩm Triumph Forsaken rằng gần ngày đảo chính, tỉnh trưởng Định Tường báo cáo với ông Nhu rằng đại tá Có là phụ tá của tướng Đính rủ ông ta làm đảo chính. Ông Nhu hỏi lại tướng Đính, thì tướng Đính xin đi chém đầu Có. Ông có biết vụ này không?

Đáp: Không cần tỉnh trưởng Định Tường báo cáo thì ông Nhu đã biết rồi. Nhưng ông muốn cứ để vậy để theo dõi.

19. Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?

Đáp: Lúc ấy thì không. Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét. Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu. Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ, rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược. Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có thể về sống với dân lành tại các ấp…

Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:

- Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.
- Rồi cho dân qua lại tự do
- Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn
- Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.
- Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.
- Và sau cùng là tổng tuyển cử.

Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy, sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy “mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng.

20. Hỏi: Lần ông tháp tùng ông Nhu đi dự lễ đăng quang của quốc vương Ma-rốc năm 1962, ông có cho biết là sau đó các ông đến Paris gặp ông Pinay, đại diện Tổng Thống Charles De Gaulle, bàn chuyện hiệp thương với ông Hồ. Lúc ấy có mặt giáo sư Bửu Hội không?

Đáp: Dĩ nhiên là có. Vì Giáo sư Bửu Hội là đại sứ của VNCH ở Ma-rốc, và là bạn học với ông Nhu ở bên Pháp. Ông Bửu Hội lại từng là cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nên trong việc này, có thể nói vai trò của ông Bửu Hội cũng quan trọng không kém ông Nhu. Ông Nhu và chúng tôi ở khách sạn Grillon cả tháng. Cuộc tiếp xúc xảy ra nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sự hiện diện của giáo sư Bửu Hội. Ông Nhu cho biết lúc ấy ông Hồ Chí Minh đã nhờ ông Jean Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle giúp. Ông Hồ biết là ông De Gaulle đang có chủ trương trung lập Đông Dương, lại hận Mỹ đã “hất cẳng” Pháp. Ông Hồ nhờ Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle can thiệp để tiếp xúc với Sài Gòn. Tổng Thống Pháp rất sốt sắng trong việc này. Sau chuyến đi này ít tháng thì xảy ra vụ ông Nhu “đi săn cọp” ở Tánh Linh.

21. Hỏi: Gần ngày đảo chính đại sứ Cabot Lodge có điện đàm với Tổng Thống Diệm. Lúc đó ông có ở bên cạnh Tổng Thống không?

Đáp: Không.

22. Hỏi: Trong cuốn Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cựu đại tá Nguyễn Hữu Duệ viết rằng ông ta xin phép Tổng Thống đem xe tăng thiết giáp lên bộ tổng Tham Mưu để bắt các tướng và dẹp đảo chính. Nhưng Tổng Thống không cho. Ông có biết chuyện này không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang ở bên Tổng Thống Diệm và ông Nhu tại dinh Gia Long. Chính tôi nghe điện thoại của ông Duệ và trình lên Tổng Thống.

Tổng Thống la tôi: Các anh muốn gì? Ở với tôi bấy lâu mà không hiểu ý tôi sao? Dân Nghệ An các anh chỉ thích làm loạn. Đem quân đội chống quân đội là cách bảo vệ tổ quốc hả?

Tôi thưa: Nhưng người ta đánh mình thì mình phải đánh lại chứ Tổng Thống. Chẳng lẽ để phải chết sao?

Ông quát lên: Chết thì đã sao.

Đúng, đối với ông chết thì đã sao. Nhưng đối với chúng ta thì cái chết của ông là cái chết dần của miền Nam . Ông còn nói quân đội là để bảo vệ tổ quốc chứ không phải để bảo vệ cá nhân Tổng Thống.

Ông bảo tôi liên lạc với ông Trương Vĩnh Lễ, chủ tịch Quốc Hội yêu cầu cho triệu tập Quốc Hội để ông ra từ chức trước Quốc Hội, hòng tránh cảnh đổ máu. Nhưng tôi gọi ông Lễ 4 lần không được.

Lúc ấy không phải chỉ có Lữ Đoàn xin lên tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính. Mà còn có cả một đại đội biệt kích thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đi hành quân ở Tây Ninh vừa về đến Sài Gòn cũng báo cáo là lực lượng phòng vệ của các tướng đảo chính ở Tổng Tham Mưu rất yếu, đại đội biệt kích xin phối hợp với 2 tiểu đoàn của Lữ Đoàn Phòng Vệ phủ Tổng Thống để đột kích vào bắt hết các tướng đảo chính. Tướng Nguyễn Văn Phú, lúc ấy còn là Thiếu Tá đã tiếp xúc với tôi về việc này. Nhưng như vừa nói. Tổng Thống không chấp thuận.

Viên đại úy đại đội trưởng Biệt Kích đề nghị cho lực lượng của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống có xe bọc thép dẫn đầu tiến tới bao vây bộ Tổng Tham Mưu, còn đại đội của anh ta sẽ đột kích bọc hậu từ phía sân vận động vào bắt sống các tướng. Tôi rất buồn bực và lấy làm khó hiểu tại sao ông cụ lại không cho đánh. Ông Nhu ngồi cạnh đó cũng chẳng nói gì.

23. Hỏi: Theo ông trong số các tướng lãnh lúc ấy ai có khả năng nhất?

Đáp: Tôi hầu như không tiếp xúc với các tướng. Ngay cả Phó Tổng Thống cũng vậy. Hầu như chẳng bao giờ gặp. Nhưng tôi có nghe ông Nhu nói ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc ấy mang lon đại tá, là một tư lệnh (sư đoàn 5) giỏi nhất. Ông Nhu có nhận xét đó sau khi nghe ông Thiệu thuyết trình ở hội trường Suối Lồ Ồ.

Còn các tướng thì rất sợ Tổng Thống Diệm mỗi khi phải thuyết trình cho ông về tình hình an ninh. Bởi vì ông nắm vững tình hình và nhất là địa hình địa vật… địa lý của từng vùng. Kiến thức về quân sự của ông cũng rất uyên bác. Tôi được biết, khi mới về nước làm thủ tướng, ông đã yêu cầu tổng lãnh sự ở Hồng Kông mua cho ông tất cả tác phẩm của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lâm Bưu, Bành Đức Hoài để đọc và bắt ông Nhu phân tích nghiên cứu trình lên.

24. Hỏi: Nghe nói ông bà Nhu có một biệt thự đẹp lắm ở Đà Lạt. Ông có tới đó bao giờ không?

Đáp: Ông nói đến cái biệt thự này, tôi lại nhớ tới cái ông luật sư Trương Phú Thứ ở Seattle . Ông ấy muốn tìm cách phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu mà không sao được. Chẳng rõ tại sao ông ta biết nhà tôi, tìm đến xin tôi giới thiệu với bà Nhu. Tôi biết đã từ lâu bà ấy ẩn dật không muốn báo chí nhắc tới. Nhưng tôi biết bà ấy hãy còn quyến luyến ngôi nhà hai phòng ngủ của một người Pháp, bỏ hoang đã lâu mà anh em chúng tôi hùn tiền mua cho ông bà ấy vào khoảng năm 1960, mà không đủ tiền sửa chữa, cho nên đến khi ông Nhu bị sát hại và bà Nhu sống lưu vong, cũng mới chỉ sửa được phần nửa.

Tôi bảo ông Thứ hãy về Việt Nam, lên Đà Lạt chụp ảnh ngôi nhà ấy rồi mang theo sang Pháp, tìm cách đưa tấm hình đó tận tay bà Nhu thì may ra bà ấy cho gặp. Thì quả thật chắc ông đã biết, ông Thứ đã viết một bài cho tờ Văn Nghệ Tiền Phong nói về bà Nhu ở tuổi gần bát tuần sống như một nhà tu ở Paris. Tôi mong ông Thứ có dịp phổ biến tấm hình này để độc giả thấy cái “ngôi biệt thự xinh đẹp” của ông bà Nhu.

25. Hỏi: Thống tướng Maxwell Taylor, Đại sứ Frederick Nolting và nữ ký giả Marguerite Higgins đều nói được Tổng Thống Diệm tiếp hơn kém khoảng 5 giờ đồng hồ. Ông có biết điều đó và có ý kiến gì không?

Đáp: Lúc ấy nhiều người nói tổng thống tiếp khách lâu quá. Tôi có trình ông, bảo người ta phê bình tổng thống độc thoại!

Ông cười. Ông bảo: Người Mỹ họ ít hiểu về dân tôc mình về lịch sử của nước mình. Mình phải lợi dụng lúc họ chịu nghe để nói cho họ hiểu chứ. Mấy người này đều chăm chú nghe tôi và đặt nhiều câu hỏi. tôi phải trả lời cho họ chứ.

26. Hỏi: Gần ngày đảo chính Tổng Thống có mời ông bà Đại Sứ Mỹ lên Đà Lạt nghỉ tại biệt điện của Tổng Thống và dự dạ tiệc thân mật. Ông có biết họ thảo luận về việc gì không?

Đáp: Tôi có biết và nhớ là Tổng Thống đề nghị chính phủ Mỹ thông cảm những khó khăn của miền Nam và đừng ép ông phải cải cách gấp rút. Ông cũng hứa sẽ xem xét những đề nghị của chính phủ Mỹ một cách nghiêm chỉnh. Nhưng cần phải có thời gian. Phía ông Lodge thì nằng nặc đòi Tổng Thống phải đưa ngay ông Nhu ra ngoại quốc. Nhưng dĩ nhiên không bao giờ Tổng Thống nhượng bộ điều này được.

27. Hỏi: Xin ông tha lỗi, ông là Phật tử chứ ạ? Và trong vụ Phật Giáo có ai nhờ ông làm trung gian để thương lượng giàn xếp giữa chính quyền và bên Phật Giáo đấu tranh không?

Đáp: Phải, tôi là Phật tử đã quy y… – Ông vào phòng lấy ra một cuộn giấy mở cho tôi thấy tờ PHÁI QUY Y rồi nói tiếp – Tôi quy y với thầy Thích Minh Châu. Khi vụ Phật Giáo xảy ra tôi có ra Huế gặp thầy Thích Trí Thủ để nhờ thầy can thiệp với Thượng Tọa Thích Trí Quang… nhưng Hòa Thượng Trí Thủ nói bây giờ các thầy trẻ học thức nhiều, họ có đường lối riêng, các sư già chúng tôi nói họ không nghe. Nên không kết quả. Nhiều người khác cũng can thiệp nhiều ngả khác, cũng không hơn gì. Hồi ấy còn cả một ủy ban của chính phủ gồm nhiều Phật tử đứng đầu là phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cố gắng dàn xếp. Nhưng bên Phật Giáo tranh đấu chỉ muốn lật đổ chính phủ thôi. Nên họ cố đưa ra những yêu sách không cách nào làm được. Tôi rất ân hận là không giúp gì được với tư cách là một Phật tử.

28. Hỏi: Theo ông thì ai cố ý giết hai ông?

Đáp: Theo tôi thì người ra lệnh trực tiếp là tướng Dương Văn Minh. Còn ông Minh có nhận lệnh ở trên nào không thì không biết. Sở dĩ tôi dám quả quyết ông Minh, là vì chính ông Minh sai cận vệ của ông ta là đại úy Nguyễn Văn Nhung cùng đi với tướng Mai Hữu Xuân, để “thi hành nhiệm vụ”(!). Và Nhung đã leo lên xe bọc thép trong đó có hai anh em Tổng Thống. Nhung là một tay giết người không gớm tay, y còn khắc dấu vào cán dao găm mỗi lần giết được một người. Ngay tối mồng hai y còn khoe “con dao lịch sử” của y với con của tướng Đôn cơ mà. Đó là theo chính lời của tướng Đôn thuật lại trong Việt Nam Nhân Chứng. Còn tướng Xuân thì khi “đi đón ông cụ” về và ông cụ đã chết rồi, đã tới trước Dương Văn Minh giơ tay làm dấu, miệng nói: “Mission accomplie” (Nhiệm vụ hoàn thành). Cứ theo những lời trên của tướng Đôn, thì không nghi ngờ gì người chủ trương và ra lệnh giết hai ông là tướng Big Minh.

29. Hỏi: Thời gian quấy rầy ông đã quá dài. Nhất là trong lúc ông còn bịnh nhiều. Xin cám ơn ông đã mất công trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Và nếu có thể được xin ông cho một cảm tưởng chung về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu.

Đáp: Tôi cũng xin cám ơn ông đã tốn công đi từ xa đến để cho tôi được có dịp nói lên vài điều trong số những gì mình còn nhớ được về thời gian dài phục vụ Đất Nước bên cạnh hai nhân vật lịch sử mà tôi hằng kính mến. Cứ mỗi lần nhớ đến hai cụ, tôi đều ngậm ngùi xót xa. Nhất là đối với cụ Diệm. Ông quá ngay thẳng, quá quân tử, quá rộng lượng, lúc nào cũng nghĩ tới làm cho dân được ấm no hơn. Vậy mà người ta nỡ hãm hại ông. Không phải chỉ có những ngày giỗ hai ông tôi mới khóc.

Cụ Vỹ dằn cơn xúc động bắt tay tôi khi tôi từ biệt ra về…

 

 

 

 

 




Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List