Popular Posts

Showing posts with label lối sống. Show all posts
Showing posts with label lối sống. Show all posts

Sunday, February 19, 2017

TÔI KỂ BÀ NGHE

                         TÔI KỂ BÀ NGHE

Tôi kể bà nghe...
Lũ trẻ bây giờ yêu nhau buồn cười lắm!
Chúng mình bên nhau cả đời chưa chán,...
Chúng nó bên nhau tính tháng, tính ngày.

Tôi kể bà nghe...
Lũ trẻ bây giờ yêu nhau lạ lắm thay
Thời chúng mình, cái nắm tay cũng làm cả làng dị nghị,
Chúng nó thì nhận lời hôm trước, hôm sau đã đưa nhau vào nhà nghỉ,
Làm cái chuyện động trời!

Tôi kể bà nghe...
Chẳng biết tôi với đã quá lỗi thời,
Hay là vì lũ trẻ bây giờ học đòi tân tiến.
Chúng nó nghĩ yêu là phải hết mình dâng hiến,
Thế là mặc sức cho đi mà chẳng nghĩ đến cha mẹ, họ hàng...

Tôi kể bà nghe...
Ngày xưa chúng mình tìm hiểu nhau đứng đắn, đàng hoàng,
Bây giờ lũ trẻ nứt mắt ra, học cấp ba đã học đòi yêu đương dấm dúi,
Điện thoại tân thời, áo quần cũn cỡn, xe số xe ga...chúng nó đưa nhau vào bờ, vào bụi...
Chẳng ra cái thể thống gì!

Tôi kể bà nghe...
Lũ trẻ bây giờ yêu nhau rất lạ kỳ.
Chúng nó bảo yêu say đắm, yêu hết mình,
mà chẳng có bao nhiêu đôi đi được với nhau đến cùng trời cuối đất.
Chúng nó lướt qua cuộc đời nhau như chẳng có gì để mất,
Biến "Tình yêu" thành cái định nghĩa hết sức tầm thường...
Tôi kể bà nghe...
Tôi với tình thương mến thương
Hơn sáu chục năm trời mà thấy vẫn còn chưa đủ...
Lũ trẻ bây giờ chán rồi bỏ nhau, thất tình khóc xong rồi ngủ,
Sáng mai tỉnh dậy lại tươi tắn rêu rao :"Tìm một nửa thất lạc của đời mình".

Tôi kể bà nghe...
Ngày xưa chúng mình cứ phải cân nhắc bên hiếu, bên nghĩa, bên tình.
Bây giờ chúng nó nhắm mắt đưa chân mà chẳng một lần nhìn lại,
Chúng nó cứ mù quáng buông mình trôi đi mãi
Chẳng biết đâu mới là giới hạn, để dừng lại cho những tháng ngày sau...

Tôi kể bà nghe...
Tuy chúng mình già nhưng chẳng yếu lắm đâu!
Trái tim tôi với vẫn còn đập những nhịp nguyên lành cho những yêu thương ngọt ngào phía trước,
Lũ trẻ bây giờ trao cho nhau trái tim đã bao lần bị ném, vùi, vỡ xước...
Rồi chúng nó tự hỏi mình, đau khổ tại vì đâu?

Tôi kể bà nghe...
Tại vì chúng nó không biết trân trọng nhau!
Ở thời của chúng mình, cái gì vỡ thì cùng nhau hàn gắn,
Chúng nó thích tân thời, chúng nó ham vứt đi để mua cái mới...
Nên chúng nó chẳng giữ được cái gì bền vững vượt thời gian...

Tôi kể bà nghe...
Có một câu nói dân gian:
"Dẫu cho chẳng có bạc vàng,
Bên anh chỉ có mình nàng, anh vui!
Người ta sống ở trên đời,
Quý nhân, trọng nghĩa, là người an yên".
Du Phong

Image may contain: one or more people



__._,_.___

Posted by: Bich Huyen 

Sunday, February 9, 2014

Đi và Về



   From: Thong Nguyen
 

Subject:Đi và Về (bài này rất chí lý...)
Trở lại nơi mà chúng ta đã từ đó ra đi, hẳn là về. Nhưng nếu một gia đình sau khi ở Việt Nam vài tuần, đang sửa soạn hành lý ra sân bay, thì câu nói của chúng ta là: “Anh chị về Mỹ bình an!” mà không ai nói đi… Mỹ. Vậy thì đi đâu mà về đâu, hẳn nghĩa của hai tiếng “đi” và “về,” chẳng giống nhau!

Khi đi thì “…cột đèn biết đi cũng đã ra đi,” lén lút, hiểm nguy, chia lìa, vô định; khi về thì tấp nập, ồn ào, hể hả. Mấy ai nghĩ đến sự nghịch lý của chuyện đi và về.



Việt Kiều về quê ăn Tết. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

{Việt Kiều không phải là người Tỵ nạn cs,
Xin đừng nhằm lẫn}

Tết năm 2008, chính phủ Việt Nam loan báo có hơn 350,000 Việt Kiều (phải hiểu là người Việt ở ngoại quốc) về ăn Tết. Con số này càng ngày càng tăng theo thời gian mà không hề giảm sụt. Lý do người chưa về lần nào, thấy nhiều người về thì mạnh dạn về theo, người về rồi thấy vui, “có tiền” thì về nữa, như lời “Ngài Chủ Tịch Nước” nhắc nhở: “Ai chưa về thì về, ai về rồi thì về nữa!” Trong số người “có tiền” này có những người nhận tiền trợ cấp dưới danh nghĩa tị nạn, từ ngày đặt chân ướt lên Mỹ, Canada, Úc hay Âu Châu cho đến hôm nay.

Người tị nạn là người chạy trốn qua một xứ khác, nơi khác để thoát cảnh hiểm nguy, ngược đãi, hoặc bắt bớ bởi một quyền lực ở chốn cư ngụ. Căn cứ vào bằng chứng xác thực việc bị CS cầm tù trong nhiều năm, những người cựu tù nhân chính trị được Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan cấp visa cho vào định cư tại Mỹ dưới danh nghĩa tị nạn. Còn tất cả những người vượt biển, vượt biên khác, muốn được chấp nhận cho định cư đều phải kê khai trên giấy tờ hay qua một cuộc phỏng vấn của nhân viên Cao uỷ Tị Nạn LHQ về lý do họ phải bỏ nước ra đi đến đây.

Không như những người về ăn Tết ở trong nước, ở ngoại quốc kể cả Mỹ, Úc, Tây Âu, Canada, người Việt về quê ăn Tết đều dùng máy bay. Vé máy bay đi Việt Nam vào những dịp Tết Nguyên Ðán có khi đắt gấp đôi ngày thường mà người ta vẫn chen chúc và vẫn có tiền đi, mua chậm thì hết vé.

Người Việt ở tại các nước phương Tây sau biến cố Tháng Tư, 1975 là “định cư,” có hẳn quốc tịch, đã trở thành công dân của các nước này rồi, chứ không phải là người đi làm ăn xa, hay trú ngụ tạm thời như những người Việt trong nước hay những người Hoa về ăn Tết ở ngay quê hương của họ.

Nhưng đối với người Việt tỵ nạn đã bỏ nước, cứ hai người vượt biển, một vùi thây dưới biển sâu, bỏ cửa bỏ nhà quyết chí ra đi, thì mấy danh từ “về Việt Nam ăn Tết” nghe mỉa mai quá chừng!

Ở nước Úc vì gần với Việt Nam nên số người về ăn Tết rất cao. Ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc, bay về Saigon chỉ mất bảy tiếng, chỉ bằng số giờ lái xe tà tà từ Phước Lộc Thọ đi San Jose, nghe mà ham. Về ăn Tết, đi du lịch thì có cả nghìn lý do mà biện bạch. Thăm cha mẹ sắp lâm chung, dời mồ dời mả, bán nhà mua đất còn nghe được, nhưng với những lý do xả tang, dự đám cưới con ông chú, bà bác thì thà nói “đi Việt Nam chơi” còn hơn, còn chơi gì thì tùy ý thích của quý vị.

Chúng ta đã biểu tình, chúng ta đã chống Cộng, nhưng chúng ta lại thích về Việt Nam, vì lý do này hay lý do nọ, thì Cộng Sản không bao giờ sợ. Ðừng nghĩ là đi biểu tình thì Cộng Sản chụp ảnh, quay phim làm khó dễ khi về Việt Nam, nếu bị bắt hay bị làm khó dễ thì một đồn mười, ai mà dám về Việt Nam nữa. Cộng đồng chúng ta rất dễ giải, “chín bỏ làm mười,” chống thì cứ chống, về thì cứ về. Ca sĩ Việt Nam qua Mỹ trình diễn với trung tâm nào có lập trường chống Cộng, tôn vinh lá cờ VNCH thì về nước y như là bị khai trừ, bị chế tài, bị cấm hát, trái lại ca sĩ hải ngoại cũng về Việt Nam hát xướng, tuyên bố khen ngợi nhà nước Cộng Sản bên đó trở lại hải ngoại cũng không ai tẩy chay, vì chúng ta không có “nhà nước hải ngoại” và chúng ta tự do.

Chúng ta có sức mạnh của đô la mà chúng ta chưa sử dụng hết mười phần công lực của nó. Chúng ta ủng hộ công cuộc đấu tranh dân chủ, chống Việt Nam dâng đất dâng biển cho Trung Quốc mà vẫn về Việt Nam nườm nượp, vẫn đi qua các phi trường, kẹp tờ $10 vào trong sổ thông hành, nở một nụ cười “xã giao” với “công an cửa khẩu.”

Không phải đợi đến bây giờ mới có người kêu gọi “đừng về Việt Nam trong Tháng Tư, mà cách đây 5 năm (2009), trên nhật báo Người Việt, dưới mục tạp ghi, chúng tôi đã có bài “Về Việt Nam.” Xin trích:

“Chúng ta sử dụng sức mạnh của chúng ta thử một lần, dù là một lần thôi. Tôi không dám đề nghị đồng hương tỵ nạn Cộng Sản đừng về Việt Nam nữa, về thời gian nào cũng được, mà hiệp sức cùng không về Việt Nam trong một tháng thôi, như một ví dụ, đó là Tháng Tư, 2009. Chúng ta đã gọi là “Tháng Tư Ðen” vì sao chúng ta lại về Việt Nam trong tháng đó, chúng ta gọi là “mất nước” thì nước đâu nữa mà về?

Nếu trong Tháng Tư, 2009, tất cả đồng bào tỵ nạn hải ngoại không về thì chuyện gì sẽ xẩy ra ở Việt Nam? Phi trường vắng vẻ, khách sạn ế khách, hải quan đói meo, hàng quán thưa thớt, mãi lực của Saigon xuống thấp. Ðiều này có thể ảnh hưởng đến quần chúng lao động của các dịch vụ, nhưng đây là lúc đồng bào trong nước chia sẻ tâm tình hải ngoại và họ đang biết hải ngoại đang muốn gì, chống lại điều gì của đảng Cộng Sản trong nước, tùy theo điều mà chúng ta muốn chống hay muốn tỏ thái độ như việc Cộng Sản dâng Hoàng Sa cho Trung Quốc, việc Cộng Sản đàn áp các nhà tranh đấu dân chủ hay đây là dịp bày tỏ sự đồng tình với đồng bào Công Giáo Thái Hà. Hải ngoại không có lãnh đạo, hải ngoại có nơi đoàn kết nhưng cũng có nơi cấu xé nhau, hải ngoại nói và làm không đồng nhất, chúng ta có dám nhìn sự thật như vậy không?”

Năm 2009, từ trong ý nghĩ của cá nhân, chúng tôi đã tự túc in 2,000 truyền đơn và nhờ anh Trần Trọng An Sơn (TTCS) cùng một vài anh em đi rải ở những nơi đông người hay gắn lên kính xe của đồng bào ở Bolsa. Chúng tôi không có phương tiện và uy tín để kêu gọi giới truyền thông hải ngoại tiếp tay, cũng không có tiền để in bích chương, biểu ngữ để treo ở nơi đông người như chợ búa, nhà chùa hay nhà thờ, chạy slogan hay script trên truyền thanh, truyền hình khắp nước. Chúng tôi cũng hiểu rằng, điều quan trọng nhất không phải ở chỗ phương tiện, mà là sự việc nêu ra không được sự hưởng ứng của đồng bào, trừ những người đã nguyện là “không bao giờ về Việt Nam khi còn chế độ Cộng Sản.” Tiếng kêu “không về, không gửi tiền về Việt Nam trong Tháng Tư,” rõ ràng là “tiếng kêu trong sa mạc!”

Mới đây ba nhân vật của ba tổ chức có nhân sự và tầm vóc hoạt động lớn nhất trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ là Bác Sĩ Võ Ðình Hữu, chủ tịch Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch hội đồng đại diện Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại, và Giáo Sư Nguyễn Thanh Trang, chủ tịch Tổ Chức Dân Chủ Việt Nam, đã tổ chức họp báo để “kêu gọi đồng bào hải ngoại không về và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tuần lễ sau cùng của Tháng Tư Ðen, từ 24-30 Tháng Tư, 2014.”

Lời kêu gọi chỉ khiêm nhượng gói gọn trong vòng một tuần lễ của Tháng Tư năm nay mà thôi.

Năm xưa (2009) với một bài báo và 2,000 tờ truyền đơn của một ký giả nhỏ bé không hề đem lại một kết quả nào, thì năm nay (2014) với ba đoàn thể lớn “vào cuộc,” chúng ta có quyền hy vọng. Theo ông Hữu, ông đã có 36 cộng đồng người Việt ở Mỹ ký tên tham gia, gần như toàn thể người Việt ở Mỹ, tổ chức của ông Vinh hiện nay có hơn 10 trung tâm điều hợp trong nước Mỹ và trên thế giới… chúng ta mong mỏi ở kết quả của lời kêu gọi thiết tha này. Xin các tổ chức chủ quản in bích chương, biểu ngữ để treo ở nơi đông người như chợ búa, nhà chùa hay nhà thờ, chạy “slogan” hay “script” trên truyền thanh, truyền hình khắp nước và trước hết, ngay các nhân sự trong ba tổ chức này sẽ không có ai “rón rén” về Việt Nam hay gửi tiền trong Tháng Tư.

Theo tôi thu gọn lại việc không về hay gửi tiền trong chỉ “một tuần” cuối của Tháng Tư, 2014 là một chiến dịch quá khiêm nhường (một năm có 52 tuần), nhưng kết quả hay không mới là điều quan trọng. Không ai dại thức một mình khi mọi người đều ngủ.

Và chúng ta thường chê trong nước vô cảm, nhưng chúng ta mới là người vô cảm, xem chuyện đất nước này là của người khác, không dám bày tỏ, dù một thái độ nhỏ nhoi.


Huy Phương

Friday, December 6, 2013

Người Việt và Thói Vô Ơn


 

Thói vô ơn

 

Người Việt và Thói Vô Ơn

Đinh Nghệ An

 

Những câu mang tính giáo dục nhân bản như "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" đã đến với người Việt từ thời thơ ấu, nhưng chúng nhanh chóng tan biến cùng với sự trưỏng thành. Không phải tất cả, nhưng rất nhiều người Việt mang nặng thói vô ơn.
Người Việt trong nước thường lười nói 2 chữ "cám ơn" khi được giúp đỡ, mặc dù đó chỉ là hình thức. Dường như họ sợ rằng nói thế là thừa nhận mình mang ơn, trong khi họ thật sự được giúp đỡ. Đó chính là thói vô ơn.

Một hình thức khác là khi đã được giúp đỡ, người Việt thường tìm cách biện minh, nhằm tránh phải mang ơn, đại khái như "anh ta giúp tôi vì đó là tiền chùa", hay tệ hơn nữa "anh ta giúp tôi, hẳn tiền đó anh ta có được 1 cách bất hợp pháp". Chúng ta nên thừa nhận ơn nghĩa của người giúp đỡ, còn phần thứ 2 là "tiền của người giúp đỡ có được bằng cách nào hay anh ta giúp đỡ với mục đích gì" lại là chuyện khác. Nếu áy náy về phần thứ 2 thì xin đừng nhận, còn khi đã nhận thì phải chấp nhận sự mang ơn. Nhiều khi chẳng có bằng chứng gì để áy náy về số tiền ấy nhưng họ cố gắng vẽ vời, tưởng tượng, thậm chí lừa dối cả chính mình, để phủ nhận việc mình cần mang ơn và phủ nhận luôn lòng tốt của người giúp đỡ.

Còn nữa, người Việt thường không lưu tâm đến sự cố gắng, công sức và tâm huyết của người giúp đỡ mà họ chỉ nghĩ đến bản thân mình và món quà được nhận. Đây là điều mà các tổ chức từ thiện tại Việt Nam thường xuyên chứng kiến. Khi đến các địa phương làm từ thiện, các tổ chức này thường phải mời viên chức chính quyền địa phương cùng đến, nếu không sẽ gặp rắc rối (đây là hình thức tranh công liên quan đến việc thiếu lòng tự trọng của người Việt mà tôi sẽ đề cập vào 1 dịp khác) mặc dù chính quyền chẳng đóng góp gì. Thế mà phát biểu sau khi giúp đỡ thường là "cám ơn đảng và nhà nước ta ...".

Tôi nghĩ những người làm từ thiện đều biết rõ tình trạng bị tẩy não tại Việt Nam và thường họ không trách móc gì, thậm chí còn thương hại hơn vì thấy rằng những người dân ấy cần được giúp đỡ nhiều hơn nữa về những mặt khác. Bạn thân tôi cũng thế, nhưng qua việc ấy cũng phải thừa nhận 1 điều, đó là bằng chứng của thói vô ơn của nhiều người Việt.

Những người dân quê thì thế, còn những thành phần khác thì sao? Khá hơn, nhưng chẳng bao nhiêu. Có rất nhiều lần tương tự, và đây là 1 trường hợp cụ thể mà tôi nhớ được về thói vô ơn của thành phần tự cho là trí thức. Trong 1 lần sang Hàn Quốc thi đấu, đội bóng Việt Nam được 1 công ty Hàn Quốc tài trợ chi phí ăn ở. Thế là không ít tờ báo đăng tin "1 công ty Hàn Quốc xin được tài trợ cho đội tuyển Việt Nam" với đầy vẻ tự hào. Câu này phản ảnh nhiều điều và 1 điều quan trọng là thói vô ơn. Với thương trường, ai cũng biết công ty ấy có quyền lợi ở 1 hình thức nào đó chứ không phải cho không, nhưng, như đã nói trước đây, đó là chuyện khác. Còn bản thân mình thì phải biết mình đang "ăn cơm của họ". Các bạn cũng có thể thấy những ví dụ tương tự qua nhiều bài viết trên báo Việt Nam hiện nay.

Còn chính phủ Việt Nam ? Những người làm trong chính phủ cũng là người Việt, nhưng ở môi trường chính trị cơ hội của sự tráo trở lớn hơn rất nhiều, nên nếu chính phủ Việt Nam còn vô ơn hơn người dân Việt cũng là điều dễ hiểu. Hãy điểm sơ 1 vài sự kiện kẻo "Nhà Nước ta" lại bảo "bịa đặt, xuyên tạc lịch sử".

Năm 1945, chính phủ Việt Nam kêu gọi nhân dân đóng góp tài chánh cho ngân sách quốc gia, và đã thu được 1 số tài sản rất lớn. Nếu không có số tài sản ấy thì chính phủ đã sụp đổ rồi vì thời điểm đó, chẳng có quốc gia giúp đỡ chính quyền non trẻ tại Việt Nam, bất kể chính kiến. Hầu hết người đóng góp đều là thương gia hoặc địa chủ vì họ mới là thành phần có tài sản (công nhân và nông dân thì ngay cả ngày nay cũng chẳng đủ ăn, lấy gì đóng góp). Nói cụ thể là chính phủ Việt Nam đã xách bị gậy vào nhà các thương gia và địa chủ xin ăn. Các thương gia, địa chủ chẳng những cho cơm ăn mà còn cho áo mặc, thuốc men, vốn liếng làm ăn. Thế mà khi "thằng ăn mày" khỏe mạnh thì hắn ra chính sách "Cải Cách Ruộng Đất", "Đấu Tranh Chống Tư Sản Mại Bản", và biết bao nhiêu thương gia, địa chủ khánh kiệt, tù tội và chết chóc. Như thế chẳng phải vô ơn thì là gì?

Trong thời gian đánh Mỹ, Liên Xô cung cấp cho Việt Nam những hỏa tiễn hiện đại nhằm chống các cuộc không kích của Mỹ, nhất là để đối phó với máy bay B52. Thế nhưng ngay sau đó, chính phủ Việt Nam đã tung tin, và vẫn tồn tại đến ngày hôm nay, rằng hỏa tiễn Liên Xô không đủ hiện đại mà phải nhờ kỹ sư Trần Đại Nghĩa chỉnh sửa mới bắn hạ được B52. Chẳng cần đến những "bật mí" của các cựu chiến binh trong quân đội, với chút suy nghĩ thì mọi người đều thấy ngay là trò bố láo. Ngay cả ngày nay, Việt Nam còn chưa chế tạo được những con ốc trong xe hơi thì trong thời kỳ ấy, cơm còn chưa có ăn, chẳng lẽ sửa hỏa tiển bằng mỏ-lết à? Dĩ nhiên đây là mục đích tuyên truyền, kích khích tinh thần AQ của người Việt (vốn đã rất lớn) thì nó cũng nói lên cái thói vô ơn của chính phủ Việt Nam. Cái này chẳng khác gì sau khi xin được cơm, thằng ăn mày lại bảo nhờ ta chế biến mà cơm của nó mới có thể ăn được.

 Đó là vài trong vô số sự kiện trước đây, và ngày hôm nay cũng chẳng khá hơn. Các bạn có thể nhận thấy qua các sự kiện viện trợ, đầu tư của nước ngoài, cùng nhiều hình thức khác đối với người trong nước.

Người Việt ở nước ngoài thì sao? Cũng chẳng khá hơn. Biết bao nhiêu thuyền nhân, những kẻ mà có lúc sống mà tưởng chết, được các quốc gia phương tây cho nhập cư, tạo công ăn việc làm, xây dựng cuộc sống mới, với nền giáo dục tiên tiến, tuơng lai rực rỡ cho con cháu họ. Thế nhưng họ đã đối xử với đất nước cưu mang mình thế nào? Tương tự, một trong những đợt di dân lớn nhất tại Mỹ là những người đi theo diện HO, được chính phủ Mỹ đón họ bằng máy bay, với rất nhiều ưu đãi. Hầu hết những người HO này đều có 1 cuộc sống rất cơ cực tại Việt Nam, tương lai thì u ám, thậm chí không có điều kiện để nghĩ đến tương lai, và sang Mỹ thực sự là cuộc "lên Voi" với họ. Thế nhưng họ đã đối xử với nước Mỹ thế nào? Không phải tất cả, nhưng hầu hết người Việt sinh sống tại hải ngoại đều cố gắng trốn thuế, thậm chí coi đó là mục tiêu hàng đầu, làm gì cũng phải xem xét mục tiêu đó trước. Nếu họ có đóng 1 khoảng thuế nào đó thì chỉ vì họ không thể trốn. Có nhiều hình thức đóng góp cho xã hội, nhưng đóng thuế là hình thức đầu tiên, cụ thể nhất và cũng là quan trọng nhất.

Ngay cả đối xử với các thành viên trong xã hội cũng thế, họ vẫn luôn tìm cách biện minh để không phải mang ơn những kẻ giúp đỡ mình. Tôi đã được nghe nhiều lần về chuyện cuối năm các công ty thưởng cho nhân viên 1 số tiền nào đó và luôn nghe lời giải thích "tụi nó chẳng phải tốt lành gì, không thưởng cho mình thì số tiền đó tụi nó cũng phải đóng thuế vậy." Phải, tiền đóng thuế dựa theo thu nhập, nhưng họ quên hoặc cố tình quên 2 điều. Thứ nhất là chủ hãng vẫn có nhiều cách khác (như làm từ thiện v.v) để được miễn đóng thuế cho số tiền ấy. Thứ hai là chính họ mong muốn nhận số tiền thưởng ấy từ chủ hãng. Thế nhưng khi nhận được thì họ không hề nghĩ đó là sự giúp đỡ.

