Popular Posts

Friday, March 27, 2020

Toàn Không I). TRÌ GIỚI LÀ GÌ?


TRÌ GIỚI
Toàn Không 
I). TRÌ GIỚI LÀ GÌ? 
   Trì là giữ chặt chẽ, Giới là những điều ngăn cấm không được làm, không được phạm, Trì Giới là thực hành những luật lệ mà Đức Phật đặt ra cho Phật tử xuất gia thi hành trong khi tu hành, và cho Phật tử tại gia áp dụng trong cuộc sống để có đời sống đạo đức và hưởng quả báo tốt đẹp; nhờ có giữ giới tâm mới được ổn định, tại sao? 
     Vì nếu không giữ giới như một người giết người cướp của chẳng hạn, tâm người ấy tất nhiên là phải dao động mạnh nếu không nói là loạn động, nên không thể định tĩnh được, do đó người giữ giới tâm dễ được định tĩnh; tâm được định huệ mới sinh, huệ phát sinh mới dứt trừ được vô minh, và khi hết vô minh sẽ hết sinh tử luân hồi, tức là minh tâm kiến tánh, đốn ngộ Phật tánh vậy. 
   Giới luật của Phật đặt ra không phải để trừng phạt người không thi hành, mà để giúp cho những người nào thi hành nghiêm chỉnh sẽ hưởng được qủa vị tốt đẹp; những giới luật chỉ có mục đích làm cho các đệ tử Phật được mau chóng đạt qủa Thánh trong khi tu hành. 
II). CÓ MẤY LOẠI GIỚI LUẬT? Có ba loại: 
1). GIỚI LUẬT CHO PHẬT TỬ TẠI GIA (Cư sĩ): 
    Phật tử tại gia gồm cư sĩ nam, cư sĩ nữ, những Phật tử tại gia có những giới: Ngũ giới, Bát quan trai giới, Bồ tát giới cho cả hai loại Phật tử tại gia và xuất gia. 
1. NGŨ GIỚI:
     Phật tử tại gia có thể giữ từ một tới năm giới là:
1- Không sát sinh,
2- Không trộm cướp,
3- Không tà dâm,
4- Không nói dối,
5- Không uống rượu.
     Đã được phân tích kỹ trong bài “Thế nào là một người Phật tử, phần “Ngũ giới”. 
2. BÁT QUAN TRAI GIỚI (tám cửa ngăn): 
     Quan là cửa, trai là sau giờ ngọ không được ăn. tám cửa ngăn chặn tám điều tội lỗi là:
1- Không sát sinh,
2- Không trộm cướp,
3- Không dâm dục, (trong đó có cả tà dâm),
4- Không nói dối,
5- Không uống rượu,
6- Không trang điểm, ca hát hay dự cuộc vui,
7- Không nằm ngồi chỗ êm ấm cao sang (để ngăn ngừa sự qúa sung sướng nảy sinh dục vọng),
8- Ăn chay không qúa giờ ngọ (1:00 giờ trưa) (để ngừa buồn ngủ, bệnh và dễ nhất tâm khi tu hành). 
     Tu tám cửa trai giới chỉ trong vòng 24 giờ tức là một ngày tròn mà thôi, hành giả nên thọ giới tại chùa, khi hiểu rõ chương trình, nghi thức rồi, có thể tự thọ giới tại nhà; nên sắp xếp để thọ bát quan trai giới mỗi tháng một lần, vào ngày mồng tám, mười bốn, rằm, v.v…, nếu hoàn cảnh thuận tiện, thọ nhiều lần càng tốt. Trong khi thọ tám cửa trai giới, thân khẩu ý của hành giả được thanh tịnh, tuy chỉ có 24 giờ nhưng rất qúy báu, hơn cả một đời của người không tu hành gì cả; về vấn đề này được phân tích kỹ trong bài “Tám Quan Trai Giới”. 
2). GIỚI LUẬT CHO PHẬT TỬ XUẤT GIA: 
   Có bốn loại Phật tử xuất gia là: Sa Di, Sa Di Ni, Tỳ Kheo, và Tỳ Kheo Ni. 
1. SA DI VÀ SA DI NI:
     Là những người nam và nữ mới xuất gia phải giữ 10 giới gồm: 1- Không sát sinh, 2- Không trộm cướp, 3- Không dâm dục, 4- Không nói dối, 5- Không uống rượu, 6- Không trang điểm, 7- Không ca hát hoặc dự các cuộc vui nhộn, 8- Không nằm ngồi chỗ êm ấm cao sang, 9- Phải ăn chay và không qúa giờ ngọ, 10- Không dùng vàng bạc châu báu. 
2. TỲ KHEO:
     Là Tăng phải giữ 250 giới, gồm cả những giới cho Sa Di. 
3. TỲ KHEO NI:
     Là Ni phải giữ 348 giới, gồm cả những giới cho Sa Di và Tỳ Kheo. 
4. THỨC XOA MA NA:
    Ngoài ra còn một loại Phật tử xuất gia chưa đủ tuổi, đó là Thức Xoa Ma Na, chưa phải là Sa Di hay Sa Di Ni, giữ 6 giới và tập 296 hạnh giới. 
   Những giới dành cho Tăng Ni rất nhiều và chi tiết, không thể viết ra ở đây; những giới luật này là những hàng rào cản không cho tu sĩ làm với mục đích giúp cho giới tu sĩ không vướng mắc vào những việc của thế gian để tâm được ổn định thanh tịnh, sẽ đưa người tu đến giải thoát. Như tham gia biểu tình ủng hộ phản đối, bàn chuyện chính trị tranh cãi hơn thua, nuôi con nuôi, buôn bán v.v…; người tu hành chân chính không bao giờ làm các việc ấy, vì khi làm tâm trí sẽ bận bịu với các việc ấy không thể yên ổn tu hành được. 
3). BỒ TÁT GIỚI: 
     Bồ Tát giới chung cho cả Phật tử tại gia và Phật tử xuất gia, những Phật tử phát tâm tu hạnh Bồ Tát giới là để rộng bề làm Phật sự và hóa độ chúng sinh. Bồ Tát giới gồm có: 
1. Nhiếp luật nghi giới:
     Người thọ trì Bồ Tát giới quyết giữ 12 trọng (nặng) giới và 48 khinh (nhẹ) giới, nghĩa là quyết không phạm một việc ác nào cả. 
2. Nhiếp thiện pháp giới:
     Người thọ trì Bồ Tát giới quyết làm tất cả các việc lành. 
3. Nhiêu ích hữu tình giới:
     Người thọ trì Bồ Tát giới quyết tu hạnh từ bi hỉ xả, làm tất cả các điều lợi ích cho tất cả chúng sanh, không một loài nào mà không hóa độ. 
III). TRÌ GIỚI NHƯ THẾ NÀO?  
 (Còn tiếp)

TRÌ GIỚI
Toàn Không
(Tiếp theo) 
III). TRÌ GIỚI NHƯ THẾ NÀO? Có hai cách: 
1). TRÌ GIỚI CHẤP TƯỚNG: 
     Là trì giới do vì danh được người ta khen, vì bị người khác ép hay nể người khác mà trì giới, vì ganh đua hay tự hào mà trì giới; những loại trì giới như thế, chỉ có bề ngoài, miễn cưỡng, tự cao tự đại, giả dối đánh lừa người khác, trì giới như thế không có lợi ích gì cả, vì bên trong ô nhiễm xấu xa. 
2). TRÌ GIỚI VÔ TƯỚNG: 
    Trì giới không chấp tướng, theo đúng các điều Phật dạy mà thi hành, không vì danh hay bị ép, không vì nể vì ganh đua mà trì giới. Trong khi giữ giới không hề nghĩ mình giỏi hơn người hay có ý nghĩ khinh chê người phạm giới, mà chỉ nghĩ trì giới là bổn phận của mình không thực hành không được; trì giới với tâm như thế mới đúng là trì giới rộng lớn (Ba La Mật). 
   Trong Tạp A Hàm quyển 2 trang 609 và Tăng Nhất A Hàm, quyển 3, trang 551, Đức Phật dạy người tu: “Chẳng thà ngủ nghỉ chứ không trong lúc tỉnh táo tư tưởng suy nghĩ điên đảo. Thà dùng sắt nóng nung vào mắt chứ không do nhìn sắc đẹp xấu mà khởi loạn tưởng, thà dùng dùi nhọn đâm thủng lỗ tai chứ không vì nghe tiếng hay dở mà khởi loạn tưởng, thà dùng kìm nóng kẹp đứt lỗ mũi chứ không do ngửi mùi mà khởi yêu ghét, thà dùng dao bén cắt lưỡi chứ không nói lời ác, thà dùng lá đồng nung đỏ cuốn quanh người, chứ không khởi nghĩ dâm dục”. 
    Trang 550 Đức Phật dạy: “Nếu người trì giới giảm, người ác nổi lên, khi ấy chính pháp dần dần suy đồi, phi pháp tăng lên, chúng sanh trong ấy sẽ rơi vào ba đường ác (Ngạ qủy, Súc sinh, Địa ngục). Nếu người trì giới đầy đủ, người phạm giới giảm xuống, chính pháp hưng thịnh, chúng sinh trong đó khi mạng chung đều sinh lên cõi Trời, cõi Người”. 
IV). VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI TU: 
   Giới luật của Đức Phật đặt ra chỉ có mục đích làm lợi cho người giữ giới thực hành, người tu mau đạt qủa vị tốt đẹp; giới luật của Đức Phật không đặt kỷ luật trừng phạt người không tuân theo, có thi hành hay không là tuỳ tâm tự liệu lấy, và cũng tuỳ theo đó mà được hưởng phúc đức hay phải nhận qủa báo khổ. Như trong thế gian: sống chừng mực, lương thiện được nhiều người khen ngợi, còn người sống buông thả, không kỉ cương, gây rối, lừa bịp, bị pháp luật trừng trị, và mọi người chê bai. 
   Đối với người tu hành, trì giới đầy đủ, sẽ sáng như mặt trăng trong đêm tối giữa các vì sao. Còn đối với người không giữ giới, sẽ có rất nhiều tai hại như: 
Thứ nhất: Những người khác trông thấy người ấy phạm giới sẽ chê bai, xa lánh. 
Thứ hai: Nếu không ai thấy, không ai nghe người ấy phạm giới, mà sự thực người ấy có phạm giới, người ấy sẽ tự hổ thẹn với chính mình. 
Thứ ba: Nếu người ấy không tự hổ thẹn, người ấy sẽ chẳng bao giờ tu tới nơi tới chốn được, rút cục người ấy chỉ quẩn quanh trong luân hồi sinh tử khổ não mà thôi. 
   Thí dụ một tu sĩ nam thường hay cùng một nữ nhân chuyện trò, gặp gỡ, đi lại cùng với nhau nhiều lần, đây có thể gọi là gần gũi; người ngoài sẽ nghi ngờ, đặt dấu hỏi tại sao hai người này thường giao tiếp gặp nhau? Dù người đó có chân thật tới đâu đi nữa, nhưng Đức Phật đã cấm tiếp xúc riêng lẻ giữa nam và nữ; Đức Phật ngăn ngừa như thế để tránh “lửa gần rơm lâu ngày sẽ bén”, cũng như lửa gần xăng sẽ dễ bùng cháy. Người tu hành không được tiếp xúc nhiều ngay với cả người cùng phái, bớt sự này sự nọ, phải gìn giữ sáu căn là mắt, tai, mũi, miệng, thân và ý, không cho phóng chạy, không cho dính mắc sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp; có như vậy tâm mới được bình thản, dễ đi đến thanh tịnh, cho nên người có tâm dính mắc, tu chẳng ích gì. 
  Có người nói: “Tại sao có người tu hành làm các việc giao tiếp xấu xa, có người tu hành chỉ lo làm việc đời không lo tu, mà không thấy ai nói gì, người ấy vẫn cứ tiếp tục ngang nhiên như thế?” Câu trả lời là Phật giáo không chủ trương trừng phạt một ai, nếu biết người kia làm sai, phạm giới, thì chê bai, xa lánh, chứ không trừng phạt. Vì lẽ đó, người ấy vẫn tiếp tục đường lối của họ, tự làm tự lãnh hậu qủa là sau khi chết sẽ sinh vào cõi ác; tuy nhiên ngay trong hiện tại, người phạm giới vẫn có một số người tin theo, đây là vấn đề nan giải, vì những người tin theo này không thấy người ấy là phạm giới, không thấy người ấy làm sai phạm hạnh (khuôn phép), nên dù có người khác lưu ý họ vẫn không nghe, và vẫn tin theo ủng hộ người phạm giới ấy. 
   Chỉ có điều là nếu một tu sĩ muốn gần người khác phái, muốn hoạt động việc đời, thì Đức Phật cho phép cởi áo của người tu ra và mặc áo của người đời, để trở thành người bình thường trong xã hội. Người ấy lập gia đình, hoạt động ngoài đời như mọi công dân khác, vấn đề sẽ được giải quyết dễ dàng; nhưng khi người ấy cởi bỏ áo nhà tu ra, làm người thường, không còn giá trị nữa, vì lời nói của người ấy ít có ảnh hưởng tới người khác. Bởi vậy, người ấy cố bám víu vào chiếc áo tu sĩ để lợi dụng chiếc áo phục vụ cho bản thân họ; người ấy sống như con mọt, nếu không mau mau sám hối sửa đổi kịp thời, tới lúc chết ắt sẽ vào cõi ác, lúc ấy có hối cũng không còn kịp nữa! 
V). VÀI TRƯỜNG HỢP PHẬT DẠY:

 (Còn tiếp)
TRÌ GIỚI
Toàn Không
(Tiếp theo)  
V). VÀI TRƯỜNG HỢP PHẬT DẠY: 
1). HAI MƯƠI MỐT KẾT: 
     Trong Tăng Nhất A Hàm, quyển 1, trang 168, Đức Phật bảo: “Nếu người nào có tâm dính mắc 21 kết là: Giận (sân), làm hao tổn (nhuế hại), ngủ nghỉ (thuỳ miên), chơi bời (điều hý), nghi ngờ, dữ tợn (nộ), sợ hãi (kỵ), buồn (não), ganh ghét (tật), đắng cay (tắng), không thẹn với mình (vô tàm), không xấu hổ với người (vô quý), giả  vờ (huyển), gian dối, chống đối (ngụy), tranh giành, kiêu căng, phóng túng (mạn), đố kỵ, tự cao tự đại (tăng thượng mạn), tham; người này ắt đọa đường ác chẳng thể sinh cõi lành, ví như áo lông cũ nát lâu ngày dính đầy bụi, nếu muốn nhuộm màu xanh, vàng, chẳng thể thành được. 
   Ngược lại, nếu có người không có 21 kết nêu trên dính mắc tâm, người đó ắt sinh lên Trời, ví như áo dạ trắng mới sạch không bụi, muốn nhuộm màu nào cũng được”. 
2). VÍ DỤ LOÀI VẬT:  
     Cũng Tăng Nhất A Hàm quyển 1, trang 206, lấy thí dụ về các loài vật để ám chỉ so sánh với người tu, Đức Phật nói: 
1. Kià, tại sao gọi người ví như quạ? 
    Như có người ở chỗ yên lặng, hằng tập dâm dục, làm các hạnh ác, lại che đậy các hành động xấu xa ấy; giống như quạ bị đói khổ, ăn đồ dơ dáy, rồi chùi mỏ sợ chim khác thấy, nói rằng con quạ này đã ăn đồ dơ bẩn; người ấy bị các người khác chỉ trích, xa lánh, sau tự hổ thẹn, hối lỗi, người này giống như quạ. 
2. Kià sao gọi là người như lợn heo? 
   Nếu có người ở chỗ vắng vẻ, tập mãi dâm dục, làm các hạnh ác, không cần che đậy hành động xấu xa ấy; người này ví như lợn heo, hằng ăn đồ dơ bẩn, nằm chỗ thối tha nhơ nhớp, lại còn lăng xăng với các lợn heo khác; người tập dâm dục và làm các hạnh ác bị người khác chỉ trích không biết xấu hổ, chẳng hối lỗi, đối với người khác còn cống cáo khen mình là “Ta đây sung sướng”, đây là người giống như lợn heo, hãy nên lià xa người này. 
3. Kià sao gọi người giống như lừa? 
    Như có người xuất gia học đạo, lại có các căn bất tịnh, theo đuổi vạn mối, sinh các loạn tưởng, điều ác đủ cả, lại tự xưng: “Tôi cũng là người tu”. Người này ví như con lừa vào trong bầy trâu rồi tự xưng rằng: “Tôi cũng là trâu”, nhưng xem hai lỗ tai chẳng giống trâu, sừng cũng không giống, đuôi cũng chẳng giống, âm thanh cũng khác. 
    Bấy giờ, bầy trâu hoặc lấy sừng húc, hoặc lấy chân đá, hoặc lấy miệng cắn; người tu này cũng lại như thế, các căn bất tịnh, nếu mắt thấy sắc, theo khởi tưởng sắc, rong ruổi muôn mối, sinh các loạn tưởng, điều ác đến đủ, chẳng thể bảo vệ. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý biết pháp (muôn vật), theo đó khởi thức tưởng rong ruổi muôn mối, sinh các loạn tưởng. Các điều ác sinh khởi đủ cả, chẳng thể giữ được ý căn thanh tịnh. 
     Người có phạm hạnh (Chân tu) trông thấy chỉ trích: “Chao ôi! Người ngu này tựa như người tu, nếu là người tu, đúng ra không nên như thế”; đây là người giống như lừa, hãy nên xa lià người này. 
4. Người kia tại sao giống như trâu? 
    Nếu có người xuất gia học đạo, giữ gìn sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không cho rong ruổi theo sáu trần sắc thanh hương vị xúc pháp; tâm ý không loạn động được thanh tịnh, liền được đến chỗ phạm hạnh (khuôn mẫu). Các bậc phạm hạnh thấy người kia, ai nấy đều kêu lên: “Mừng bạn đồng học Phật”. 
     Ví như trâu vào trong bầy trâu, có tai, sừng, đuôi, âm thanh đều đúng là trâu; các con trâu trong đàn thấy rồi, mỗi con đến liếm đầu mặt; đây là người giống như trâu, nên làm người học như trâu, mà không nên làm người giống như quạ, lợn, lừa. 
VI). TRÌ GIỚI CÓ LỢI ÍCH GÌ? 
   Phật tử thọ trì giới luật nghiêm chỉnh sẽ được an vui tự tại và được mọi người tôn trọng coi như một tấm gương sáng để soi; hành giả trì giới trang nghiêm sẽ đưa đến tâm thanh tịnh, rất có lợi cho hành giả trong khi tu hành; nếu kiếp này chưa thấy dấu đạo, kiếp sau sẽ đắc quả Bồ Đề thoát vòng sinh tử luân hồi. 
   Trì giới nằm trong Lục Độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí huệ, có một công năng hơn hẳn bố thí một bậc; người bố thí mà không trì giới, không thể tiến được, vì sao? Vì vừa tạo phúc do bố thí, vừa tạo tội do không trì giới, tức là vừa tạo phúc vừa tạo tội, thiện ác lẫn lộn đủ cả như thế, làm sao bước lên qủa Thánh được? 
   Khi Hành giả trì giới dẫn đến được tâm thanh tịnh, sẽ phát khởi tâm từ bi hỉ xả, nên khi thấy người bố thí liền sinh tâm vui vẻ tán thán công đức ấy, như vậy là “Tùy hỉ công đức bố thí”; hành giả khi hành trì giới luật nghiêm trang, người khác thấy thế bắt chước, như thế là đã dùng “Thân giáo” để bố thí pháp. 
   Vì vậy, trì giới rộng lớn (Ba La Mật) là một phương pháp thần diệu có thể bao gồm cả bố thí lẫn trì giới, chắc chắn sẽ đưa hành giả tới bờ giải thoát vậy. 
   Tóm lại, chúng ta thấy rõ sự lợi ích của trì giới lớn lao như thế, giờ đây chỉ còn một điều là chúng ta phải quyết định dứt khoát phát tâm dũng mãnh trì giới rộng lớn (Ba La Mật). Khi phát tâm rồi, phải thực hành cho tới nơi tới chốn, vì học thì phải hành (học hành), khi đã học rồi phải tu, nếu học mà không tu, cũng như cái đẫy, cái bồ đựng chữ; tu mà không học thì thiếu sót, tu mà không hành (tu hành) thì vô bổ, ích gì? ., . 

__._,_.___

Posted by: Tien Do
__._,_.___

Posted by: Tien Do 

Friday, March 20, 2020

NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẤY TRIẾT LÝ



----- Forwarded Message -----
From: Thập Ngv <j
Sent: Wednesday, March 18, 2020, 05:52:22 AM CDT
Subject: NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẤY TRIẾT LÝ


Suy Ngẫm !
1. AI MỚI LÀ KẺ NGU
Một ông thầy giáo mới dạy nhận ra rằng trong lớp có một cậu bé luôn luôn bị chửi là ngu. Trong giờ ra chơi ông hỏi nhóm bạn lý do.
- Thì nó là thằng ngu thật mà thầy. Nếu mà đưa cho nó đồng xu to 5 rúp và đồng xu nhỏ 10 rúp, thì nó sẽ chọn đồng 5 rúp, vì nó nghĩ đồng 5 rúp có kích thước to hơn thì là tốt hơn. Đây, thầy nhìn nhé.
Một bạn trong nhóm giơ 2 đồng xu và cho cậu kia chọn. Và cậu vẫn chọn đồng 5 rúp như trước. Thầy giáo ngạc nhiên hỏi:
- Sao em lại chọn 5 rúp mà không chọn 10 rúp?
- Thầy nhìn này, đồng 5 rúp to hơn mà.
Tan trường, thầy đến chỗ cậu bé hỏi lại:
- Chẳng nhẽ em không thể hiểu được đồng 5 rúp chỉ to hơn về mặt kích thước, nhưng đồng 10 rúp thì em có thể mua được nhiều thứ hơn?
- Nếu em lấy 10 rúp thì lần sau bọn nó sẽ không cho em nữa...
Cậu bé trả lời.
Kết luận: "NGU MÀ TỎ RA NGUY HIỂM THÌ KHÔNG CÓ GÌ PHẢI SỢ,... ĐÁNG SỢ LÀ NGUY HIỂM MÀ TỎ RA NGU." Kẻ đối diện bạn không ngu đâu...
2. NGƯỜI TIỀU PHU VÀ HỌC GIẢ
Tiều phu cùng học giả đi chung một chiếc thuyền ở giữa sông. Học giả tự nhận mình hiểu biết sâu rộng nên đề nghị chơi trò đoán chữ cho đỡ nhàm chán, đồng thời giao kèo, nếu mình thua sẽ mất cho tiều phu mười đồng. Ngược lại, tiều phu thua sẽ chỉ mất năm đồng thôi. Học giả coi như mình nhường tiều phu để thể hiện trí tuệ hơn người.
Đầu tiên, tiều phu ra câu đố: "Vật gì ở dưới sông nặng một ngàn cân, nhưng khi lên bờ chỉ còn có mười cân?". Học giả vắt óc suy nghĩ vẫn tìm không ra câu trả lời, đành đưa cho tiều phu mười đồng. Sau đó, ông hỏi tiều phu câu trả lời là gì.
"Tôi cũng không biết!", tiều phu đưa lại cho học giả năm đồng và nói thêm: "Thật ngại quá, tôi kiếm được năm đồng rồi." Học giả vô cùng sửng sốt.
Nhiều người cứ hay ra vẻ mình thông minh hơn những người ít học hay có học vị thấp hơn họ. Tuy nhiên, họ không biết một điều rằng "thông minh sẽ hại thông minh", người quá thông minh và tinh tướng nhiều khi sẽ tự hại lấy mình vì quá tự cao.
Lẽ vậy ở đời, đừng sợ kẻ thông minh, hãy sợ kẻ ngốc mà tưởng mình thông minh. Và hãy làm một người khiêm tốn đáng được tôn trọng.
3. MIẾNG BÁNH MÌ CHÁY
Sự cảm thông bí quyết gìn giữ hạnh phúc Gia Đình...
“Khi tôi lên 8 hay 9 tuổi gì đó, tôi nhớ thỉnh thoảng mẹ tôi vẫn nướng bánh mì cháy khét.
Một tối nọ, mẹ tôi về nhà sau một ngày làm việc dài và bà làm bữa tối cho cha con tôi. Bà dọn ra bàn vài lát bánh mì nướng cháy, không phải cháy xém bình thường mà cháy đen như than. Tôi ngồi nhìn những lát bánh mì và đợi xem có ai nhận ra điều bất thường của chúng và lên tiếng hay không.
Nhưng cha tôi chỉ ăn miếng bánh của ông và hỏi tôi về bài tập cũng như những việc ở trường học như mọi hôm. Tôi không còn nhớ tôi đã nói gì với ông hôm đó, nhưng tôi nhớ đã nghe mẹ tôi xin lỗi ông vì đã làm cháy bánh mì. Và tôi không bao giờ quên được những gì cha tôi nói với mẹ tôi:
“Em à, anh thích bánh mì cháy mà.”
Đêm đó, tôi đến bên chúc cha tôi ngủ ngon và hỏi có phải thực sự ông thích bánh mì cháy. Cha tôi khoác tay qua vai tôi và nói:
“Mẹ con đã làm việc rất vất vả cả ngày và mẹ rất mệt. Một lát bánh mì cháy chