Popular Posts

Saturday, March 23, 2019

VUA A XÀ THẾ QUY Y PHẬT


VUA A XÀ THẾ
QUY Y PHẬT
Toàn Không
1). NHÂN DUYÊN
     Một thời Đức Phật ngự tại vườn xoài Kỳ Bà Già thuộc thành La Duyệt, nước Ma Kiệt cùng với 1250 đệ tử đều là bậc thánh, ngoại trừ Tôn giả A Nan Đà Thị giả của Ngài. Bấy giờ, nhằm ngày rằm tháng bảy trăng tròn sáng, Vua A Xà Thế bảo Phu nhân:
-  Nay là ngày trăng tròn sáng, ta nên làm gì?
     Phu Nhân thưa:
- Nay ngày rằm là ngày thuyết giới, nên tổ chức đàn ca múa hát vui chơi.
     Nghe rồi không hài lòng, Vua hỏi Thái tử Ưu Đà Gia:
- Còn con, ta nên làm gì?
     Thái tử thưa:
- Đêm trăng sáng tỏ, nên tập hợp 4 binh chủng đi đến nước nào không hàng phục chinh phục họ.
     Nghe những lời ấy, Vua không vừa ý, lại hỏi Hoàng tử Vô Úy như thế,      Hoàng tử thưa:
- Nay có Phạm Chí Bạt Lan Ca Diếp giỏi toán số, thông thiên văn địa lý, mọi người đều tôn trọng kính ngưỡng, nên đến hỏi, Phạm Chí vì Phụ Vương sẽ nói lý nhiệm màu.
     Nghe những lời ấy, Vua cũng không vừa ý, quay qua hỏi Đại Thần Tu Ni Ma:
- Đêm nay trăng sáng đẹp, ta nên làm gì?
     Đại Thần Tu Ni Ma thưa:
- Có Thầy A Di Chuyên thấy rộng biết nhiều, cúi xin Đại Vương đến hỏi điều nghi.
     Vua nghe Đại Thần nói lời ấy, cũng không vừa lòng, lại hỏi Bà La Môn Bà Sa như trên. Đại Thần Bà Sa tâu:
- Có Thầy Cù Da Lâu ở gần đây, cúi xin Đại Vương đến hỏi Thầy ấy.
     Vua nghe nói vậy cũng không hợp ý, bèn hỏi Phạm Chí Ma Đặc giống như thế, Phạm Chí Ma Đặc thưa:
- Như đêm nay trăng sáng tỏ, Đại Vương nên biết, Thầy Bỉ Hưu Ca Diên là người tài giỏi, xin Đại Vương đến hỏi ý Thầy.
     Nghe lời ấy, Vua cũng không hợp ý, bèn hỏi Đại Tướng Sách Ma:
- Đại Tướng cho biết, đêm nay trăng sáng, ta nên làm gì?
     Đại Tướng tâu:
- Có Thầy Tiên Tất Lư Trì giỏi rành toán thuật, Đại Vương có thể đến hỏi ý kiến.
     Nghe Đại Tướng nói thế, Vua cũng không vừa ý, bèn hỏi Đại Thần Tối Thắng giống như thế, Đại Thần tâu:
- Đại Vương nên đến chỗ Ni Kiền Tử đọc nhiều Kinh sách, là bậc tối thượng trong các bậc Thầy, ở gần đây, xin Đại Vương đến đó hỏi.
     Nghe rồi cũng không hợp ý, Vua lại nghĩ: “Những người này đều si mê, không phân biệt chân ngụy”. Bấy giờ Vua nhìn quanh, thấy còn Vương tử Kỳ Bà Già đứng đằng xa chưa hỏi, liền hỏi:
- Còn Vương tử Kỳ Bà Già nghĩ sao, hôm nay trăng tròn sáng, ta nên làm gì?
     Vương tử bèn đến trước Vua, quỳ tâu:
- Hôm nay trăng sáng, Đức Như Lai đang ngự trong vườn của thần cùng với 1250 đệ tử Tỳ Kheo, cúi xin Đại Vương đến hỏi nghĩa này. Bởi vì Như Lai là bậc giác ngộ, sáng suốt, không có gì không thông suốt rõ thấu, biết việc trong ba đời, Ngài sẽ giải tỏa tất cả những thắc mắc nghi ngờ cho Đại Vương.
     Nghe lời Vương tử Kỳ Bà Già nói xong, Vua a Xà Thế vui mừng, thiện tâm phát sinh, liền khen:
- Lành thay Vương tử! Nói lời rất đáng ưa, vì thân tâm ta rất nóng bức bồn chồn không yên, vô cớ giết Phụ Vương. Lâu nay, ta thường suy nghĩ: “Có ai hiểu được tâm ta?” Nay những điều Vương tử nói chính là trúng ý ta, rất lạ kỳ! Nghe đến Như Lai, tự nhiên ta tỉnh ngộ, rồi Vua nói kệ:
Đêm nay trăng tròn sáng,
Tâm ý không được yên,
Các ông mỗi người nói,
Nên đến hỏi nghĩa ai?
Bất Lan A Di Chuyên,
Thầy Tiên, Ni Kiền, Phạm,
Không nương những Thầy ấy,
Sao thể tế độ ta?
Đêm nay trăng rất sáng,
Trăng tròn không chỗ khuyết,
Vương tử Kỳ Bà Già,
Nên đến hỏi nghĩa ai?
     Vương tử nói kệ đáp:
Nghe âm thanh nhu nhuyễn,
Được thoát cả Ma Kiệt,
Xin đúng thời đến Phật,
Chỗ vĩnh viễn không sợ.
    Vua lại nói kệ:
Việc làm xưa của ta,
Với Phật không lợi ích,
Hại Phật tử của Ngài,
Tên là Tần Bà Sa.
Nay rất là hổ thẹn,
Không dám tới gặp mặt,
Vì sao nay ông bảo,
Khiến ta đến gặp Ngài?
     Vương tử lại nói kệ đáp:
Chư Phật không bỉ thử,
Các kết đã diệt trừ,
Tâm bình đẳng không hai,
Đấy là nghĩa Phật Pháp.
Như thương con La Vân,
Một hơi thở không hai,
Tâm ấy đối Đề Bà,
Oán thân không hề khác.
Cúi xin Đại Vương đi,
Đến gặp Đức Như Lai,
Sẽ dứt mối nghi ngờ,
Không có gì trở ngại.
     Khi ấy, Vua liền bảo Vương tử:
- Ông hãy mau ra lệnh chuẩn bị 500 voi đực, 500 voi cái, 500 cây đèn, để đến chỗ Như lai.
     Vương tử tâu:
- Thưa vâng Đại Vương.
     Vương tử Kỳ Bà Già liền ra lệnh cho sửa soạn chuẩn bị đầy đủ nhanh chóng, khi xong thưa Vua mọi việc đã sẵn sàng. Bấy giờ Vua đem quần Thần đi theo đến vườn xoài của Vương tử. Khi gần tới nơi, nhà Vua bỗng thấy sợ hãi, liền hỏi Kỳ Bà Già:
- Nay ta không bị gạt chứ, ông không đưa ta tới chỗ oan gia chứ?
     Vương tử tâu:
- Thật không có chuyện ấy, xin Đại Vương tiếp tục đi, không nên nghi ngờ.
     Đi được một đoạn nữa, Vua cũng còn sợ hãi, lại nói:
- Chẳng lẽ ta bị ông gạt sao, đã nghe nói Như Lai với 1250 đệ tử, như vậy đông lắm, làm sao mà ta không nghe tiếng động gì?
     Vương tử thưa:
- Đệ tử Phật thường hành thiền định, không có ồn ào, đã tới nơi rồi, xin Đại Vương xuống xe đi bộ, không nên làm ồn náo Như Lai.
     Vua A Xà Thế liền xuống xe đi bộ vào trước cửa giảng đường, đứng im lặng quan sát, rồi hỏi Vương tử:
- Đức Như Lai hiện giờ ở đâu?
     Bấy giờ, trong Thánh chúng có vị Tỳ Kheo nhập Hỏa quang Tam muội, trong giảng đường không có đèn mà sáng trưng.
    Vương tử chỉ Đức Phật và nói:
- Như Lai ngồi chính giữa đó, Ngài ngồi ở chính giữa đại chúng Tỳ Kheo.
     Vua bảo Vương tử:
- Thật kỳ lạ, thật đặc biệt! Tất cả ngồi yên không cử động! Do nhân duyên gì, bên trong không có đèn mà có ánh sáng?
     Vương tử thưa:
- Do sức Tam muội nên phóng ánh sáng.
     Vua lại nói:
- Như nay ta quan sát Thánh chúng Tỳ Kheo rất là yên lặng, mong cho Thái tử Ưu Đà Da cũng được yên lặng vô vi như thế này.
LỜI BÀN:
     Khởi đầu bài Kinh, Vua A Xà Thế nhân đêm trăng sáng hỏi Phu nhân nên làm gì, Hoàng Hậu tâu: “Hôm nay ngày rằm trăng tròn ngày thuyết giới...”.
Ngày thuyết giới là ngày gì? Ngày thuyết giới là ngày Đức Phật nói các giới luật, nói giới đức cho các đệ tử theo đó tu hành. Như vậy Hoàng Hậu cũng đã là Phật tử, nên mới biết ngày rằm là ngày thuyết giới, nhưng rồi lại nói tiếp: “... nên tổ chức đàn ca múa hát vui chơi”, để làm đẹp lòng Vua chăng?
     Sau khi 8 người cho ý kiến, Vua đều không hài lòng, Vua nói bài kệ đầu ý nói Vua đã từng gặp và không thấy lợi ích gì đối với những người mà bảy người nêu ra.
    Vương tử Kỳ Bà Già đề nghị Vua nên đến chỗ Phật và nói bài kệ: “Nghe âm thanh nhu nhuyễn, được thoát cả Ma Kiệt, xin đúng thời đến Phật, chỗ vĩnh viễn không sợ”, bốn câu kệ này có ý nghĩa như thế nào? Đại ý là chỗ Đức Phật, sẽ được nghe những lời hay ý đẹp, có lợi ích vô cùng, nếu đến gặp Phật sẽ giúp cho nước Ma Kiệt thoát mọi hiểm nạn, vì sao? Vì Vua A Xà Thế gốc vốn người có tâm ác hay sinh sự gây chiến tranh làm cho nhân dân lầm than vì chiến trận, Vương tử khuyên Vua nên đúng thời đến gặp Phật, chỗ không có sự sợ hãi nào cả, nhưng Vua còn tỏ ra nghi ngờ vì Vua đã làm việc ác đối với Vua cha là đệ tử của Phật bằng bài kệ thứ hai, Vua e ngại không dám gặp Phật.
     Vương tử tâu bằng kệ rằng: “Chư Phật không bỉ thử, các kết đã diệt trừ” là sao? Bỉ thử là này kia, tức là chư Phật không có phân biệt này nọ, kia khác, mà chỉ có một tâm bình đẳng.
Các kết đã diệt trừ là sao? Kết gồm có năm thứ, đó là: 1- Tham lam keo kiết về đủ thứ (Tham). 2- Sân hận giận hờn tật đố ghen tị (Sân). 3- Không vui, uể oải, lười biếng, ngủ nghỉ (Hôn trầm thùy miên). 4- Lo âu, hối tiếc, chao động, ghiền nghiện (Trạo cử phóng túng). 5- Nghi mình, nghi người, nghi đủ thứ (Nghi). Năm thứ nêu trên gọi là năm kết, Chư Phật đã dứt sạch năm sự ràng buộc trên.
    Bài kệ của Vương tử còn nói: “Như thương con La Vân, một hơi thở không hai” là sao? Chư Phật yêu thương mọi chúng sinh như thương yêu con ruột La Vân, La Vân là người con độc nhất của Thái Tử Sĩ Đạt Ta khi chưa thành Phật, La Vân cũng theo Ngài tu hành từ lúc mới có 7 tuổi, sau cũng đắc quả A La Hán.
     Một hơi thở không hai là không phân chia bên này bên kia, vì khi thở vào bằng hai lỗ mũi, nhưng đó là cùng một hơi thở, khi vào trong chung cùng một buồng phổi. Nghĩa là Chư Phật cư xử đối với mọi người đều bình đẳng không thiên vị.
     Bài kệ của Vương tử còn nói: “Tâm ấy đối Đề Bà, oán thân không hề khác”. Đề Bà là Đề Bà Đạt Đa, là người em con ông chú của Thái tử Sĩ Đạt Ta. Đề Bà Đạt Đa đã từng cùng bè ác đảng với A Xà Thế, và đã từng mưu ám hại Phật.
     Tâm chư Phật đối với người ác như Đề Bà Đạt Đa là kẻ oán không hề khác với người thương yêu như con ruột La Vân, tất cả đều bình đẳng không có gì khác nhau vậy.
     Câu: “Trong chúng có vị Tỳ Kheo nhập Hỏa quang Tam muội”.
Thế nào là Hỏa Quang Tam Muội? Hỏa quang là lửa sáng, Tam muội là định tĩnh sâu kín, là thanh tịnh tuyệt đỉnh. Hỏa quang Tam muội là do một loại Thiền định phát lửa sáng rực (không cho nóng cháy).
     Câu Vua nói: “- Như nay ta quan sát Thánh chúng Tỳ Kheo rất là yên lặng, mong cho Thái tử Ưu Đà Da cũng được yên lặng vô vi như thế này”. Câu nói này chứng tỏ rằng Thái tử và Hoàng Hậu đều đã biết Phật Pháp, nghĩa là vợ con của Vua A Xà Thế đã là Phật tử thuần thành, và Thái tử Ưu Đà La cũng đã học Thiền rồi, chỉ trừ có Vua là chưa hề gặp Phật mà thôi, tại sao thế? Vì vụ giết Vua cha nên Vua A Xà Thế đã không đám đến gặp Phật trên 20 năm, Lúc ấy cố tạo cơ hội để Vương tử Kỳ Bà Già thỉnh mời đi yết kiến Phật, và cũng là đúng lúc vậy.
   2). VUA QUY Y PHẬT:
 (Còn tiếp)

__._,_.___

Posted by: Tien Do 

Monday, March 18, 2019

NGÔ THỜI NHẬM ANH HÙNG HAY TIỂU NHÂN ?

 
Một mặt trận hai kẻ thù 
Giặc cộng bán nước, tàu phù xâm lăng.


NGÔ THỜI NHẬM ANH HÙNG HAY TIỂU NHÂN ?

 Tôi không phải là người nhận định thời cuộc, lại càng không đủ kiến thức để làm người viết sử. Tất cả những công việc đó đều vượt quá tầm của tôi. Nhìn tới nhìn lui, tôi chỉ là một người ghét chế độ Cộng Sản Việt Nam, và những gì mà tôi cố gắng làm chỉ là vạch trần cái mặt trái đầy xấu xa, ghê tởm của chế độ ấy bao gồm những ngụy biện, xảo trá trong việc ghi nhận lịch sử .
 Vừa rồi tôi viết bài TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ , trong đó tôi nhắc lại vụ đối đáp giữa hai ông Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhậm với những câu :
AI CÔNG HẦU, AI KHANH TƯỚNG, VÒNG TRẦN AI AI DỄ BIẾT AI .
THẾ CHIẾN QUỐC, THẾ XUÂN THU , GẶP THỜI THẾ THẾ THỜI PHẢI THẾ.
 Dĩ nhiên tôi đã trình bày tiền nhân hậu quả của việc ông Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích , Nguyễn Gia Phan bị phạt đánh roi ở Văn Miếu vào năm 1803 bởi tân triều Gia Long . Lịch sử đã ghi nhận rõ ràng việc Đặng Trần Thường đã đề nghị giết Ngô Thời Nhậm nhưng Nguyễn Văn Thành can ngăn, vì cho như thế là không giữ chữ TÍN với thiên hạ sau khi Gia Long tuyên bố tha tội cho những cựu thần Tây Sơn ra đầu thú tân triều . Đặng Trần Thường đã dụng CÔNG vi TƯ , trả thù bằng cách qua mặt Gia Long, tẩm thuốc độc vào roi để đánh cho thấm vào nội tạng của Ngô Thời Nhậm khiến ông này từ từ phải chết vào ngày 16 tháng 2 năm 1803.
 Sở dĩ tôi phải viết thêm bài này vì có một bạn tên là DUY TRAN LE đã gửi cho tôi một clip,ghi lại buổi phỏng vấn Sử Gia Trần Quốc Vượng , trong đó nhà sử học đã qua đời này cho nhiều ý kiến mà chủ yếu là đả kích Ngô Thời Nhậm. 
 Theo ông Trần Quốc Vượng , ông Ngô Thời Nhậm không hề được Nguyễn Huệ trọng dụng vì chỉ được phong cho chức Tả Thị Lang Lại Bộ , tước Trình Phái Hầu . Cũng theo ông TQV, tư cách của ông Ngô Thời Nhậm có vấn đề khi " bị nghi ngờ " đã mật báo cho Chúa Trịnh Sâm về âm mưu  tranh ngôi của Trịnh Khải , người còn có tên là Trịnh Tông , vì theo ông TQV , sau đó ông Ngô Thời Nhậm được Chúa Trịnh Sâm thăng chức Hữu Thị Lang Bộ Công , và sau khi Trịnh Khải lên ngôi Chúa thì không dùng Ngô Thời Nhậm nữa và ông này phải lo trốn về quê vợ ở Sơn Nam trong suốt 6 năm trời  .
 Tôi hiểu bạn Duy Tran Le gửi cho tôi cái clip phỏng vấn nhà sử học Trần Quốc Vượng là có ý gì !  Hẳn anh bạn này cho rằng tôi nhận định sai về trường hợp của Đặng Trần Thường, và tôi thiên vị cho nhân vật Ngô Thời Nhậm  .
 Xin thưa với anh Duy Tran Le, tôi chả là cái gì hết ngoài một ý thức muốn giành lại SỰ THẬT cho lịch sử. Tôi chỉ dựa vào những sử liệu , và chọn lọc, để tự tạo cho mình một cái nhìn mà tôi chủ quan cho là khá chính xác. Thí dụ như vụ đối đáp giữa hai ông Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhậm, chỉ nội cái câu đề mà Đặng Trần Thường đưa ra để buộc Ngô Thời Nhậm đối đáp cũng đủ nói lên bản chất TIỂU NHÂN ĐẮC CHÍ của họ Đặng, cần gì phải đào sâu , tìm hiểu đâu xa  !  
 Nhưng muốn tìm hiểu tính cách của một danh sĩ như Hy Doãn Công Ngô Thời Nhậm thì, theo tôi ,đề tài này  quá rộng, tôi chỉ  có thể góp ý với anh Duy Tran Le vài điều bằng cách phản biện lại những điều mà ông Trần Quốc Vượng đả kích  ông Ngô Thời Nhậm trong cái clip của cuộc phỏng vấn .
 Trước hết là về việc ông TQV cho rằng Nguyễn Huệ cũng không trọng dụng Ngô Thời Nhậm với bằng chứng là  chỉ phong cho ông này chức Tả Thị Lang , ngang với bậc Thứ Trưởng bây giờ, đâu có quyền cao chức trọng gì ? 
 Một nhà nghiên cứu sử như ông Trần Quốc Vượng mà phán xét hời hợt như thế thì chả trách gì nền sử học nước nhà ngày nay càng đi vào nẻo cụt, toàn những thứ rác rưởi.
 Khi Nguyễn Huệ ra bắc lần thứ hai  để giải quyết vấn nạn nội bộ xáo trộn do Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm gây ra , ông Trần Văn Kỷ, một mưu thần cho Nguyễn Huệ đã giới thiệu Ngô Thời Nhậm cho Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ cho người mời NTN ra giúp nước. Khi gặp nhau, Nguyễn Huệ mừng rỡ mà bảo rằng " Thật là ông trời đã để dành ông cho ta ! " 
 Nguyễn Huệ biết ông Nhậm là người tài kiêm văn võ, nhưng lần đầu tiên gặp gỡ mà ông sử gia Trần Quốc Vượng lại muốn Nguyễn Huệ giao chức BINH BỘ THƯỢNG THƯ ngay cho Ngô Thời Nhậm mới là trọng dụng ư ? Đúng là cái nhìn của sử gia xã nghĩa ! Có lẽ ông Trần Quốc Vượng nghĩ rằng thời đại của Nguyễn Huệ cũng giống thời đại của Nguyễn Phú Trọng chắc ? Chỉ cần có nhân thân là cho chức vụ cao mặc dù một chữ bẻ làm đôi cũng không biết ? Ngô Thời Nhậm, tiến sĩ thứ thiệt chứ có phải là tiến sĩ giấy như Phùng Xuân Nhạ, Nguyễn Đức Kiên, Nguyễn Phú Trọng v.v.  ở VN xã nghĩa đâu , mà tiến sĩ thứ thiệt thì cũng cần có thời gian để chứng minh bản lĩnh để giữ trọng trách cao hơn chứ ? Và Ngô Thời Nhậm đã thực sự chứng minh bản lĩnh tuyệt vời của ông trong mọi lãnh vực từ nội trị, quân sự cho đến ngoại giao . Năm 1788 ,  29 vạn quân Thanh ào ạt sang xâm lược, ai đã chủ  trương lui quân về Tam Điệp - Ninh Bình để dưỡng sức quân , tránh mũi nhọn và để cho quân Thanh thêm phần kiêu ngạo, khinh địch , góp phần quan trọng cho chiến thắng của binh lực Nguyễn Huệ sau này ? 
  Bắt đầu với chức Tả Thị Lang năm 1788, rồi đến chức Binh Bộ Thượng Thư năm 1790, Ngô Thời Nhậm chẳng những là một rường cột của nhà Tây Sơn  về quân sự mà còn là nhà ngoại giao lỗi lạc để đối phó với dã tâm thèm thuồng nước Nam của nhà Thanh .Như thế mà ông Trần Quốc Vượng dám ăn nói ngược ngạo rằng Quang Trung Hoàng Đế không trọng dụng Ngô Thời Nhậm ư ? 
 Chưa hết, nếu một kẻ làm quan mà không được vua trọng dụng  thì làm sao mà Ngô Thời Nhậm viết được bài thơ tưởng nhớ Vua Quang Trung rất cảm động  trong tập CÚC THU BÁCH VỊNH của mình, đọc lên nghe như viết cho một người tri kỷ  :

Vua sáng tôi hiền xưa một đình 
Hương Giang ngự giá lối xe tiên 
Xưa qua Kim Mã đường đi sứ
Dâng tấm ngự chương bút ngợi khen .
Năm tháng tên bay giờ tóc bạc
Đỉnh hồ mờ mịt nhớ Đan Dương (1)
Muốn mong trở lại ngày tao ngộ
Nhưng nực cười không thuốc nhuộm đen .(2)

Thêm một bài tiếc thương Vua Quang Trung :

Khó níu xe rồng Tử Cực Đường 
Quanh co chín khúc suối vàng trông 
Võ công hiển hách nơi nương tựa
Mưu lược anh minh lưu hiến chương .
Hiện xuống hồn thiêng khâm tại tả
Giữ gìn giòng dõi ngưỡng vầng dương 
Đất trời bồi đắp lo đền đáp
Khôn đạo không ngoài lợi thẳng vuông .

Về sự kiện ông Ngô Thời Nhậm BỊ NGHI NGỜ cáo tố với Chúa Trịnh Sâm cái âm mưu soán ngôi của Trịnh Khải, ông Trần Quốc Vượng dè bỉu với lời lẽ muốn tạo cho người nghe cảm giác rằng ông Ngô Thời Nhậm là một kẻ cơ hội, nghe được âm mưu của Trịnh Khải, vội báo cho Trịnh Sâm biết để lập công .
 Đây là một NGHI ÁN, có nghĩa là không có gì rõ ràng , chỉ là người ta thấy sau khi âm mưu của Trịnh Khải đị đổ vỡ, Ngô Thời Nhậm được thăng chức Hữu Thị Lang Bộ Công ; rồi sau khi Trịnh Khải lên nắm quyền thì không trọng dụng Ngô Thời Nhậm  nữa và ông này phải về Sơn Nam, Tỉnh Thái Bình  lánh nạn năm 1782  v.v. để rồi kết luận rằng Ngô Thời Nhậm là kẻ đi mật báo cho Trịnh Sâm .
 Một nghi án, không có bằng chứng nào thuyết phục, mà ông Trần Quốc Vượng cứ nhắm vào Ngô Thời Nhậm mà buộc tội, cái lối hành xử kiểu cả vú lấp miệng em này rất giống với cách buộc tội của tòa án Việt Cộng thời nay.
 Tôi xin góp ý về vụ này như sau :
   Nên nhớ một điều, khi Lê Chiêu Thống chạy qua Tàu cầu viện, rước quân Thanh về giày mả tổ, có rất nhiều quan viên , cả đống trí thức, chạy theo Lê Chiêu Thống để mong có phần , riêng Ngô Thời Nhậm thì ở lại và sau đó ra giúp Nguyễn Huệ, ổn định Bắc Hà, sẵn sàng chống lại quân Thanh xâm lược, đang rình rập ngoài bờ cõi . 
 Một con người không nghĩ tới lợi riêng như ông mà bảo rằng ông đi mật báo với Trịnh Sâm để lập công , theo tôi , là chuyện tào lao . Đó là chưa kể có sách còn ghi lại rằng , khi nghe vụ âm mưu này , Ngô Thời Nhậm đã nhờ người về gấp gặp Trịnh Khải để khuyên ông con trai trưởng của Trịnh Sâm hãy ngưng ngay ý đồ kia lại vì ông từng là thầy dạy của Trịnh Khải và có tình cảm liên hệ.
 Giả sử như ông Ngô Thời Nhậm thực sự là người tố cáo với Chúa Trịnh Sâm vụ âm mưu soán ngôi của Trịnh Khải, theo tôi, hoàn toàn không phải vì TƯ LỢI như mọi người đã nghi ngờ.
 Xuyên suốt trong cuộc đời vì nước, vì dân của Ngô Thời Nhậm , ông luôn bỏ qua những tiểu tiết, mà chú trọng vào đại cuộc. Anh em của Nguyễn Huệ chỉ là những người thuộc giới thảo dã, nào có thuộc giới danh gia, vọng tộc gì đâu, thế mà Ngô Thời Nhậm không cao hãnh vì " dòng họ Ngô một bồ tiến sĩ " sẵn sàng coi Nguyễn Huệ như tân chúa của mình mà hợp tác , bày mưu tính kế để cùng nhau gìn giữ giang sơn trước họa xâm lăng của nhà Thanh bên Tàu. .
 Triều đại của Vua Lê Chúa Trịnh là triều đại loạn lạc nhất của xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ 18 . Vua Lê chỉ là con rối bù nhìn để Phủ Chúa tùy nghi sử dụng . Triều thần Trương Phúc Loan ỷ thế lộng quyền , rồi tới nạn kiêu binh, con trưởng con thứ của Chúa Trịnh Sâm tranh quyền , đoạt lợi, kỷ cương nước nhà nát bét. Trong khi đó thì nhà Thanh bên Tàu hờm sẵn ngoài ải bắc, sẵn sàng xâm lược. Với cái nhìn của một thức giả, NẾU ông Ngô Thời Nhậm thực sự dính vô vụ án này như một kẻ mật báo cho Chúa Trịnh Sâm , thì theo tôi, không phải vì ông mong được thưởng công , mà vì ông  muốn chận đứng cuộc tranh ngôi Chúa của mấy người con của Trịnh Sâm, có thể  làm cho nước nhà thêm xáo trộn, tối tăm  để giặc Tàu thừa cơ mà xâm lấn .
 Tóm lại, tôi có thể nói chắc một điều rằng Quang Trung Hoàng Đế rất coi trọng Ngô Thời Nhậm , và ông Nhậm cũng kính trọng Nguyễn Huệ như một chân chúa song toàn văn võ. Nếu không thì Ngô Thời Nhậm  cũng không thể nào viết được hai bài thơ tiếc thương Vua Quang Trung một cách chí thành như thượng dẫn .
 Khi Nguyễn Huệ chí lớn chưa thành , mất sớm vì bịnh bất ngờ, Nhà Tây Sơn coi như đã hết . Vua Cảnh Thịnh nối ngôi chỉ như một con rối để cho Thái Sư Bùi Đắc Tuyên hoành hành bá đạo , đến nỗi vào năm 1793, hắn còn muốn lật đổ Vua Cảnh Thịnh để cho con trai là Bùi Đắc Trụ lên thay . Sau đó tướng Vũ Văn Dũng đem quân về giết hai cha con Thái Sư Bùi Đắc Tuyên và tướng Võ Văn Sở. Nhà Tây Sơn ngập tràn mâu thuẩn .
  Một người trải lắm sự đời như ông Ngô Thời Nhậm làm sao không biết rằng cái thế của Tây Sơn đã tàn , một mình ông dù có cố gắng thì cũng cà xịch cà đụi như Khổng Minh cố phò con trai của Lưu Bị là cùng . Vì thế mà ông từ quan về mở thiền viện  và lấy đạo hiệu là Hải Lượng Thiền Sư.
 Thế mà qua miệng lưỡi láu cá của cái gọi là Sử Gia Trần Quốc Vượng thì sau khi Nguyễn Huệ chết, vua mới lên ngôi không thèm trọng dụng Ngô Thời Nhiệm nữa ? 
 Trong lịch sử nước nhà, việc triều đại này lên, triều đại kia xuống là việc quá bình thường . Ở Trung Quốc, tình trạng này gọi là đuổi nai nơi Trung Nguyên ; ai có tài cao chí lớn thì sẽ nắm vận mệnh một triều đại. 
  Nhà Hậu Lê tới đời Lê Chiêu Thống đã quá mục ruỗng, đã có Vua Lê lại còn Chúa Trịnh, quyền thần làm loạn, kiêu binh nổi lên làm cho cả một hệ thống cai trị như một nồi cháo tả bí lù, chẳng đâu vào đâu .
 Giữa hoàn cảnh đó, nhà Thanh bên Tàu  không mang dã tâm xâm lược nước ta mới là lạ. May mắn thay, trời Nam lại xuất hiện anh hùng . Nguyễn Huệ, một người xuất thân thảo dã , lại gầy dựng nên một triều đại Tây Sơn , tuy ngắn ngủi , nhưng đầy hiển hách . Tây Sơn đã quét sạch những thứ cặn bả nhơ nhớp của cung Vua, phủ Chúa, đoàn kết dân tộc, chống trả quân Thanh xâm lược và đã chiến thắng huy hoàng.
 Nhưng một mình Nguyễn Huệ cũng không thể nào làm nên cơm cháo gì. Quang Trung Hoàng Đế đã có những võ tướng tài cao mật lớn, những mưu sĩ nhìn xa trông rộng như Trần Văn Kỷ, Ngô Thời Nhậm .
 Tính cách của Ngô Thời Nhậm là một tính cách khá toàn diện. Ông chẳng những là nhà nội trị tài ba, một thiên tài quân sự, mà còn là một nhà ngoại giao kiên định và xuất sắc.
 Trong lúc những danh sĩ khét tiếng thời đó như Trần Danh Án, Nguyễn Nha, Ngô Tưởng Đạo , Nguyễn Du, Bùi Huy Bích, Phạm Thái , Lê Quýnh , Trần Công Xán  v.v. kẻ thì lạc lỏng giữa ngã ba thời cuộc, ưu thời mẫn thế nhưng chỉ ngồi đó than van sinh bất phùng thời , kẻ thì chạy theo Lê Chiêu Thống để mong hưởng mót vinh hoa, chỉ có Ngô Thời Nhậm không tự coi mình là danh gia vọng tộc, sẵn sàng vì đất nước , dân tộc mà ra giúp sức cho ông " lãnh tụ thảo dã " Nguyễn Huệ, ổn định Bắc Hà và lo chống giặc Thanh xâm lược. 
 Ngô Thời Nhậm tuy được sinh ra giữa thế kỷ 18 , nhưng cái nhìn cấp tiến của ông vào thời đó đáng cho chúng ta ngưỡng mộ. Ngay như người sống sau ông Nhậm gần ba thế kỷ như ông Sử Gia Trần Quốc Vượng thế mà mở miệng ra là nói toàn lời thiên lệch, đầy thành kiến với một chân quân tử như ông Ngô Thời Nhậm , thật là quá tệ ! 
  Với cái nhìn của tôi, trong lịch sử đất nước, có hai nhân vật khá tương đồng , văn cũng hay mà võ cũng giỏi, lại rất gần gũi với đời sống và tâm tư của người dân , với những thăng trầm của đất nước, sẵn sàng đóng góp hết sức mình cho sự trường tồn của dân tộc. Đó là hai vị anh hùng NGUYỄN TRÃI hiệu là Ức Trai và NGÔ THỜI NHIỆM hiệu là Hy Doãn . Họ là những ánh Sao Khuê luôn sáng ngời trong dòng lịch sử của dân tộc.
(1) Đan Dương : Nơi an táng Quang Trung Hoàng Đế .
(2) Ý nói thuốc để nhuộm râu.
Huỳnh Hậu.


__._,_.___

Posted by: Batkhuat nguyen 

TRẦM TỬ THIÊNG, Người Chép Sử Lưu Vong Bằng Âm Nhạc.

 

Một mặt trận hai kẻ thù 
Giặc cộng bán nước, tàu phù xâm lăng.

TRẦM TỬ THIÊNG, Người Chép Sử Lưu Vong Bằng Âm Nhạc.

Huy Phương

                                                                                                       Image may contain: 4 people
– “Bước Chân Việt Nam”, bản quốc ca cho những người Việt Nam thống khổ, lưu vong.
“Cộng Sản là Cộng Sản.
Không có việc Cộng Sản ngày
hôm nay tốt hơn ngày hôm qua”.
(Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

Tính đến ngày 25 tháng 1-2019 năm nay, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng bỏ chúng ta ra đi đúng 19 năm. Trầm Tử Thiêng là một người đã sống một cuộc đời khắc khổ, đạm bạc pha đôi chút cô đơn, lúc ra đi bình thản, lặng lẽ nhưng đã để lại cho đời một kho tàng âm nhạc vĩ đại. Vĩ đại không ở chỗ nhiều người nghe, nhiều người thuộc như các tác giả thời danh khác, mà ở ông tấm lòng của một người lưu lạc, luôn luôn tin tưởng vào đất nước một ngày mai. Nơi ông, suốt đời và nhất là những năm cuối cùng, hai chữ Việt Nam luôn luôn như một lời réo gọi chứa chan thương yêu ngọt ngào và đầy hy vọng.
Nguyễn Văn Lợi (tên thật của ông) ra đời tại quận Ðại Lộc, Quảng Nam năm 1937, đã lớn lên và trải qua thời thơ ấu trong Liên Khu Tư Nam Ngãi, những năm tháng chiến tranh và ông đã hiểu thế nào là một đời sống trong chế độ Cộng Sản nhất là với tuổi ấu thơ. Khi mảnh đất này được tự do, ông vào Saigon theo học trường Sư Phạm Nam Việt và trở thành một thầy giáo, chăm sóc đám trẻ thơ của đất nước. Bản chất của ông cũng như nghề nghiệp đã đào tạo Trầm Tử Thiêng thành một người nhân hậu nhưng thẳng thắn, cương quyết đi đến tận cùng, nếu cần để tranh đấu cho lẽ phải.
Những ca khúc đầu tay cũng như những sáng tác trong thời gian bị động viên: “Mưa Trên Poncho”(*).”Ðêm Di Hành”, “Quân Trường Vang Tiếng Gọi” đã đưa ông từ quân trường về Phòng Văn Nghệ, Cục Tâm Lý Chiến, nơi ông có thể đành tất cả thời gian cho việc sáng tác và sinh hoạt âm nhạc của ông. Tuy ở trong một môi trường mà những ca khúc của ông có thể phổ biến mạnh mẽ trên thị trường để đem lại no ấm cho ông như các nhạc sĩ thời thượng vào lúc bấy giờ, Trầm Tử Thiêng đã chọn con đường đi của mình. Ðó là Trầm Tử Thiêng, nhạc sĩ của thời đại với những nỗi buồn vui chung, không phải của riêng ai. “Ðưa Em Vào Hạ”, “Chuyện Một Chiếc Cầu Ðã Gãy”, “Hương Ca Vô Tận”, “Bài Vinh Thăng Cho Một Loài Chim”… là những ca khúc của một thời chinh chiến mà những người như Trầm Tử Thiêng đã sống và cảm nhận, trang trải với những âm thanh làm xúc động lòng người..
Tháng 4 năm 1975, bản thân của Trầm Tử Thiêng hoà vào niềm đau chung cua cả dân tộc, ông là một trong những người vượt biển, tù đày, bị lao động cưỡng bức trên nông trường. Ðây là giai đoạn ông viết “ Tâm Ca Của Người Tù Vượt Biển”, “Hành Ca Trên Nông Trường Oan Nghiệt”, “Du Ca Trên Thành Phố Ðỏ”…Bối cảnh những cuộc vượt biển, chia ly, chết chóc thể hiện trong: “Gởi Em Hành Lý”, “Người Ở Lại Ðưa Ðò. “Mẹ Hậu Giang”, “Trại Tỵ Nạn Galang.”
Mười năm sau biến cố điêu linh của đất nước, Trầm Tử Thiêng đến được bến bờ của Tự Do, “Mười Năm Yêu Em” mang ẩn dụ mười năm khao khát được thấy ánh sáng ý nghĩa của cuộc đời nhưng đồng thời cũng cùng với những đắng cay của nó. Trầm Tử Thiêng đã sống qua thời thơ ấu trong chiến tranh, lớn lên cùng chiến tranh và người nhạc sĩ này đã đi theo nhịp bước của những con người Việt Nam bình thường, khoác áo trận, ngã nghiêng vì vận nước, tù đày, xót xa cùng thân phận chung của những người vượt biển, bỏ nước ra đi.
Ðược đến bến bờ tự do dù là muộn màng, Trầm Tử Thiêng, người nghệ sĩ chân chính, không lo chuyện cơm áo mà thấy mình có bổn phận của con người nhớ đến những con người còn đau khổ. Trầm Tử Thiêng còn biết nhìn lại những trại cấm, đêm ngày đang vẳng tiếng kêu siết của những người đói tự do, đuổi người trở lại biển khơi hay trói người trả lại nơi khổ nhục mà nơi đó họ đã ra đi, trong chiến địch “cưỡng bức hồi hương” để viết nên “Nói Với Hồng Kông”, hay “Thà Chết Nơi Này”. Người nhạc sĩ đã thoát ra từ nỗi khổ đau của riêng mình, để hoà nhập trải lòng ra với những nỗi khổ đau của con người, đó là lúc ông nghĩ đến những đồng bào đang “mắc cạn” trên những hòn đảo trong Thái Bình Dương, mà giấc mơ nhìn thấy ánh sáng tự do tàn phai cùng năm tháng. Tấm lòng của Trầm Tử Thiêng lại giạt dào: “Ta Hát Tình Thương Về Biển Ðông”!
Cho tới khi Trầm Tử Thiêng gặp được Trúc Hồ, con người sinh ra sau ông gần một thế hệ mà gần gũi như một người bạn tri kỷ (tuổi Trầm Tử Thiêng ngang với tuổi Trúc Giang, thân phụ của Trúc Hồ). Cả hai cùng nhìn về những người bất hạnh hơn họ, nhìn về những đứa trẻ thơ thiếu may mắn hơn tuổi thơ của họ, sinh ra và lớn lên trong vòng rào kẽm gai của những trại tỵ nạn, không hề có tương lai. Xúc cảm, Trúc Hồ đã viết nên những dòng nhạc chan chứa yêu thương, và Trầm tử Thiêng đã diễn dạt bằng lời hát ngọt ngào, kêu gọi “Bên Em Ðang Có Ta”. Ðây không là một bản tình ca của một người, mà là bản tình ca nhân ái dành cho đồng loại.
Cũng với tấm lòng đó, trước khi qua đời, Trầm Tử Thiêng muốn thành lập một “foundation” mang tên ca khúc “Bên Em Ðang Có Ta” dành cho những em bé tỵ nạn đang còn bơ vơ trong các trại cấm. “Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng” nói lên giai đoạn “cưỡng bách hồi hương” đã chấm dứt, khi đồng bào đã tìm được đất dung thân trên đất Phi, và đó cũng là lời tiên tri cho những năm tháng sau cùng, nhờ sự vận động của Luật sư Trịnh Hội và các tổ chức thiện nguyện ở hải ngoại tiếp tay cứu vớt họ đến bến bờ tự do.
Ðánh dấu 20 năm bỏ nước ra đi của người Việt tỵ nạn, trung tâm Asia đã thực hiện chương trình “Cuộc Hành Trình Vượt Biển” như một tác phẩm đánh dấu nỗi gian nguy, ghi nhớ những người đã khuất cũng như ngõ lời cám ơn những bàn tay rộng lượng khắp năm châu đã dang tay đón nhận những người tỵ nạn. Ðó là “Bước Chân Việt Nam”, do Trầm Tử Thiêng và Trúc Hồ viết chung, như một bản quốc ca cho những người Việt Nam thống khổ, lưu vong. Trong niềm tin tất yếu vào tương lai, người nghệ sĩ khẳng định về một ngày mai của đất nước, một ngày mai có tự do, dân chủ và nhân quyền, “Một Ngày Việt Nam” hợp soạn giữa hai nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng & Trúc Hồ chính là nỗi mơ ước ấy. Chính chúng ta, những người Việt lưu vong sẽ bước trở về theo nhịp bước đồng hành reo vui của “Một Ngày Việt Nam” như nỗi ước mơ của bao người, thế hệ này không thành thì hy vọng đến đời sau.
Trầm Tử Thiêng đóng góp cho phong trào du ca không phải là ít, nhất là từ khi ra hải ngoại, tuy ông không muốn đứng trong phong trào du ca, nhưng ông vẫn sáng tác đều và tham gia hoạt động du ca nối dài là “hát cộng đồng”, rất được giới trẻ tham gia, phong trào rất được phổ biến vào cuối thập niên 90 tại Hoa kỳ, nhất là vùng California. Về phương diện chính trị, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có thái độ đứt khoát, như lời thổ lộ với bạn bè: “Cộng Sản là Cộng Sản. Không có việc Cộng Sản ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua”.
Ông tách rời với bằng hữu nếu những người này bày tỏ quan điểm mập mờ thân Cộng hay đi về trình diễn ở Việt Nam và ông quan niệm Cộng Sản là nguyên nhân gây nên nỗi khổ đau của người Việt hiện đang sống trong nước và phải sống ly hương ngày nay. Trong giới ca nhạc, ông lấy chữ tín làm đầu, và là người biết “trọng nghĩa khinh tài.” Ông đã từng yêu cầu một ca sĩ đừng đến thăm ông lúc ông bệnh, đừng dự đám táng ông, đừng hát nhạc ông vì tư cách người này đã đi ngược lại những nguyên tắc đạo đức căn bản của ông đã đề ra trong cuộc sống.
Nhìn lại toàn bộ nhạc phẩm của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, chúng ta thấy con người của ông hình như sinh ra để sống và viết cho người khác hơn là cho cõi riêng tư của ông, và nếu có thì cõi riêng tư đó cũng mang niềm vui hay đau xót chung của cả dân tộc. Từ một bài hát từ quân trường của ngày nhập ngũ đến ca khúc bát ngát tấm lòng nhân ái đối với con người và đất nước, Trầm Tử Thiêng đã đi hết con đường trong gai góc của chiến tranh, tù đày, vượt biển và lưu vong, cho nên có thể nói toàn bộ nhạc phẩm của người nhạc sĩ này phản ánh đời sống và tâm trạng của một con người Việt Nam lưu vong.
Trầm Tử Thiêng ra đi vào ngày 25 tháng 1 năm 2000 sau một thời gian chữa bệnh nan y theo cách riêng của ông và đã chết vì kiệt lực khi mỗi ngày chỉ nhấp vài viết giọt nước. Trước đó, Trầm Tử Thiêng đã viết bài “Tưởng Niệm” như một định mệnh, cũng như bài “Hẹn Nhau Năm 2000”, nhưng không phải để gặp nhau mà để bỏ bạn bè quá sớm.
Trầm Tử Thiêng chết không trẻ, giữa lúc ông đã đến tuổi 64, nhưng hình như nơi ông, chúng ta tìm thấy hình ảnh một ông thầy giáo khắc khổ, sống đạm bạc và cô đơn cho tới lúc cuối đời, hơn là một người nghệ sĩ nổi tiếng hiện diện giữa đám đông hay dưới ánh đèn sân khấu. Trầm Tử Thiêng ít bộc lộ cuộc đời riêng của ông, những mối tình ít người biết cũng như cả bệnh tật ông mang vào những ngày cận tử. Nhưng dưới mắt bạn bè, Trầm Tử Thiêng là một người đạo đức nhân hậu, rộng rãi và thẳng thắn, nóng nảy, nhất là đức tính trọng nghĩa khinh tài.
Trầm Tử Thiêng ra đi là một niềm mất mát lớn, trong phạm vi nhỏ là với những trung tâm băng nhạc ông đã cộng tác, mà nhất là Asia. Nếu mai sau, đất nước không còn Cộng Sản, không còn thù hận, đố kỵ giữa con người chung một quê hương, thì những bản nhạc của riêng ông hay viết chung với Trúc Hồ là những bản nhạc mang tính chất lịch sử, phải được đời sau nhắc nhở.
Có thể nói, Trầm Tử Thiêng chết đi cho đến giờ này, mười chín năm sau, cho tới giờ này, hải ngoại vẫn chưa ai có thể thay thế ông.
Ông không còn sống để chờ những “tin vui giữa giờ tuyệt vọng”, nhưng ông đã trao lại cho thế hệ trẻ tuổi niềm tin vào một buổi sáng bình minh của đất nước, để chúng ta có thể trở về như lời tiên tri của ông:“người về một giờ một đông hơn!” trong bài “Kinh Khổ”.
(*) Bài “Mưa Trên Poncho” đã đưa Trầm Tử Thiêng từ quân trường về Phòng Văn Nghệ, Cục Tâm Lý Chiến- Saigon với Tô Kiều Ngân, Đỗ Kim Bảng và sau này do Tô Thùy Yên làm Trưởng Phòng.
HUY PHƯƠNG
(Bài viết năm 2007- Sửa chữa năm 2013 và 2019, nhân ngày giỗ của Trầm Tử Thiêng, 25 tháng 1 Dương Lịch.) 

