Popular Posts

Showing posts with label cải cách ruộng đất. Show all posts
Showing posts with label cải cách ruộng đất. Show all posts

Monday, December 24, 2012

Việt sử và những mùa Xuân Dân tộc

Việt sử và những mùa Xuân Dân tộc
 

Việt sử

và những mùa Xuân Dân tộc 

Nguyễn Thu Trâm


 

Trong tâm thức của người Việt, mùa xuân được coi là mùa của sự khở đầu, của sự phát triển, sự hồi sinh của cuộc sống mới và một chu kỳ sống mới lại bắt đầu, mặc dù mùa đông ở Việt Nam không quá lạnh giá và khắc nghiệt như ở một số nước ở hai đầu địa cực nhưng mùa đông cũng được xem là mùa sự kết thúc, của u buồn bởi sự sống của muôn vật dường như ngưng trệ trong chu kỳ này của thời gian. Chính vì vậy mà người Việt chúng ta tổ chức lễ đón mừng năm mới vào Tiết Nguyên Đán, mà dần dà bị biến âm thành Tết Nguyên Đán hay Tết, là lễ chào đón tân niên và bắt đầu cho một mùa lễ hội mới: Mùa Xuân.

Cũng bởi tâm thức này mà ngay khi vừa giành được độc lập ngắn ngủi thoát khỏi ách thống trị của Nhà Lương là Lương Vũ Đế vào tháng 2 năm 544, Lý Bí đã xưng là Lý Nam Đế và đặt quốc hiệu là Vạn Xuân với ước vọng đất nước chúng ta trường tồn mãi mãi.

Tất nhiên sự trường tồn của đất nước, của dân tộc không chỉ là ước vọng riêng của vị Hoàng Đế khai sáng nhà tiền Lý, mà đó cũng là ước vọng của toàn dân Việt. Cũng bởi ước vọng đó về một đất nước Vạn Xuân mà bao thế hệ cha ông chúng ta đã không tiếc máu xương, đã ngã xuống, vì nền độc lập, vì sự trường tồn của nòi giống.

Lịch sử Việt tộc đã gắn liền với nhiều mùa xuân với những chiến công oanh liệt hào hùng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Trong tinh thần ôn cố, tri tân, trong dịp xuân về này, chúng ta hãy điểm lại những mùa xuân cả hào hùng cả bi thương của dân tộc để chúng ta, những người Việt xa xứ và cả các thế hệ cháu con của chúng ta nữa sẽ không quên được bởi ai, vì đâu và tại sao chúng ta phải có mặt ở nơi này. Để chúng ta có thể đoán định về một tương lai cho mình, cho đất nước, cho dân tộc.
 
 Để chúng ta có thể hy vọng cho một mùa xuân hào hùng mới nữa của lịch sử dân tộc, đang đến, sẽ đến để chúng ta, những người Việt xa xứ, sẽ không còn phải sống đời lưu vong rồi phải gửi lại nắm xương tàn nơi xứ lạ, và đồng bào của chúng ta ở quốc nội cũng sẽ không còn sống đời lầm than, đói nghèo, tủi nhục và nhược hèn dưới ách thồng trị của bạo quyền.

Trước tiên là những mùa xuân hào hùng của dân tộc:

Có lẽ mùa xuân hào hùng đầu tiên của Việt Tộc là mùa xuân năm Đinh Tỵ 1077 với chiến thắng trên sông Như Nguyệt, Bắc Ninh khi Lý Thường Kiệt đánh bại đại quân xâm lược của nhà Tống là Tống Chiêu Ninh do Chiêu thảo Sứ Quách Quỳ và Triệu Tiết thống lĩnh, diễn ra từ ngày 18 tháng 1 đến đầu tháng 2 năm1077. Với chiến thắng này, quân dân Đại Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến phạt Tống, Bình Chiêm lần thứ II từ 1075 đến1077.

Mùa xuân năm Mậu Ngọ1258 diễn ra cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ I, trong đó nhân dân làng Xối Đông xã Trung Đông, huyện Nam Ninh, Nam Hà đã tổ chức ba đồn binh cùng với một cánh quân của Nhà Trần đã đánh tan một đạo quân của Ô Mã Nhi ở cầu Vô Tình, khi chúng sang sông cướp phá, rồi tiếp theo là cuộc phản công bằng trận Đông Bộ Đầu ngày 29 tháng 1 năm 1258, đập tan âm mưu xâm lược Đại Việt của quân Nguyên-Mông.

Mùa xuân năm 1285 diễn ra trận phòng ngự ở Vạn Kiếp (2/1285) do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy, đánh thắng quân Nguyên-Mông trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ II.

Mùa xuân năm Ất Dậu1288, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng quân dân Đại Việt đã tiêu diệt hàng vạn quân Nguyên-Mông do Thoát Hoan, Toa Đô và Ô Mã Nhi thống lĩnh, trên đường rút chạy đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 2 vào ngày 9 tháng 4 năm 1288, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần III từ 1287 đến1288.

Mùa xuân năm Giáp Thìn1785 với chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút vào ngày 20 tháng 1 năm 1785 người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ cùng quân dân Tây Sơn đã đập tan âm mưu can thiệp của phong kiến Xiêm La, mở đầu cho các chiến dịch bình định nước nhà, kết thúc cuộc chiến Nam-Bắc phân tranh của Trịnh Nguyễn kéo dài ngót 100 năm, đã gây ra muôn vàn đau thương mất mác cho nhân dân cả đàng trong lẫn đàng ngoài.

Mùa xuân Kỷ Dậu 1789, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ cùng mười vạn binh và 100 voi trận đã đánh tan tành 20 vạn quân Mãn Thanh xâm lược ra khỏi bờ cõi, thống nhất nước nhà sau hơn 100 năm loạn lạc chia cắt do sự phân tranh của Trịnh - Nguyễn.