Tôi còn nhớ Việt Nam cũng có câu "giúp vật, vật trả ơn, giúp nhân, nhân trả oán". Phải chăng thói vô ơn đã là bản chất!

Đinh Nghệ An

Saturday, November 23, 2013

MẸ VỢ


on behalf of; NGUYỄN VÂN TÙNG [
 

 

MẸ VỢ

 

Mẹ vợ là một nhân tố không thể thiếu và không thể không đề phòng trong hôn nhân. Nhiều cặp vợ chồng đã tan vỡ, hoặc hạnh phúc vì mẹ vợ. Ở mỗi quốc gia, mẹ vợ lại có một biệt danh và nỗi sợ hãi khác nhau.

Xin thống kê để các ông chồng tham khảo:

 

Mỹ: Dân Mỹ gọi mẹ vợ là “luật sư”. Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào, mẹ vợ cũng tìm ra lý lẽ bênh vực cho con gái mình. Luật sư này cũng tính tiền công nhưng luôn luôn do con rể trả.

Tại sao các tổng thống Mỹ phần lớn đều tốt nghiệp trường luật? Tại vì họ muốn đấu tranh với mẹ vợ trước khi đấu tranh cho xã hội.

Pháp: Gọi mẹ vợ là quan tòa. Tất cả những phán quyết của quan tòa luôn luôn cần chấp hành, nhưng quan tòa có thể hối lộ được, đấy là chân lý đàn ông Pháp thuộc lòng.

 

Anh:

Dân Anh gọi mẹ vợ là “nữ bá tước” - danh hiệu có từ lâu đời, đáng kính nhưng không nhất thiết phải hỏi ý kiến trong nhiều vấn đề. “Nữ bá tước” có giá trị biểu tượng nhiều hơn giá trị thực, nhưng chớ quá coi thường. Các mẹ vợ Anh bằng lòng với danh hiệu này, bởi đối tượng của họ là bố vợ chứ không phải con rể.

Đức: Dân Đức gọi mẹ vợ là “sếp”. Sếp là nhân vật cấp trên bổ xuống đầu ta chứ chả cần hỏi ý kiến ta. Sếp có thể bất công, sếp có thể vui vẻ và sếp có thể công bằng nhưng không sếp nào muốn mất chức và không sếp nào muốn nhân viên lên làm sếp. 

Trung Quốc: Dân Trung quốc gọi mẹ vợ là “ma ma tổng quản” ý nói đây là một bà già thiên về quản lý chứ không thiên về văn hóa văn nghệ. Bà ấy rất khó khăn trong ngân sách, trong nội quy, trong giờ giấc nhưng lại thiếu hiểu biết về tâm hồn. Đáng sợ là các “ma ma tổng quản” đã ly dị chồng vì khi đó họ sẽ dồn sức cho công việc và khó tính hơn.

 

Ý: Dân Ý gọi mẹ vợ là “cảnh sát”. Chả ai thấy cảnh sát khi thường, nhưng có sự cố xảy ra họ tới rất nhanh và thường rút súng đầu tiên. Nhưng cảnh sát không bao giờ bắt được hết tội phạm. và việc cảnh sát thỉnh thoảng liên kết với tội phạm cũng xảy ra.
Tuy nhiên, cảnh sát tới bao giờ cũng hú còi, còn mẹ vợ có thể tới trong im lặng.


Tây Ban Nha: Người dân Tây Ban Nha gọi mẹ vợ là “thám tử”. Thám tử hoạt động âm thầm, không ra mặt điều tra công khai. Thám tử không phải lúc nào cũng dùng những nghiệp vụ hợp pháp. Nhưng thám tử cũng có thể dùng tới bạo lực.

 

Đan Mạch: Dân Đan Mạch gọi mẹ vợ là “lính gác”. Lính gác luôn có hai chức năng: khám xét người bên ngoài vào và khám xét người từ trong ra. Lính gác cũng hay ngủ gật và hay mang súng mà không có đạn. Tâm trạng của lính gác là cô đơn và ghét kẻ khác không cô đơn.

Thụy Điển: Người Thụy Điển gọi mẹ vợ là “giáo sư”. Một số thứ giáo sư có kiến thức cực kỳ sâu sắc, nhưng rất nhiều thứ giáo sư chả biết gì. Các giáo sư luôn tỏ ra đường bệ và luôn luôn cần có học trò. Giáo sư sống thanh đạm cho nên không hiểu được khi kẻ khác sống phong phú. Muốn được giáo sư cho điểm cao, đôi lúc chỉ cần học thuộc lòng.

Na Uy: Dân Na Uy gọi mẹ vợ là “cá voi”. Cá voi to lớn, hiền lành và hay cứu người. Nhưng nếu cần cá voi sẽ nuốt cá mập.

 

Việt Nam: Người Việt Nam gọi mẹ vợ đơn giản là mẹ vợ. Mỗi ông chồng có cách cư xử với mẹ vợ tùy vào hiểu biết và lòng dũng cảm.

Mời bà con Xóm Lá góp thêm ý kiến về mẹ vợ Việt Nam nha.

Chúc mọi người tuần mới vui vẻ, may mắn.

 

Tuesday, October 29, 2013

Những bóng hồng trong thơ nhạc:


 

Những bóng hồng trong thơ nhạc:

Bà Phạm Thị Nhu, vợ Hữu Loan kể :” Chúng tôi nuôi 10 đứa con thật vô cùng vất vả, ông nhà tôi đi thồ đá, tôi làm 2 sào ruộng, lại xay bột làm bánh bán ở chợ. Hôm nào bán ế là gánh về một gánh nặng, cả nhà ăn trừ bữa. Tôi cứ xào một xoong to toàn các thứ rau, các con đi học về là nhào vào múc ăn thay cơm. Ba đứa trai lớn thì hàng ngày phải dậy từ 3 giờ sáng, kéo 3 chuyến xe cải tiến từ trên núi xuống hồ cách 2 cây số bán cho các thuyền, rồi mới ăn vội bát cơm độn, để chạy bộ 7 cây số đi học .”

Các con của Hữu Loan gần như không có ai vào được đại học, vì lý lịch của 1 kẻ “nhân văn”. Một người con đủ điểm đi học nước ngoài cũng không được đi học. Ông đã bị biết bao người thân trách cứ. Nhưng, khi quyết định rời bỏ Hà Nội, Hữu Loan đã nói với vợ :

- Thôi thì bà và các con chịu khổ, để cho tôi được sông lương thiện. Tôi mà chịu khó hót thì nhà lầu, xe hơi sung sướng đấy, nhưng tôi không làm được .

Ông giải thích : Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi tôi về đi cày .

 

1956, Hữu Loan tham gia Nhân Văn Giai Phẩm. Trong thời kỳ này, bài thơ nổi tiếng xác định phong cách Hữu Loan là bài Cũng những thằng nịnh hót đăng trên Giai Phẩm Mùa thu, tập I:


Cũng những thằng nịnh hót


Dưới thời kỳ Pháp thuộc

Những thằng nịnh hót nghênh ngang

Lưng rạp trước quan Tây

Bắc vợ như thang

Chân trèo lên danh vọng

Đuôi vợ chúng đi

Lọt theo đầu chúng

Bao nhiêu nhục nhằn;

Nhục mất nước muôn phần

Nhục cùng đất nước

với những thằng nịnh hót

Một điều đau xót

Trong chế độ chúng ta

Trong chế độ dân chủ cộng hoà

Những thằng nịnh còn

thênh thang

đất sống

Không quần chùng, áo thụng

Không thang đàn bà

Nhưng còn

thang lưng

thang lưỡi

Những mồm

không tanh tưởi

Ngậm vòi đu đủ

Trợn mắt

Phùng mang


Thổi vào rốn cấp trên

“Dạ, dạ, thưa anh…

Dạ, dạ, em, em…”

Gãi cổ

Gãi tai:

… anh quên ngủ

quên ăn

nhiều quá!