__._,_.___

Posted by: Batkhuat nguyen 

Saturday, March 16, 2019

Tương lai khi già ai sẽ nuôi dưỡng bạn?



----- Forwarded Message -----
From: Huong Tran <>
Sent: Thursday, March 14, 2019, 5:40:42 PM PDT
Subject: [OCGroupForum] Tương lai khi già ai sẽ nuôi dưỡng bạn? Câu chuyện đau lòng nhưng có thể cho bạn câu trả lời chân thực


alt
“Nuôi con dưỡng già” là quy luật bất thành văn từ ngàn đời này. Tuy nhiên, ngày nay khi đọc tin tức, có rất nhiều bài viết về “người già vô gia cư, con tranh chấp tài sản của bố mẹ”, bạn có nghĩ rằng quan niệm “nuôi con dưỡng già” vẫn còn đúng?
alt
Bạn hãy xem câu chuyện bên dưới để suy ngẫm và tìm câu trả lời cho chính mình nhé.
Có một người mẹ đơn thân nuôi con, chồng bỏ đi từ sớm, cô ấy sống bằng nghề dạy học, với thu nhập khá khiêm tốn đã nuôi dưỡng con trai khôn lớn thành tài.
Lúc còn nhỏ, con trai rất ngoan ngoãn, vâng lời. Cô vất vả nuôi dạy con đến tuổi trưởng thành, và cậu con trai được đi Mỹ du học. Sau khi con trai tốt nghiệp đại học đã ở lại Mỹ làm việc, kiếm được khá nhiều tiền rồi mua nhà, và lấy vợ, sinh con, xây dựng một gia đình hạnh phúc đầm ấm.
Người mẹ già này, dự định sau khi nghỉ hưu sẽ đến Mỹ đoàn tụ cùng con trai và con dâu, hưởng phúc gia đình vui vẻ sum vầy. Chỉ ba tháng trước khi cô sắp nghỉ hưu, cô đã nhanh chóng viết một lá thư cho con trai, nói với con về nguyện vọng này.
Trong tâm cô rất đỗi vui mừng khi nghĩ đến chặng đường “nuôi con dưỡng già” của mình sắp đến hồi kết tốt đẹp, cùng những ánh mắt hâm mộ của bà con, bạn bè xung quanh. Vì thế mà một mặt cô đợi hồi âm của con, một mặt cô thu xếp bán nhà và nộp đơn nghỉ hưu.
Vào đêm trước ngày nghỉ hưu, cô nhận được thư hồi âm của con trai gửi từ Mỹ về, mở thư ra xem, trong thư có kèm một tấm ngân phiếu 30 ngàn đô la Mỹ.
Cô cảm thấy rất lạ, bởi vì từ trước đến giờ con trai không bao giờ gửi tiền về, cô vội vàng mở thư, bức thư viết rằng: “Mẹ à, sau khi vợ chồng con cùng nhau bàn bạc, quyết định là không thể đón mẹ đến Mỹ sống chung được. Cứ cho rằng mẹ có công nuôi dưỡng con trước đây, toàn bộ chi phí đó, thì tính theo giá cả thị trường bây giờ khoảng 20 ngàn đô Mỹ. Nhưng con sẽ gửi thêm một chút, là tấm chi phiếu 30 ngàn đô này. Hy vọng từ nay về sau mẹ đừng viết thư cho con nữa, cũng đừng kể lể về những việc như thế này nữa.”
alt
Sau khi người mẹ đọc xong lá thư này thì nước mắt đầm đìa. Cô lặng im một hồi lâu, thật khó mà chấp nhận được sự thật này. Nhưng với tấm lòng người mẹ bao la như biển cả, cô không trách con trai, chỉ cảm thấy tủi phận cho một đời góa bụa. Khi trẻ đơn độc nuôi con, bây giờ cần nơi nương tựa vẫn lẻ bóng, lòng cô đau như cắt!.
Sau đó, cô tìm đến cửa Phật, và bắt đầu học Phật Pháp. Học được một thời gian, cô cảm thấy tâm thái nhẹ nhõm, suy nghĩ cũng thông mọi chuyện. Cô dùng 30 ngàn đô đó để đi du lịch khắp thế giới, lần đầu tiên trong đời, cô được mở mang tầm mắt thấy được quang cảnh thế giới này thật đẹp biết bao.
Như cởi được tất cả mọi sân si, hờn giận, cô thanh thản viết cho con trai mình một bức thư.
“Con trai à, con muốn mẹ đừng viết thư cho con nữa, thế thì, cứ xem như lá thư này là bổ sung cho bức thư con đã gửi mẹ trước đây. Mẹ nhận tấm séc rồi, cũng đã dùng nó để thực hiện một chuyến du lịch vòng quanh thế giới.
Trong chuyến đi này, mẹ đột nhiên cảm thấy rằng nên cảm ơn con, cảm ơn con đã giúp mẹ hiểu thấu được mọi chuyện, có thể buông bỏ nhân tâm, khiến mẹ nhận ra tình thân quyến, tình bạn và tình yêu của con người trên thế gian này đều không phải là vĩnh cửu, chỉ như như bèo dạt mây mà trôi, tất cả đều đang thay đổi từng ngày.
Nếu ngày hôm nay mẹ không thông suốt, vẫn còn ôm giữ bao nhiêu sân si, hờn giận, đau khổ thì có thể một vài năm nữa, mẹ có lẽ sẽ không sống nổi. Sự tuyệt tình của con khiến mẹ ngộ được chữ “duyên” nơi trần gian này, chẳng phải duyên hợp lại tan đó sao! Tất cả đều là vô thường!  Mẹ cũng học được cách giữ tâm mình thanh tĩnh và ung dung tự tại. Mẹ đã không còn con cái nữa, tâm đã vô lo, nên mới có thể đi đến bất cứ nơi đâu mà tâm không mảy may vướng bận.”
“Thật đáng thương cho cái tâm của các bậc làm cha mẹ trên thế giới này”, vì họ luôn muốn điều tốt đẹp nhất cho con cái của mình, nhưng kết quả cuối cùng lại chưa hẳn là tốt nhất.
Có một câu nói rằng: “Nhà của cha mẹ là nhà của con cái, nhà của con cái không bao giờ là nhà của cha mẹ. Sinh con là nhiệm vụ, nuôi con là nghĩa vụ, nhưng dựa vào con là sai lầm.”
alt
Mặc dù không phải tất cả con cái đều vô lương tâm như người con trai trong câu chuyện này. Nhưng những bậc làm cha mẹ nhất định không nên nghĩ rằng sẽ dựa vào con cái của mình. Chân thành mà nói, bạn hãy chỉ dựa vào chính bản thân mình. Con cháu nếu có hiếu thảo với bạn, thì đó cũng là phúc đức của bạn. Còn nếu chúng không hiếu thảo, thì bạn cũng không thể cưỡng cầu mà có được. Cách tốt nhất là hãy sớm lên kế hoạch “dưỡng già” ngay từ bây giờ, sẽ không bao giờ là quá muộn cả!.
Khai Tâm

__._,_.___

Posted by: Dan Vo 

Featured Post

NHỮNG KHÔI HÀI VỀ . . . Chữ Nghĩa Việt Cộng.

  NHỮNG KHÔI HÀI VỀ . . . Chữ Nghĩa Việt Cộng. 1. - Ai cũng biết VC là vua chơi chữ, lúc chúng ...

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List