Và những mùa xuân bi thương trong lịch sự của dân tộc…

Từ mùa xuân Canh Ngọ 1930 lịch sử Việt tộc bắt đầu đi vào những trang đen tối, dân Việt lại trở về kiếp đói rách, lầm than của đêm trường nô lệ sau khi đảng cộng sản Việt Nam ra đời vào ngày 03 tháng 02 năm 1930 mà bắt đầu là nạn đói kinh hoàng nhất trong lịch sử của dân tộc vào mùa xuân năm Ất Dậu 1945 với hơn 2 triệu đồng bào đã chết đói... Họ chết, chết dần chết mòn kéo dài tận tháng 3 năm đó, trên khắp các tỉnh thành của miền Bắc. Hai triệu người chết đói trong một mùa xuân của dân tộc báo hiệu cho một thời kỳ bi thương, tối tăm và chết chóc dường như vô tận, báo hiệu cho một nguy cơ bị đồng hóa, bị diệt vong của giống nòi, báo hiệu cho một đại họa mất nước…
 
Nếu người dân Việt cứ tiếp tục nhu nhược úy kỵ, cứ tiếp tục khom lưng cúi đầu cho những người cộng sản cưỡi cổ, đè đầu, tiếp tục cho đảng cộng sản nắm quyền cai trị đất nước. Bởi sau mùa xuân Canh Ngọ 1930, sau mùa xuân Ất Dậu 1945 với hơn 2 triệu người đã chết đói đó, thì đảng và nhà nước cộng sản Việt nam còn ghi thêm vào sử Việt thêm nhiều mùa xuân đau thương và tang tóc nữa.
 
 Mà khởi điểm có thể là từ mùa xuân năm 1949 khi đảng và và nước cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc cải cách ruộng đất kéo dài suốt 7 năm cho đến cuối năm 1956, trải qua 5 giai đoạn, đánh dấu bằng những sắc lệnh, ban đầu nhẹ nhàng và mị dân, tiến dần đến sắt máu và triệt để với Sắc luật về Cải Cách Ruộng Đất do Hồ Chí Minh ban hành ngày 14 tháng 6 năm 1955, cho phép nhà nước tịch thu toàn bộ tài sản của những “tên Thực dân, địa chủ gian ác, cường hào ác bá, Việt gian phản động”, truất hữu đất đai của các tôn giáo, gọi là để phân chia lại cho nông dân không đất, gia đình thương binh, chiến sĩ, liệt sĩ.
 
Thành tích lớn lao của công cuộc cải cách ruộng đất và đấu tố địa chủ được báo cáo chính thức cho chính phủ Hồ Chí Minh là tổng cộng chiến dịch cải cách ruộng đất, đảng và nhà nước đã tịch thu của địa chủ, phú nông 31.110 tấn thóc, 810.000 hecta ruộng, 106.448 trâu bò, 1.846.000 nông cụ, 148.565 ngôi nhà với 172.008 nông dân bị quy là địa chủ và 15.000 người trong số đó đã bị hành quyết tại chổ, số còn lại bị đưa đi cải tạo và hãm cho chết đói dần dần…
 
Thế nhưng chính việc quy định thành phần xã hội, phân chia tài sản một cách bất công và với thâm ý tước đoạt quyền tư hữu đất đai đã gây nên bao cảnh giết chóc cùng đổ vỡ. Và rồi những kẻ được phân chia ruộng đất sau đó phải trả lại tất cả cho nhà nước qua Hợp Tác Xã.

Trong mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, có lẽ không biến cố nào đau thương bằng sự kiện ấy: Đau thương vì đó là cuộc đảo lộn xã hội nông thôn Việt Nam một cách toàn diện từ kinh tế, văn hóa đến luân lý do một chủ trương cải tạo nông nghiệp vô cùng tàn nhẫn và phi nhân.
 
Vì đó là cuộc tàn sát trực tiếp lẫn gián tiếp xấp xỉ nửa triệu nông dân chỉ trong thời gian ngắn mà không cần phải sử dụng đạn bom hay bất cứ một loại vũ khi chiến tranh nào. Kết quả mà đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đạt được từ mùa xuân Kỷ Sửu 1949 này là sự suy sụp nông nghiệp, tan hoang làng xóm, đổ vỡ tình người, băng hoại đạo đức, một ách nô lệ mới được khoác lên toàn thể nhân dân miền Bắc: Nô lệ cộng sản.


Đến tận hôm nay, nhà cầm quyền CS vẫn tiếp tục tước đoạt quyền tư hữu đất đai của người dân, và các tòa án nhân dân vẫn tiếp tục là công cụ mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam dùng để bịt miệng, trói tay, giam thân những ai muốn đòi công lý và sự thật. Cho nên việc chúng ta nhìn lại cuộc Cải cách Ruộng đất là một kiểu ôn cố tri tân trên tinh thần mọi người dân Việt cần phải biết sử Việt để có thể làm lại lịch sử cho dân tộc.

Mùa xuân bi thương tiếp theo mà đảng cộng sản mang lại cho đồng bào Việt Nam là mùa Xuân Mậu Thân 1968. Ngay vào thời điểm Giao Thừa, tức là thời khắc thiêng liêng nhất trong năm, khi toàn dân đang hân hoan tiễn đưa năm cũ và đón mừng năm mới, tức là vào đêm 30 rạng ngày 31 tháng 01 năm 1968, cộng quân Bắc Việt đã đồng loạt nổ súng tấn công vào tất cả các đô thị miền Nam, mang đau thương, chết chóc cho hàng trăm ngàn dân lành và binh lính của cả hai miền Nam Bắc ngay giữa những ngày đầu xuân tưởng như thanh bình và an lạc với hiệp ước hưu chiến cho nhân dân hai miền Nam-Bắc được vui xuân đón tết. Thương đau hơn cả là 7.000 dân lành ở Cố Đô Huế bị giết chết một cách vô cùng oan nghiệt bằng hình thức đập đầu và chôn sống.

Tội ác lại kéo theo tội ác, khi những nâm mồ của những nạn nhân cộng sản bắc Việt ở Huế trong vụ thảm sát vào Xuân Mậu Thân 1968 vừa được cải táng chưa xanh cỏ, thì đảng và nhà nước cộng sản bắc Việt lại tiếp tục mang đến cho đồng bào vùng tuyến đầu lửa đạn thêm một mùa xuân đau thương nữa, đó là mùa xuân năm Nhâm Tý 1972, cộng quân bắc Việt đã vi phạm Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954 đối với “Vùng Phi Quân Sự”: Cộng quân bắc Việt đã xua quân tràn qua sông Bến Hải, tấn công, cưỡng chiếm thị xã Đông Hà, rồi tiếp tục tấn công chiếm cổ thành Quảng Trị với một chiến dịch quân sự kéo dài từ 30 tháng 3 năm 1972 cho đến31 tháng 01 năm 1973 gây đổ nát hoàn toàn tỉnh Quảng Trị mà sau khi tiếng súng tạm yên thì công việc thu lượm xác chết phải kéo dài 7 tháng trời mới kết thúc.
 
Xin mọi người hãy dừng lại trong phút chốc để tưởng niệm các đồng bào ruột thịt cùng các chiến sỹ của QLVNCH vì bảo vệ tự do cho miền Nam mà đã đền nợ nước trong mùa xuânbi thương năm Nhâm tý 1972 đó, và xin quý vị hãy tưởng tưởng xem bao nhiêu chục ngàn đồng bào của chúng ta đã ngã xuống, để rồi công việc thu gom xác chết, do Báo Sóng Thần đảm nhiệm, đã phải mất hơn nữa năm trời mới hoàn tất. Đây cũng là công việc để nhắc nhớ chúng ta về tội ác mà đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã mang đến cho dân tộc cho đất nước Việt Nam vón đã quá đau thương tang tóc vì chiến cuộc này.

Nhưng đã hết đâu! Chỉ sau đó đúng hai mùa xuân, thì cộng quân Bắc Việt với bom mìn với xe tăng với đại pháo của Nga Sô và Trung cộng, đã ồ ạt tiến quân đánh chiếm miền Nam vào mùa xuân Ất Mão 1975, bức tử một chính phủ hợp hiến, hợp pháp có lãnh thổ từ Vĩ Tuyến 17 đến Mũi Cà Mau, xóa bỏ một chính thể Cộng Hòa đã tồn tại 20 năm trên trường quốc tế và đã mang đến cảnh chết chóc tang thương cho hàng triệu đồng bào miền Nam cùng những chiến sỹ là con em của dân Nam đang cầm súng chiến đấu vì nền tự do của Nam Việt.
 
Đây là mùa xuân cuối cùng của người dân Nam, bởi sau những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975 đó, ở miền Nam đã có hơn 1.350.000 người thuộc diện phải ra trình diện và đi cải tạo. Tính đến năm 1980 thì Phạm Văn Đồng của chính phủ Việt Nam công nhận là chỉ còn 26.000 người đang còn bị giam giữ trong các trại tù lao cải. Tuy nhiên, một số quan sát viên ngoại quốc ước tính phải còn khoảng 300.000 đến 450.000 người vẫn đang bị giam cầm. Chính Phủ Hoa Kỳ thì công bố rằng khoảng 165.000 người đã chết trong khi bị giam giữ trong các trại cải tạo do đói khát, ốm đau và do bị tra tấn.

Đành rằng không có cuộc chiến nào mà không có mất mác hy sinh, đành rằng không có cuộc chiến tranh nào mà không có nạn nhân của chiến cuộc. Nhưng cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn vì muốn áp đặt nền cai trị cộng sản chủ nghĩa lên toàn đất nước, để áp đặt ách nô lệ cộng sản lên toàn dân thì tàn quả là quá tán ác!
 
Hình ảnh của những đứa bé ngồi khóc bên xác mẹ giữa vùng chiến sự đang ác liệt nổ ra, hay hình ảnh những em bé đang ôm bú bầu vú người mẹ đã chết lạnh nhiều ngày vẫn thấy khắp nơi trên đường đi lánh nạn cộng sản suốt dọc quốc lộ số 1… Hình ảnh những người cha, người mẹ thân đầy thương tích đang thẫn thờ bên xác của những đứa con vừa tan tành vì đạn pháo của cộng quân cũng dọc đường quốc lộ… là những hình ảnh quá thương đau mà chúng ta sẽ không bao giờ quên được…
 
Hình ảnh của những người tù cải tạo khô gầy như xác ve, thều thào với các bạn tù là mong ước được một lần ăn no trước khi lìa đời… Và hình ảnh của hàng chục ngàn nấm mồ hoang lạnh, đầy cỏ dại chung quanh các trại tù có cho phép chúng ta quên được tội ác của cộng sản Việt Nam không…
 
Hình ảnh những con thuyền bé nhỏ của từng đoàn dân Việt đi tìm tự do đang chòng chành giữa đại dương trong cơn bão tố với những xác người đã chết bên cạnh những người còn sống trong tuyệt vọng, vô hồn bởi đã nhiều ngày lênh đênh trên biển cả, không nước uống không cơm ăn và lưỡi hái của thần chết đang chực chờ bên cổ họ từng phút từng giây… có cho phép chúng ta quên đi cảnh thương đau của chính chúng ta cũng như của cả dân tộc Việt Nam, bởi tội ác của những kẻ đã du nhập chủ nghĩa cộng sản về để truy diệt giống nòi và tàn hại đất nước hay không?
 
Khát vọng của Lý Nam Đế về đất nước Vạn Xuân, về một đất nước trường tồn nay có còn nữa không?

Theo quy luật tuần hoàn của vũ trụ, theo chu kỳ của Đất Trời, một mùa xuân nữa lại về, nhưng đã 38 lần trong đời người Việt quốc nội không hề có mùa xuân, bởi từ dạo 30 tháng 4 năm ấy, xuân là tang thương, là mất mác, là chia ly. Xuân về tết đến, không phải chỉ người dân xứ Huế hiệp kỵ cho những người thân của họ đã bị thảm sát cũng vào một mùa xuân gần 50 năm về trước mà hàng trăm ngàn gia đình ở miền Nam cũng đều đớn đau, thương tưởng đến những người thân yêu của họ đã chết một cách oan nghiệt trong những ngày xuân bi thương của năm 1975, hay đã chết một cách mòn mõi thương đau trong các trại lao cải…
 
Còn chúng ta? Chúng ta đã có bao giờ nhẫm tính là đã có bao nhiêu mùa xuân tha hương hương đến và đã đi trong đời của chúng ta rồi? Và có bao giờ chúng ta nhắc nhở cho con cháu mình bởi đâu, do ai và tại sao chúng ta lại có mặt ở nơi này để trở thành những người Mỹ da vàng hay những người Âu, người Úc tóc đen mũi tẹt hay không.
 
Hãy làm việc này, ít nhất là một lần vào mỗi độ xuân về, cũng trong tinh thần ôn cố tri tân, để chúng ta mãi mãi không quên rằng chúng ta là người Việt đang phải sống đời lưu vong vì những chuổi mùa xuân bi thương mà đảng và nhà nước cộng sản đã mang lại cho dân tộc, và rằng đất nước của chúng ta đã có một thời là đất nước VẠN XUÂN để liệu chúng ta sẽ có thể làm được gì hầu khôi phục lại mùa xuân yêu thương và trường tồn cho dân tộc mình hay không?

Mong sẽ không quên bao giờ…

Nguyễn Thu Trâm



 

 

Cảm ơn chị Lang đã gởi đến ACE những

tấm hình trong vòng tay Nhân-ái.

TTKh.



From: HO Lang
Subject: Photo Trong vòng tay Nhân ái

 

 

 

 

 




 

Những hình ảnh yêu quý chỉ có trong QLVNCH .

 

 

 Không biết những người lính trong những tấm hình này giờ ở đâu ?

Mong mọi điều bình an và may mắn đến với các anh.

 

vnch-19.jpg

 

ảnh: Nick Út.

 

   NT5 NDLe

 


 

Monday, November 26, 2012

Có thiệt các Ông sợ … ?





 24/11/12 |

Có thiệt các Ông sợ … ?




Có những câu hỏi phức tạp, rườm rà hoặc gay cấn nhưng đều được trả lời gọn gàng, ý nghĩa trọn vẹn. Người đặt câu hỏi được thỏa mãn. Nhưng có những câu hỏi rất đơn giản, ngắn gọn, rõ ràng mà lại khó trả lời hoặc trả lời không rõ ràng, không thẳng thắn, không đầy đủ ý nghĩa và người hỏi tự nhiên không thấy thỏa mãn. Như khi hỏi “Có thiệt các Ông sợ các Bà hay không?”. Có người nào đặt câu hỏi đó đã nhận được câu trả lời vừa ý chưa? Các ông có khi nào tự đặt cho chính mình câu hỏi đó và đã trả lời rõ ràng chưa? Mà tại sao đàn ông lại sợ vợ? Sợ bị vợ cho ăn đòn? Hay vì sống hoàn toàn phụ thuộc vào vợ?

Phải nói câu hỏi này thật khó trả lời cho đúng.

Ở thời đại internet mà người ta vẫn chưa giải thích dứt khoát có ma hay không? Và tại sao người ta sợ ma? Chẳng lẻ các ông sợ vợ cũng giống như người ta sợ ma?

Bị vợ bạo hành

Vấn đề người phụ nữ bị bạo hành trong gia đình ở Âu châu hãy còn nặng nề và thường xuyên. Nhiều tổ chức phụ nữ tranh đấu cho nữ quyền hoạt động tích cực để bênh vực người phụ nữ. Trong Chánh phủ có Bộ đặc trách về phụ nữ. Về mặt xã hội chánh trị, người phụ nữ vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi. Luật pháp ban hành để nâng địa vị người phụ nữ ngang hàng với nam giới, xóa bỏ sự chênh lệch nam / nữ về mặt đối xử. Khi nói các “ông sợ vợ vì bị vợ bạo hành”, phải chăng là một nghịch lý? Vì hiện nay ở các nước văn minh như Huê kỳ, người ta điều tra thấy cứ mỗi năm phút có một phụ nữ bị bạo hành.

Vậy khi các ông bị vợ bạo hành là bị vợ đánh đập u đầu, sứt trán, bể môi, dập mũi?
Bạo hành cách này cũng có xảy ra ở đây đó. Có khi trường hợp bạo hành còn gia trọng hơn như ở Huê kỳ trong gần đây, báo chí đăng tin ở California có một ông chồng mỹ bị bà vợ Catherine Kiều thiến của quí, cho vào máy xay nhuyễn rồi đem đổ vào bồn cầu, giựt nước cho thoát đi mất. Ở Sài Gòn, một bác sĩ của Phòng cứu thương loại này một năm khâu vá lại cho ít nhứt mười ông nạn nhân. Thật kinh hoàng!


Nhưng còn một cách bạo hành khác cũng rùng rợn không kém. Đó là khủng bố tâm lý. Giống như vc bạo hành những người của Chánh phủ Sài gòn trong trại tập trung cải tạo sau 30 / 04 / 75. Cỏ May trích dẫn một đoạn thông tin về trường hợp một người đàn ông trẻ bị vợ bạo hành để thấy tâm trạng của nạn nhân:

“Đối với một người đàn ông tuổi ba mươi, tôi có tất cả: gia đình, sự nghiệp. Vậy mà mỗi khi nằm xuống, tôi chỉ ước mơ ngủ mà không phải dậy nữa. Bác sĩ bảo tôi bị trầm cảm, rối loạn thần kinh. Tất cả đều do nhu nhược, tôi là một con gà công nghiệp.

Thiên hạ họ nói tôi như thế.

Đời là bể khổ, Phật đã dạy như thế, nhưng ai nói tôi khổ. Tôi được bố mẹ nuôi ăn học đàng hoàng, ra trường làm việc ở thành phố, cưới vợ, làm nhà cho, giao chìa khóa ở riêng. Vậy mà mỗi khi nằm xuống, tôi chỉ ước ngủ mà không phải dậy nữa.

… Mỗi lần đi làm xong là tôi chẳng muốn về nhà. Nhà to, đẹp mà với tôi nó như một địa ngục.”
Trước kia mọi người vẫn quan niệm rằng cứ đánh nhau gây thương tích mới là bạo hành, và chỉ có người phụ nữ mới là nạn nhân. Nhưng thực ra các ông cũng có thể bị các bà bạo hành nhưng không phải bằng bạo lực, mà đó có thể là sự kiểm soát kinh tế, cấm vận mối quan hệ ái ân vợ chồng, khủng bố tinh thần…


Nguyên nhân có thể do người vợ có xu hướng thích tấn công người khác, nhưng người chồng lại không phản ứng gì hoặc phản ứng yếu ớt thì đó là môi trường thuận lợi phát triển xu hướng bạo hành .

Ngoài ra khi trong gia đình phụ nữ là người có quyền lực hơn, làm ra nhiều tiền hơn, thì lẽ dĩ nhiên họ càng muốn chứng tỏ quyền lực của mình, bằng việc lấn át chồng. Đó thường là những phụ nữ có cá tính mạnh mẽ.

Bạo hành bằng bạo lực thật ra không ghê gớm bằng bạo hành bằng khủng bố tâm lý đối phương. Cỏ May mời bạn đọc thêm một đối thoại ngắn giữa cặp vợ chồng để thấy tội nghiệp cho người bị bà vợ âu yếm thỏ thẻ bên tai:

“Anh, anh thấy cái Phương xinh không?
- À, nhìn cũng xinh xắn đấy.
- Hả, anh muốn chết à, mà khen nó xinh trước mặt tôi. Có tình ý với nó thì đi yêu nó luôn đi.
- Anh, anh thấy cái Phương xinh không ?
- Không, anh thấy bình thường.
- Ðừng có mà dối lòng, nó xinh như thế mà chê à ? Sao không dám thừa nhận? Anh thích nó hả?
- Anh, anh thấy cái Phương xinh không?
- À, nhìn cũng xinh xắn đấy nhưng với anh thì em là người tuyệt vời nhất.
- Ủa, tại sao hôm nay tự dưng nịnh tôi ? Anh vừa làm chuyện gì mờ ám nên giấu tôi, phải không? Nói ra mau
- Anh, anh thấy cái Phương xinh không?
- …
Anh, anh thấy cái Phương xinh không
- …
– Ô sao không trả lời? Trả lời mau lên. Không thì chết dưói tay tôi bây giờ!”


(Trên Internet)

Nhờ phèn nước mới nên trong

Không riêng gì các ông là dân bình thường sợ vợ, mà ngay cả quan đại thần ngày xưa cũng răm rắp tuân theo ý vợ. Phải chăng vì vua là Thiên tử, con Trời. Mà ” Nhứt vợ nhì Trời “nên quan, dân, cả vua cũng phải sợ? Cỏ May mời bạn đọc qua một đoạn truyện xưa để thấy sợ vợ là nên việc nước:

“Thời Xuân Thu, nước Sở có Tôn Thúc Ngao là một nhà chính trị lỗi lạc, đã đưa ra những kế sách ích quốc lợi dân, khiến người người cảm phục. Một hôm, vua Sở cho gọi Thúc Ngao đến mà phán rằng:

- Xưa nay chẳng thiếu gì kẻ khôn ngoan, thừa hiểu lẽ phải, điều trái, nhưng lúc chưa có một địa vị quyền lợi nào thì sáng suốt, lòng dạ thật quang minh, mà đến lúc cầm trong tay một quyền lợi, địa vị thì lập tức bị ba cái phù du đó làm cho tối tăm mặt mũi. Còn ngươi. Trên thì hết dạ trung kiên. Dưới thì làm lợi cho bá tánh, nên ta muốn cất nhắc ngươi lên làm Lại Bộ Thượng Thư, để trông nom điều chính sự. Ngươi nghĩ thế nào?

Tôn Thúc Ngao dập đầu xuống, mà kính cẩn thưa rằng:

– Hạ thần ăn cơm vua, hưởng lộc nước, thì không thể ngại khó khăn mà lẩn trốn phần trách nhiệm. Có điều, hạ thần tuy hết lòng hết sức, nhưng khả năng yếu xìu không thể định muôn dân, thì sao dám há miệng nhận lời ngay cùng Thiên Tử!

Vua Sở liền đưa tay vuốt râu vài cái, rồi mạnh miệng nói rằng:

- Từ nào tới giờ ta hằng luôn để ý, là nhiều quan lại trong triều vì khí tiết hẹp hòi mà không chịu nỗi những cái tức giận nhỏ nhoi trước mắt, đến nỗi việc lớn phải hư. Còn ngươi. Làm việc gì cũng đắn đo suy nghĩ sao có lợi cho người. Chớ không phải cho thân, nên ta quyết trao trọng trách là vì căn duyên đó!

Thúc Ngao mặt cắt không còn hột máu, dập đầu thưa rằng:

- Kẻ có trí mà làm công việc gì, cũng phải về hỏi.. . vợ. Còn hạ thần. Tuy không dám nhận mình là kẻ trí, nhưng đụng chuyện này vợ chẳng biết chẳng hay, thì tự chốn tâm can đã mất phần an ổn!

Sở Vương nghe Thúc Ngao tỏ phân điều hơn thiệt, lấy làm đẹp dạ nghĩ rằng:

- Đối với vợ mà trăm sự tỏ tường. Ngàn lời minh bạch, để vợ khỏi bận lòng lo lắng, thì chuyện an dân, chẳng lo gì nữa cả.

Nghe Thúc Ngao lý giải như vậy, Sở Vương thấy nao nức trong lòng …”

Các Ông sợ vợ?

Đây là câu hỏi chưa có câu trả lời thỏa đáng. Có trả lời thì người trả lời sẽ không nói “sợ” mà dùng thể ẩn dụ “nể” vợ thôi. Đây vẫn còn là vùng cấm kỵ cực nghiêm ngặt . Ít ai muốn khơi ra chuyện này. Mà sợ vợ vì bị vợ bạo hành. Đây là một thực tế, dù không công khai thừa nhận nhưng ai cũng biết là có thật.

Nay là lúc cần phải phá vỡ bức tường im lặng để nói lên một sự thật từ lâu đời để giúp cho hai bên, tác nhân và nạn nhân, nhìn thấy sự thật mà sống hòa hợp với nhau thật sự để không còn kẻ phải chịu đựng và kẻ thừa thắng xông lên.

Câu hỏi các Ông có sợ các Bà không? Các Ông có bị các Bà bạo hành không? Câu hỏi này đem hỏi các ông thường không đưọc các ông trả lời rõ ràng. Nhưng phương pháp điều tra theo khoa học xã hội sẽ trả lời rõ ràng, cụ thể giùm cho các ông.

Thống kê các quốc gia phương Tây cho thấy nạn chồng bị vợ ăn hiếp rất phổ biến trong mọi gia đình thuộc mọi giai tầng xã hội, bất kể giàu nghèo, tướng tá, bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo, nhà văn, nhà đạo đức, thầy chú hay dân đen khố rách… Địa vị càng cao thì càng phải giấu kỹ giấu kín hơn nữa.

- Bạo hành thể xác: 8% phụ nữ bị chồng bạo hành (bạt tai, xô đẩy…), và có 7% các ông chồng bị vợ đánh, bị vợ chọi chén đỉa, giày dép, …

- Bạo hành tinh thần: chà đạp nhân phẩm, chửi, mắng, nói xấu, cấm vận sex…; nạn nhân đàn bà 18%, nạn nhân đàn ông 19 %.

Đại Học Fribourg ở Thụy sĩ, cách nay khá lâu, có công bố kết quả một cuộc điều tra do Bà Sophie Torrent thực hiện với 7 ông chồng bị bạo hành để biết nạn nhân sợ thứ bạo hành nào nhứt. Tất cả đều cho biết là họ sợ khủng bố tinh thần là hơn hết: chửi bới, bắt lỗi, đay nghiến, chanh chua, sỉ nhục vô cớ, ghen bóng ghen gió, theo dõi kiểm soát từng cử động của chồng, điều tra bạn bè của chồng, …

Bạo hành tâm lý vô cùng gian ác. Người đàn bà trong trường hợp này nhằm khiêu khích anh chồng tức giận để phản ứng như tát tai bà vợ, xô bà vợ, …Lập tức ông chồng sẽ bị cảnh sát tới còng tay dẫn đi để bảo vệ nạn nhân. Người ta chỉ thường thấy người đàn bà là nạn nhân trong những vụ bạo hành gia đình.

Người ta không thấy hoàn cảnh của các ông bị các bà đay nghiến “Thứ đàn ông gì mà bất tài vô dụng, không xứng đáng làm chồng, làm cha. Các bà nói những lời sỉ nhục chồng trước mặt con cái, rồi tách rời con cái khỏi cha của chúng để cô lập ông chồng ngay trong nhà.

Hậu quả sự bạo hành sẽ vô cùng thảm hại cho ông chồng.

Theo tháng ngày chịu đựng không ngơi nghỉ, ông chồng bị tổn thương nặng cả về thể xác lẫn tinh thần, trong sinh hoạt hằng ngày, trong mối giao tiếp ngoài xã hội và cả trong lãnh vực chuyên môn nghề nghiệp nữa. Sau cùng ông chồng rơi dần vào trạng thái lo âu, buồn chán, trầm cảm, mất tự tin, hết biết còn ham muốn bất cứ việc gì, không còn nhớ tên mình là gì nữa, và mất luôn cả căn tính của mình. Nhiều lần ông tự hỏi có phải mình còn là một người đàn ông hay không?

Các Bà có nhiều tổ chức Nữ quyền bảo vệ. Khi bị ngược đãi, các Bà la lên là có ngay cảnh sát tới cô lập ông chồng, đưa các bà tới một Trung tâm tạm trú, ở thành phố nào cũng có, được mọi săn sóc về tâm lý, thuốc men, cơm nước. Khi các Bà ra về, ông chồng bị cấm tới gần nơi các Bà ở.

Các bà có Ngày Quốc tế Phụ nữ.

Còn các Ông chồng nạn nhân những vụ bạo hành trong gia đình lúc nào cũng bị thua thiệt. Ba trăm sáu mươi lăm ngày, không có một ngày nào là Ngày Đàn Ông. Không có một tổ chức “Quyền làm Người Đàn Ông” để bảo vệ nhân quyền cho đàn ông.

Ngày nay, đàn ông bị các bà bạo hành trở thành phổ biến và khẩn trương nên ở Huê Kỳ và Nhựt bổn có lập ra những Trung tâm tỵ nạn để đón nhận các ông nạn nhân và bảo vệ các ông.

Vậy mà các ông vẫn không ngán các bà. Vẫn chủ trương phải sống ” o các bà, vì các bà, cho các bà”:

“Tạ ơn trời đàn bà vẫn còn đó
Để đàn ông vẫn còn có niềm vui
Chỉ đàn ông. Thôi chết quách cho rồi
Không đàn bà. Ôi chẳng thà tận thế.”


(không biết tác giả, cáo lỗi)

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt



 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Friday, September 14, 2012

Các giai đoạn của cuộc cải cách ruộng đất (phần 2)


 

Các giai đoạn của cuộc cải cách ruộng đất (phần 2)


2006-05-16

Nguyễn An, phóng viên đài RFA

Bài 2: Phỏng vấn nhà nghiên cứu Sử Trần Gia Phụng (phần 1)



trangiaphung150.jpg

Hìnhbìa cuốn sách "Án tích Cộng Sản Việt Nam" của nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng

Mở đầu loạt bài về cuộc cải cách ruộng đất diễn ra tại miền Bắc Việt Nam 50 năm trước đây, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả cuộc phỏng vấn của BTV Nguyễn An với nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng về các giai đoạn của cuộc Cải Cách Ruộng đất bắt đầu từ năm 1949 và chấm dứt vào năm 1956. Ông Trần Gia Phụng hiện đang sinh sống tại Canada.

Ông Trần Gia Phụng đã tốt nghiệp khoa sử địa đại học sư phạm Huế và cử nhân giáo khoa Sử đại học Văn khoa Huế năm 1965. Trong vòng 10 năm trở lại đây, ông đã xuất bản 14 đầu sách nghiên cứu về Sử, trong đó liên quan đến chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam có các cuốn, Án tích Cộng Sản Việt Nam xuất bản năm 2001 và Lột trần huyền thoại Hồ Chí Minh xuất bản năm 2003.

Nguyễn An: Trước hết, xin anh cho biết bối cảnh và mục đích của cuộc cải cách ruộng đất.

Ông Trần Gia Phụng: Muốn nói đến bối cảnh và mục đích của cuộc cải cách ruộng đất thì có lẽ chúng ta phải bắt đầu từ đầu. Tức là bắt đầu từ cuộc chiến tranh 46-54. Cuộc chiến tranh này có thể chia ra làm hai giai đoạn: từ 46-49 và từ 49-54.

Năm 1949 là năm cần phải chú ý, thưa anh, là vì năm này có hai sự kiện quan trọng. Sự kiện thứ nhất là chính phủ Bảo Đại ra đời sau hiệp định Élysée năm 1949. Thứ hai là nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập vào 1/10/1949. Khi chính phủ Bảo Đại được thành lập, nhiều người rời bỏ chiến khu để về thành thị sinh sống theo chính phủ Bảo Đại.

Ngoài hậu quả chính trị, thì việc trở về thành thị làm cho Việt Minh mất đi nguồn nhân lực, nhất là thiếu thanh thiếu niên để đưa vào bộ đội. Còn về phía Trung Hoa, khi mà Đảng CS lên cầm quyền ở Trung Hoa thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thì Trung Hoa viện trợ cho Việt Minh vũ khí và vừa cả nhân sự nữa. Cho nên Việt Minh chuyển từ du kích chiến qua vận động chiến mở những trận đánh lớn chống Pháp. Thành ra, năm 1949 mà mốc giới quan trọng trong chiến tranh Việt Nam.

Ngoài ra, nếu tính từ năm 1946 chiến tranh đã xảy ra cho đến năm 1949 (chiến tranh đã xảy ra 3 năm) thì dân chúng tản cư từ vùng này sang vùng khác, hoặc là bỏ vùng quê ra thành thị sinh sống nên có nhiều đất đai bỏ hoang, không canh tá. Vì vậy mà Việt Minh mở cuộc cải cách ruộng đất để giải quyết hai nhu cầu trên của họ.

Nguyễn An: Thưa, nhu cầu thứ nhất là thiếu người, và nhu cầu thứ hai là...

Ông Trần Gia Phụng: Lương thực cho bộ đội.

Nguyễn An: Thế như vậy cuộc cải cách ruộng đất như anh vừa nói thì có thể coi như bắt đầu từ năm 1949?

Ông Trần Gia Phụng: Dạ vâng!

Nguyễn An: Và nó kéo dài đến năm 1956, như vậy nó qua bao nhiêu giai đoạn?

Ông Trần Gia Phụng: Thưa anh, nó qua tất cả là 5 giai đoạn.

Nguyễn An: Thưa, là những giai đoạn nào?

Ông Trần Gia Phụng: 5 giai đoạn này bắt đầu là nó được đánh dấu bằng sắc lệnh cải cách ruộng đất. Thứ nhất là từ năm 1949, năm này để khuyến khích nông dân ra sức cày bừa thì nhà cầm quyền Việt Minh ra sắc lệnh để thành lập hội đồng giảm tô. Họ ấn định rằng các chủ đất phải giảm tối thiểu và đồng bộ tiền thuê đất (tô tức là tiền thuê đất) cho tá điền (tức là nông dân cày ruộng). Có nơi giảm đến 35% tiền thuê đất.

Sau đó, thông tư liên bộ của năm 1949 đưa ra nguyên tắc chủ yếu về phân chia tạm thời ruộng đất cho nông dân mà những ruộng đất này họ tịch thu được từ điền chủ của người Pháp, từ điền chủ là những người mà Việt Minh gọi là Việt gian, tức là những người mà Việt Minh kết tội thông Pháp hoặc là những người không cộng tác với Việt Minh.

Bạn nghĩ gì về cuộc cải cách ruộng đất tại Việt Nam và những hậu quả của chính sách này? Xin email về Vietweb@rfa.org

Nguyễn An: Thưa, giai đoạn này kéo dài bao lâu ạ?

Ông Trần Gia Phụng: Thưa, giai đoạn này cũng chỉ trong năm 1949 thôi! Bởi vì trong năm 1950 đã thay đổi. Sắc lệnh ngày 12 tháng 2 năm 1950 tổng động viên toàn bộ nguồn nhân lực (tức là người), vật lực (gia súc và nông cụ) và tài lực (tức là tiền bạc) cho tổ quốc.

Trong năm 1950 này, xuất hiện cùng một lúc 2 sắc lệnh, cùng một ngày nữa. Sắc lệnh thứ nhất là xoá bỏ tất cả các hợp đồng vay nợ giữa tá điền và điền chủ ký kết trước năm 1945 và xoá bỏ các hợp đồng ký sau năm 1945 nếu con nợ đã trả đủ 100%

Nguyễn An: Như vậy, cả lãi lẫn vốn đã trả rồi mà bằng cái số vốn vay ban đầu thì xoá luôn?

Ông Trần Gia Phụng: Dạ, xoá luôn! Cùng sắc lệnh thứ hai đó là quốc hữu hoá tất cả những đất đai bỏ hoang trong 5 năm liên tục, thì sẽ những đất đai này lấy và chia lại cho nông dân. Nhưng mà ngang đây, tức là năm 1950 thì nó có những sự kiện quan trọng mà cái quan trọng nhất là ông Hồ Chí Minh qua thăm Bắc Kinh tháng 1/1950 rồi qua thăm Mạc Tư Khoa.

Trong cuộc gặp gỡ tại Mạc Tư Khoa giữa ông Hồ và Stalin, thì Stalin thúc bách ông Hồ thực hiện 2 việc: việc thứ nhất là ông Hồ phải tái công khai Đảng CS, và việc thứ hai là ông Hồ phải đẩy mạnh cuộc cải cách ruộng đất theo đường lối CS. Để chuẩn bị cho việc cải cách ruộng đất thì ông Hồ mở phong trào chỉnh huấn theo đường lối của CS Trung Hoa

Nguyễn An: Và sau chuyến đi của ông Hồ thì bắt đầu cho giai đoạn 3 chăng?

Ông Trần Gia Phụng: Dạ vâng! Thì sau đó chuẩn bị bắt đầu cho giai đoạn 3. Trước giai đoạn 3, ông Hồ đã cử phái đoàn sang Trung Họa để học khoá học về chủ nghĩa Mac-LeNin ở Bắc Kinh. Nhưng thật sự ra đó là học về phương thức cải cách ruộng đất theo đường lối của Trung Cộng. Và phái đoàn này trở về thì đượcĐảng CS tổ chức gởi thí điểm tất cả các nơi ở Bắc và Bắc Trung Việt; còn ở trong Nam cũng có nhưng mà ở những miền sâu, còn những miền bán Bình Nguyên là những miền đồng bằng gần với các tỉnh thì ít thấy xuất hiện.

Nguyễn An: Thưa, như vậy thì giai đoạn 3 kéo dài bao lâu và đặc điểm của nó là gì?

Ông Trần Gia Phụng: Nó bắt đầu bằng sắc lệnh ngày 20 tháng 4 năm1953 đăng trên công báo của Việt Minh. Đặc điểm của nó là ngoài luật lệ thêm vào thì luật mới là quyết định tịch thu tất cả tài sản của đế quốc Pháp, của Việt gian, của địa chủ ác ôn. Và nó có một đặc điểm nữa đó là giai đoạn 3 này bắt đầu thành lập uỷ ban Nông Nghiệp các cấp.

Ủy ban Nông Nghiệp trung ương do thủ tướng đứng đầu, và ở các thành phố đến cấp xã cũng có uỷ ban Nông Nghiêp Và bắt đầu thấy xuất hiện những cuộc đấu tố. Nhưng mà khi đó bắt đầu sửa soạn hội nghị Geneva, cho nên Việt Minh nhẹ tay để tránh làm xôn xao dư luận.

Thế còn qua giai đoạn 4 là nó bắt đầu quy định toà án nhân dân để xét xử những thành phần chống lại cuộc cải cách ruộng đất. Nhưng mà giai đoạn 4 mới tiến hành thì xảy ra hiệp định Geneva. Tuy có toà án nhân dân nhưng chưa xảy ra vụ đấu tố rùng rợn như sau năm 1954.

Quý thính giả vừa nghe phần đầu cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An của ban Việt ngữ và nhà nghiên cứu Sử Trần Gia Phụng về các giai đoạn của cuộc cải cách ruộng đất diễn ra tại miền Bắc Việt Nam 50 năm trước đây. Trong chương trình phát thanh tới, cuộc trao đổi sẽ tập trung vào giai đoạn 5, cũng là giai đoạn cuối, đầy máu và nước mắt của cuộc Cải cách ruộng đất. Mong quý thính giả đón nghe.

Thông tin trên mạng:


- Trang web có những hình ảnh về Cuộc cải ruộng đất

- Cải cách ruộng đất - Wikipedia

- Land Reform in China and North Vietnam

- A Special Supplement: In North Vietnam (The New York Review of Book)

- The Solzhenitsyn of Vietnam

- Statistics Of Vietnamese Genocide And Mass Murder

© 2006 Radio Free Asia

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List