Anh vì nước vì dân hơn tất cả từ trước đến nay

Chân xoa và xoa tay,

Hít thượng cấp

vú thơm như mùi mít

Gọi như thế là

phê bình cấp trên kịch liệt

Gặp cấp trên chủ quan

Mũi như chim vỗ cánh

Bụng phềnh như trống làng:

Thấy mình đạo đức tài năng hơn tất.

Như thế là chết rồi:

Quân nịnh tha hồ lên cấp

Như con gì nhà gác lên thang

Còn muốn lên thủ trưởng cơ quan

Còn đi đây đi đó

Lưỡi và lung

Lắm chằng gian khổ

Chúng nó ở đâu:

Thối thóc thuế

Mục kho hàng

Phong trào suy sụp

Nhân dân mất cắp

đang giữa ban ngày

To cánh và to vây

Những ai không  nịnh hót

Đi, mang cao liêm sỉ con người


Chúng gieo hoạ gieo tai

Kiểm thảo hạ tằng

Còn quy là phản động!

Có người đã chết oan vì chúng

Vẫn thiết tha yêu chế độ đến hơi thở cuối cùng

Nguy hiểm thay,Thật khó mà trông:

Chúng nó nguỵ trang
 
Bằng tổ chức bằng quan điểm nhân dân bằng lập trường chính sách
 
Chúng nó còn thằng nào

Là chế độ ta chưa sạch

Phải làm tổng vệ sinh cho kỳ hết mọi thằng

Những người đã đánh bại xâm lăng

Đỏ bừng mặt vì những tên quốc xỉ

Ngay giữa những thời nô lệ

Là người chúng ta không ai biết cúi đầu.

(9-1956) Sau cuộc thanh trừng năm 1958, Hữu Loan không bị đi cải tạo, có lẽ vì ông không ở trong danh sách được coi là "đầu sỏ". Hữu Loan tự ý bỏ về Thanh Hoá, ông đi thồ đá, bà làm ruộng và làm bánh, nuôi 10 người con. Không còn liên hệ gì với chính quyền nữa. Khi bị công an phiền nhiễu, ông đánh cả công an.

Hữu Loan là một trong những khuôn mặt trực tính và bất khuất nhất trong Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm.

 



 

Những bóng hồng trong thơ nhạc:

 Bài thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan được vinh danh là “một trong những bài thơ tình hay nhất thế kỷ XX” và lập những kỷ lục: Bài thơ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc nhất (7 ca khúc) và Bài thơ được mua với giá cao nhất (100 triệu đồng, thời điểm năm 2004).
 
Nhà thơ Hữu Loan thời thiếu niên (đầu thập niên 30 thế kỷ trước) thuộc dạng cực kỳ thông minh. Bố ông là tá điền, nhà nghèo không có điều kiện cắp sách đến trường như các bạn đồng trang lứa, Hữu Loan chỉ được cha dạy cho “chữ có, chữ không”…
 
Vậy mà cậu đỗ đầu kỳ thi cao đẳng tiểu học, rồi rời quê nhà (làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn) để lên tỉnh lỵ Thanh Hóa vừa đi dạy kèm, vừa theo học trường Trung học Đào Duy Từ.
 
Năm 1941, Hữu Loan ra Hà Nội thi tú tài, thi chỉ để “chứng tỏ con nhà nghèo cũng có thể đỗ đạt”. Y như rằng, trong hơn 700 thí sinh, nhưng số người đỗ chỉ “đếm trên đầu ngón tay” ấy lại có tên… Nguyễn Hữu Loan.Dạo ấy ở Thanh Hóa có cửa hàng vải và sách báo của bà Tham Kỳ (bà này tên thật là Đái Thị Ngọc Chất, vợ của ông Thanh tra Canh nông Đông Dương Lê Đỗ Kỳ, nên gọi tắt là bà Tham Kỳ).
 
Bà là người hiền lành, tốt bụng. Thấy “cậu tú Loan” là người hay chữ có tiếng lại thường đến cửa hàng của mình đọc sách, nên đã bàn cùng chồng mời “cậu tú” làm gia sư cho các con của mình, gồm: Lê Đỗ Khôi, Lê Đỗ Nguyên, Lê Đỗ An và cô con gái Lê Đỗ Thị Ninh… Trong hồi ký, nhà thơ Hữu Loan viết: “Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó 8 tuổi - mới chịu lỏn lẻn bước lên khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!”.
 
Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em học, dạy viết… Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo… những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…”.
 
Có một buổi chiều, anh giáo trẻ đưa cô học trò nhỏ lên chơi ở ngọn đồi gần nhà. “Leo đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời… “Thầy có thích ăn sim không?”. Tôi nhìn xuống sườn đồi tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ… Khi tôi tỉnh dậy, em ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy, chín mọng… “Thầy ăn đi!”.
 
Quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì nhưng thú thật chưa bao giờ tôi ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim.
 
Tôi cười phá lên, em cũng cười theo. Cuối mùa đông năm ấy, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó, nhỏ bé và mong manh. Em đưa bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi.
 
Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… Em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa… Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn, việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm soạn kịch bản.
 
Tôi bàn chuyện may áo cưới thì em gạt đi, bảo là “yêu nhau cốt là ở cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả!”. Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay lại… đẹp trai nên em thường gọi đùa là “anh chồng độc đáo”.
 
Đám cưới được tổ chức tại ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (nơi gia đình ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng) - rất đơn sơ nhưng hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần nghỉ phép của tôi trôi qua thật nhanh. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng.
 
 Chỉ có điều giờ em không còn là cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi rồi quay đầu nhìn lại… Nếu như chín năm trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này… đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống!Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời!
 
Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948. Em ra giặt quần áo ngoài sông Chuồn, vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi nên trượt chân chết đuối… Khi ấy, chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra…
 
Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu, những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nàng có ba người anh đi bộ đội/Những em nàng/Có em chưa biết nói… Tóc nàng xanh xanh/ngắn chưa đầy búi/Em ơi giây phút cuối/không được nghe nhau nói/không được trông nhau một lần/Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím/áo nàng màu tím hoa sim…”.
 
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương. Viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu tím hoa sim…”.
 
Sau năm 1975, nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Sài Gòn. Một hôm đang đi trên phố ông bắt gặp một người đàn ông cụt chân ôm cây guitar cũ kỹ hát xin tiền. Lời bài hát nghe quen quá: “Những đồi hoa sim ơi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt. Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai. Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến ai hẹn được ngày về. Rồi một chiều mưa bay, từ nơi chiến trường Đông Bắc đó, lần ghé về thăm xóm hoàng hôn tắt sau đồi…”. Hỏi, mới biết đó là bài Những đồi hoa sim mà lần đầu tiên Hữu Loan được nghe.
 
Ông đề nghị người hành khất hát lại một lần nữa, rồi vét sạch tiền trong túi bỏ vào chiếc ca nhựa và nói: “Tôi là tác giả bài thơ được phổ nhạc”, rồi bước đi với đôi mắt ngấn lệ… Hà Đình Nguyên  Thúy đã đi rồi, nhiều bạn đọc đã quan tâm đến nữ ca sĩ tài sắc một thời Thanh Thúy và yêu cầu cho biết rõ hơn về nhân vật này.
 
Xin cung cấp thêm nhiều chi tiết thú vị…Thanh Thúy tên thật là Nguyễn Thị Thanh Thúy, sinh năm 1943 tại Huế trong một gia đình có 5 người con. Do bà mẹ mắc bệnh nan y nên gia đình Thanh Thúy phải rời đất Thần kinh đưa mẹ vào Sài Gòn chữa trị. Gia đình họ thuê một căn nhà nhỏ trong con hẻm trên đường Cao Thắng.
 
Để mưu sinh và để kiếm thêm tiền phụ vào việc thuốc thang cho mẹ, Thanh Thúy đã đến với nghiệp ca hát khi mới 16 tuổi. Thân gái dặm trường nơi đất khách quê người, điều khiến cho Thanh Thúy “dám” tự tin xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu chính là giọng hát của mình vốn từng được nhiều lời khen ngợi.Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Lần đầu tiên tiếng hát Thanh Thúy đến với công chúng Sài Gòn là ở phòng trà Việt Long của Đức Quỳnh vào cuối năm 1959.
 
Với chất giọng trầm ấm, hơi khàn và lối phát âm, nhả chữ rất riêng, giọng ca của Thanh Thúy mang nỗi buồn man mác, nghẹn ngào nức nở. Dáng dấp mảnh mai và mái tóc dài buông lơi trên đôi vai gầy trong tà áo dài màu trắng hoặc lam nhạt... tạo cho nàng ca sĩ xứ Huế này một phong thái thật đặc biệt… Những bản nhạc Thanh Thúy thường hát là Giọt mưa thu (Đặng Thế Phong), Tiếng xưa (Dương Thiệu Tước), Kiếp nghèo (Lam Phương), Tàu đêm năm cũ, Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương)…
 
Tháng 6.1960, thân mẫu của Thanh Thúy qua đời, điều đó càng làm cho giọng hát của chị thêm não nùng để những ai “lỡ nghe” đều có cảm xúc lâng lâng… Và, như đã nói ở bài trước, có cả một thế hệ văn nghệ sĩ ở Sài Gòn đâm ra…mê mệt với Thanh Thúy, trong đó có một chàng thư sinh mới tò te bước vào làng nhạc, nhưng sau này rất nổi tiếng: Trịnh Công Sơn!Trong tác phẩm Về một quãng đời Trịnh Công Sơn (của Nguyễn Thanh Ty), nhạc sĩ tâm sự: “Năm đó tôi 17 tuổi, trọ học ở Sài Gòn, đêm nào tôi cũng lò dò đến các phòng trà để nghe Thanh Thúy hát.
 
Dần dần hình bóng Thanh Thúy đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết. Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa hẳn bởi tôi mặc cảm nghèo và vô danh, trong khi Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập. Biết vậy, nhưng tôi không thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng.
 
Có đêm tôi chỉ đủ tiền để mua một ly nước chanh. Đêm đêm tôi thao thức với những khát khao, mơ ước phải làm một cái gì đó để tỏ cho Thanh Thúy biết là tôi đang rất ngưỡng mộ nàng. Cái khát vọng đó đã giúp tôi viết nên bản nhạc Ướt mi đầu tiên trong đời...”.
 
Đó là lần ngồi ở nhà hàng Mỹ Cảnh, chàng trai trẻ Trịnh Công Sơn đã viết vào một mảnh giấy nhỏ, đề nghị ca sĩ Thanh Thúy hát bài Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong. Điều chàng bất ngờ là Thanh Thúy đã hát bài này với một cảm xúc thật mãnh liệt, khi hát “...vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành, như nhủ trời xanh: Gió ngừng đi, mưa buồn chi, cho cõi lòng lâm ly... Ai nức nở thương đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...” - nhớ đến người mẹ bị lao phổi nặng, đang mỏi mòn chờ con trong căn nhà nhỏ ở con hẻm sâu - nàng đã bật khóc.
 
Những giọt nước mắt đọng trên vành mi của người ca sĩ tuổi mới tròn trăng đã gieo vào lòng Trịnh Công Sơn nỗi xúc cảm tràn ngập để chàng viết thành ca khúc Ướt mi.“Khi hoàn thành, tôi nắn nót chép lại thật kỹ càng và luôn mang theo bên mình chờ có dịp tặng nàng. Với sự nhút nhát của tuổi trẻ, tôi không dám đưa tặng ngay mà phải chờ khá lâu mới có cơ hội.
 
Một hôm tôi đánh bạo, tìm một chỗ sát sân khấu, dự định khi nàng vừa dứt tiếng hát là tôi sẽ đứng lên đưa luôn. Đã mấy lần định làm vẫn không kịp. Nàng vừa cúi đầu chào khán giả là đã có người chực sẵn rước đi ngay. Cái đêm định mệnh mà tôi quyết tâm an bài đã thành công.
 
Khi cầm bản nhạc trong tay, nghe mấy lời lí nhí của tôi, nàng chỉ thoáng nhìn tôi một chút rồi quay vào hậu trường. Đêm đó, tôi nôn nao không ngủ được... Mãi đến hai tuần sau, khi tôi sắp tuyệt vọng vì mỏi mòn chờ đợi thì một đêm kia, khi bước lên bục diễn, dàn nhạc dạo khúc mở đầu thì nàng ra dấu cho dàn nhạc tạm im tiếng để nàng nói vài lời: “Thưa quý vị ! Đêm nay Thúy sẽ trình bày một tác phẩm rất mới của một nhạc sĩ rất lạ tặng cho Thúy.  
 
Đó là nhạc phẩm Ướt mi của tác giả Trịnh Công Sơn. Hy vọng đêm nay sẽ có sự hiện diện của tác giả để Thúy được nói vài lời cám ơn”. Nói xong, nàng quay sang ban nhạc, đưa bản nhạc của tôi cho họ dạo nhạc bắt đầu. Nàng cất tiếng hát: “Ngoài hiên mưa rơi rơi, lòng ai như chơi vơi.
 
Người ơi nước mắt hoen mi rồi. Đừng khóc trong đêm mưa, đừng than trong câu ca... Buồn ơi trong đêm thâu, ôm ấp giùm ta nhé: người em thương mưa ngâu, hay khóc sầu nhân thế…Trời sao chưa thôi mưa, ôi mắt người em ấy.
 
Từ đây thôi mờ, nước mắt buồn mi em thơ ngây...”. Tôi run lên trong lòng vì sung sướng và xúc động…Khi dứt tiếng hát, nàng dừng lại khá lâu, có ý chờ người tặng nhạc.
 
Tôi thu hết can đảm, bước lên và nói: “Xin cám ơn Thanh Thúy đã hát bài nhạc của tôi”. Nàng “A” lên một tiếng ra vẻ bất ngờ rồi nói tiếp: “Thúy rất cám ơn anh đã tặng cho bản nhạc. Thúy muốn nói chuyện riêng với anh được không ?”.
 
Tôi luống cuống gật đầu…Tôi cùng nàng đón taxi về nhà nàng. Nhà nàng ở sâu trong một ngõ hẻm... Cũng chính từ ngõ hẻm nhà nàng mà Trịnh Công Sơn làm tiếp bài Thương một người: “Thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi môi... Thương nụ cười và mái tóc buông lơi. Mùa thu úa trên môi, từng đêm qua ngõ tối, bàn chân âm thầm nói. Lặng nghe gió đêm nay, ngại buốt quá đôi vai.
 
Bờ vai như giấy mới, sợ nghiêng hết tình tôi…”. Đó là hai bản nhạc trong “thuở vào đời” của Trịnh Công Sơn và những kỷ niệm thật đẹp với nữ ca sĩ Thanh Thúy.  
 
Hà Đình Nguyên Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, Đặng Thế Phong là một trường hợp đặc biệt. Ông là một trong rất ít nhạc sĩ tiên phong của thời kỳ tân nhạc còn phôi thai, chết rất trẻ nhưng kịp để lại cho đời 3 ca khúc bất hủ.
 
Người viết có may mắn được gặp gỡ hai người biết khá rõ về cuộc đời Đặng Thế Phong. Đó là nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả ca khúc Gợi giấc mơ xưa (hiện sống tại TP.Saigon) và nhà văn Phạm Cao Củng (gặp cách đây khoảng 10 năm, khi ông từ Mỹ về thăm quê hương, qua sự giới thiệu của họa sĩ Mạc Chánh Hòa).
 
Theo nhà văn Phạm Cao Củng thì Đặng Thế Phong là một chàng trai rất đẹp, đàn hay hát giỏi, thích hóa trang thành thiếu nữ trong những vở kịch ngắn. Anh diễn rất đạt nên ai cũng yêu thích, nhất là phái nữ. Nhạc sĩ Lê Hoàng Long thì khẳng định người yêu của Đặng Thế Phong tên Tuyết. Tuyết không đẹp nhưng có duyên.
 
Cô là con gái một chủ tiệm buôn bán “gối màn chăn drap” ở chợ Sắt (Nam Định). Vốn tính nhút nhát, Đặng Thế Phong nghĩ mãi cũng không biết làm cách nào để “tiếp cận” người đẹp. Cuối cùng, anh vờ làm khách hàng vô hỏi giá rồi... nhét vội vào tay nàng một lá thư.
 
Chẳng biết nội dung bức thư đầu tiên này mùi mẫn như thế nào mà sau đó cô Tuyết đã cự tuyệt một anh thông phán trẻ làm việc ở Tòa Đốc lý Nam Định, khi anh này dạm hỏi.
 
Thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng Trước khi quen và yêu Tuyết, Đặng Thế Phong đã sáng tác ca khúc đầu tay Đêm thu trong một đêm cắm trại của Hướng đạo sinh (1940). Ca từ của bản nhạc rất trong trẻo, lạc quan... Còn bản Con thuyền không bến thì được sáng tác ở Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) khi tình yêu giữa nhạc sĩ và cô Tuyết đang độ chín mùi. 
 
 Một hôm, ông cùng một nhóm bạn văn nghệ sĩ lên Bắc Giang chơi, nhân đó họ tổ chức một đêm đi thuyền trên sông Thương. Cùng lúc đó, chàng nhận được tin Tuyết ngã bệnh nơi quê nhà. Lòng dạ bồn chồn, xót xa, Đặng Thế Phong ôm đàn bước vào khoang thuyền, bỏ mặc các bạn đang đùa vui. Khi đêm sắp tàn thì bản nhạc hoàn tất với những lời ai oán não nùng gửi về... chân mây: “Đêm nay thu sang cùng heo may.
 
Đêm nay sương lam mờ chân mây... như nhớ thương ai chùng tơ lòng...”, rồi “... Nhớ khi chiều sương cùng ai trắc ẩn tấm lòng. Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng...”. Sớm hôm sau, Đặng Thế Phong tức tốc trở về Hà Nội, người đầu tiên được nghe chính tác giả hát ca khúc này là người yêu của ông.
 
 Cô Tuyết hết sức cảm động. Chưa hết, chỉ ít lâu sau, Con thuyền không bến ra mắt khán giả thủ đô tại Nhà hát Lớn Hà Nội qua tiếng hát của nữ ca sĩ Vũ Thị Hiển. Từ Nam Định, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội, ngồi cạnh Đặng Thế Phong, ngay ở hàng ghế đầu để nghe bài hát “người ấy làm riêng cho mình”.
 
Hạnh phúc còn nhân đôi bởi chỉ khoảng một tuần sau, tại rạp Olympia (phố Hàng Da, Hà Nội), cô Tuyết còn được chứng kiến người mình yêu tự đệm đàn, tự hát ca khúc này mà ánh mắt luôn trìu mến hướng về chỗ cô ngồi, trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của khán giả. Trời thu gieo buồn lây Sau khi từ Bắc Giang về, Đặng Thế Phong đã nhuốm bệnh.
 
Thời đó, bệnh lao là một bệnh nan y và luôn bị những người chung quanh xa lánh.Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ở tỉnh không đủ điều kiện chữa trị, Đặng Thế Phong phải chuyển lên Hà Nội, sống chung với ông chú họ Nguyễn Trường Thọ trong một căn gác ở làng hoa Ngọc Hà (ngoại ô Hà Nội).
 
Tuy vậy, tình trạng vẫn không khá hơn chút nào. Gia cảnh nghèo nàn, tiền bạc phải vay mượn để chữa trị, cuộc sống kham khổ làm cho tình cảnh của nhạc sĩ càng thêm nghiệt ngã... Cô Tuyết vì phải phụ giúp gia đình chuyện buôn bán ở thành Nam nên vài hôm mới lên Hà Nội chăm sóc người yêu rồi lại tất tả quay về. Tháng 7 mưa ngâu.
 
Cảnh buồn tê tái. Đặng Thế Phong nhớ Tuyết quay quắt... Nhạc hứng tuôn trào, chàng gượng ngồi dậy, ôm đàn và viết nên khúc nhạc buồn da diết: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây.  
 
Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...”. Bản nhạc được chàng đặt tên là Vạn cổ sầu. Bạn bè góp ý nhạc thì hay nhưng cái tựa bi thảm quá. Cuối cùng, tên bản nhạc được đổi thành Giọt mưa thu.
 
Cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi, Đặng Thế Phong nhờ ông Thọ đưa về Nam Định. Từ đấy cho đến lúc Đặng Thế Phong lìa đời, cô Tuyết lúc nào cũng túc trực bên giường bệnh để chăm sóc ông, khiến những người quen biết đều xót xa thương cảm cho một mối tình vô vọng lẫn nể phục tính cách cao thượng chung thủy của Tuyết.
 
Tang lễ của chàng nhạc sĩ 24 tuổi ấy được rất nhiều thanh niên nam nữ của thành Nam tham dự. Ngoài việc đưa tiễn một người con tài hoa nổi tiếng của quê hương, họ còn muốn chia sẻ và tỏ lòng trân trọng đến với cô thiếu nữ mặc áo đại tang đi sau linh cữu của chàng (việc này được phép của cả hai gia đình).  Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại TP.Nam Định.
 
Cha là Đặng Hiển Thế - thông phán Sở Trước bạ Nam Định. Thân phụ Đặng Thế Phong mất sớm, hoàn cảnh gia đình quá túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ dở việc học (đang học năm thứ hai bậc thành chung - tương đương lớp 7 bây giờ) để lên Hà Nội tìm kế sinh nhai. Với chất nghệ sĩ thiên phú và tư chất cực kỳ thông minh, Đặng Thế Phong đã “len” vào được Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (học dự thính). Ở Hà Nội, Đặng Thế Phong vừa học vẽ vừa thực hành để nuôi thân.
 
Ông chuyên vẽ minh họa cho tờ báo Học sinh do nhà văn chuyên viết truyện trinh thám Phạm Cao Củng làm chủ nhiệm. Hà Đình Nguyên  Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được ghi nhận là một trong những người đặt nền móng cho nền tân nhạc Việt, còn người bạn đời của ông - ca sĩ Minh Trang - cũng được cho là một trong những ca sĩ tiên phong của làng ca nhạc Việt. Tiếng hát “lá ngọc cành vàng” Trước khi gặp nhau, Dương Thiệu Tước và Minh Trang đều xuất thân từ những gia đình “danh gia vọng tộc”. 
 
Dương Thiệu Tước sinh năm 1915 tại làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Ông là cháu nội của cụ nghè Dương Khuê. Ở giai đoạn phôi thai của nền tân nhạc Việt, trong khi nhiều người mượn những bài hát phương Tây rồi đặt lời Việt cho dễ hát thì ông lại cả gan viết “lời Tây theo điệu ta”.
 
Dương Thiệu Tước đánh đàn guitar hawaienne rất giỏi, ông còn là chủ nhân của một cửa tiệm bán đàn ở phố Hàng Gai, Hà Nội và có mở cả lớp dạy đàn. Trong sinh hoạt hằng tuần với các bạn nhạc sĩ tài tử của mình, ông đã sáng tác mấy bài mang những đầu đề bằng tiếng Pháp, như Joie d'aimer (Thú yêu đương), Souvenance (Hồi niệm), Ton Doux Sourire (Nụ cười êm ái của em)... Lời ca của những bài này do Thẩm Bích (anh ruột của Thẩm Oánh) soạn bằng Pháp ngữ.
 
Ông từng tuyên bố: "Nếu đã có nhà văn Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng có thể viết được những bản nhạc có âm điệu Tây phương'' (Báo Việt Nhạc số 5, ngày 16.10.1948)... Còn cô Nguyễn Thị Ngọc Trâm (tên thật của Minh Trang) là con gái của quan Tổng đốc Bình Định Nguyễn Hy (sau này ông còn làm Tổng đốc Thanh Hóa, rồi Thượng thư Bộ Hình). Ngọc Trâm còn là cháu ngoại của công chúa Mỹ Luông (còn gọi là Bà Chúa Nhất) - em ruột vua Thành Thái...
 
Ngọc Trâm chào đời năm 1921 trong một nhà hộ sinh nằm ngay trên Bến Ngự (Huế). Như một định mệnh, 25 năm sau, một bài hát bất hủ mang tên Đêm tàn Bến Ngự của một nhạc sĩ tài hoa ra đời mà tên tuổi của ông sẽ gắn liền với cuộc đời của cô bé Ngọc Trâm sau này.
 
Thời thiếu nữ, ngoài sắc đẹp trời cho, Ngọc Trâm còn sở hữu một giọng hát thiên phú. Những năm học tiểu học ở trường dòng Jeanne d’Arc, rồi trung học ở Lycée Khải Định (Huế) thập niên 1930, tiếng hát của cô làm cho biết bao thầy cô, bạn bè cùng trường ngây ngất. Dĩ nhiên, đó là những bài hát Pháp, bởi lúc đó chưa có bài hát nào mà bây giờ chúng ta gọi là “nhạc tiền chiến”…
 
Năm 1942, sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần (nên nhớ vào lúc đó rất hiếm phụ nữ đỗ đạt như thế), Ngọc Trâm kết hôn với một giáo sư nổi tiếng của đất thần kinh: giáo sư Ưng Quả (cháu nội của Tuy Lý vương Miên Trinh)… Nhưng chỉ mấy năm hương lửa mặn nồng, giáo sư Ưng Quả qua đời trong giai đoạn chuyển mình của đất nước, chế độ phong kiến cáo chung.
 
Lúc này, giai cấp quan lại, thượng lưu không còn được ưu đãi, cuộc sống của họ trở nên khó khăn…
 
Năm 1948, Ngọc Trâm đưa 2 người con vào Sài Gòn dự thi và trúng tuyển vai trò xướng ngôn viên cho Đài phát thanh Pháp Á.
 
Công việc của cô là dịch những bản tin từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và đọc những bản tin đó trên làn sóng. Trong những lần dịch tin, Ngọc Trâm thường nghêu ngao những bài hát Việt mới thịnh hành gần đây như Giọt mưa thu, Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong, sáng tác năm 1939), Tiếng xưa (1940),
 
Đêm tàn Bến Ngự (1946) của Dương Thiệu Tước... Hát chơi vớ vẩn thế thôi, vậy mà tiếng hát ấy đã làm cả đài phát thanh ngẩn ngơ.
 
Một hôm, ông Hoàng Cao Tăng - chủ sự Phòng Văn nghệ chợt đề nghị Ngọc Trâm thử hát trên sóng phát thanh một bài. Sau những đắn đo và cả những lời động viên, khuyến khích, tiếng hát của… nữ ca sĩ Minh Trang lần đầu tiên gửi đến quý thính giả Đài Pháp Á qua ca khúc Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong. Minh Trang hát hay đến nỗi đài phát thanh quyết định trả “cát sê” ngay, không kể tiền lương... Cũng cần nói thêm, do ngại ngùng nên Ngọc Trâm không dám hát với tên thật mà ghép tên của hai người con (Bửu Minh và Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang) thành nghệ danh (Đoan Trang sau này trở thành nữ ca sĩ Quỳnh Giao ở hải ngoại).
 
Từ đó, tiếng hát của nữ ca sĩ Minh Trang theo sóng phát thanh của Đài Pháp Á lan tỏa khắp nơi. Năm 1949, chính Thủ hiến Bắc kỳ Nguyễn Hữu Trí gửi công văn mời đích danh ca sĩ Minh Trang tham dự Hội chợ đấu xảo tại Hà Nội.
 
Đây là dịp để các nhạc sĩ hào hoa xứ Bắc kéo nhau đến chiêm ngưỡng nhan sắc của “giọng hát vàng phương Nam”. Và định mệnh đã xuống tay khi trong số những tài tử ấy có mặt Dương Thiệu Tước. Tuy đã có hai mặt con nhưng Minh Trang lúc ấy vẫn giữ được một vẻ đẹp quý phái “chim sa, cá lặn”.  
 
Duyên nợ ba sinh Đúng 60 năm sau (2009), ở tuổi chín mươi, bà Minh Trang kể lại với nhà thơ Du Tử Lê rằng: “Mặc cho các bạn Thẩm Oánh, Nguyễn Thiện Tơ, Dzoãn Mẫn… lăng xăng, líu lo, rối rít, ông ấy (Dương Thiệu Tước) im lặng từ đầu đến cuối. Chỉ nhìn thôi. Lâu lâu mới mỉm cười.
 
Sự xa cách, lặng lẽ này khiến tôi càng thêm chú ý. Trước khi gặp gỡ, tôi đã từng hát nhạc của ông ấy nên tôi cũng rất ao ước được gặp mặt con người tài hoa này”.
 
Thế rồi “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”...Khi Minh Trang trở lại Sài Gòn, chỉ ít ngày sau nàng nhận được thư tỏ tình của tác giả Tiếng xưa. Có lẽ vẻ lạnh lùng, ít nói của ông khi cùng các bạn vây quanh Minh Trang là do ông tự mặc cảm mình đã có vợ (19 tuổi, ông lập gia đình với bà Lương Thị Thuần, cũng xuất thân từ một dòng họ khoa bảng. Thời đó việc kết hôn thường được các cụ dàn xếp theo truyền thống “môn đăng hộ đối”.
 
Ông bà đã có 3 con gái và 2 con trai). Thế nhưng khi Minh Trang như cánh chim vút bay xa thì ông không thể dối lòng được nữa, ông thật sự bị “hớp hồn” bởi vẻ đẹp và giọng hát của nàng. Những cánh thư liên tiếp qua lại giữa hai miền. Những ca khúc ông sáng tác trong giai đoạn này do Nhà xuất bản Tinh Hoa (Huế) xuất bản, ông không còn đứng tên đơn lẻ nữa, mà ghi “Nhạc và lời:
 
Dương Thiệu Tước - Minh Trang”. Đó là những ca khúc bất hủ, tiêu biểu như Bóng chiều xưa, Buồn xa vắng, Khúc nhạc dưới trăng, Ôi quê xưa, Vui xuân... Nữ ca sĩ Minh Trang cũng kể lại rằng, trước khi nhận lời cầu hôn của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, chính bà đã bay ra Hà Nội để gặp người vợ trước của ông này và thông báo quyết định của hai người. “Có thể không có một người phụ nữ thứ hai, nhất là ở thời đó, hành xử như tôi. Nhưng đó là tôi, cách của tôi: tự tin và tự trọng!” - bà nói. 
 
Khi hai người chính thức chung sống ở Sài Gòn, ông làm tặng vợ mình ca khúc Ngọc Lan. “Ngọc Lan” là do tên Ngọc Trâm của bà. Nếu ai có bản gốc của Nhà xuất bản Tinh Hoa (1953) sẽ thấy tất cả những chữ Ngọc Lan trong bài hát đều được viết hoa, để phân biệt đây là tên người chứ không phải là tên loài hoa: “Ngọc Lan, dòng suối tơ vương, mắt thu hồ dịu ánh vàng. Ngọc Lan, nhành liễu nghiêng nghiêng, tà mấy cánh phong, nắng thơm ngoài song... Ngọc Lan, giọng ướp men thơ, mát êm làn lụa bông là. Ngọc Lan, trầm ngát thu hương, bờ xanh bóng dương phút giây chìm sương... (Ngọc Lan). Sau 25 năm chung sống, đôi tài tử giai nhân có thêm 5 người con (1 trai, 4 gái).
 
Cùng với Bửu Minh và Đoan Trang, tất cả đều được “bố Tước” đào tạo bài bản ở Trường quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn. Sau năm 1975, bà Minh Trang và các con sang định cư ở Mỹ. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước ở lại và qua đời vào ngày 1.8.1995 tại TP.Saigon, thọ 80 tuổi. Bà Minh Trang mất ngày 17.8.2010 tại California (Mỹ), thọ 90 tuổi.
 
Hà Đình Nguyên    

 

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List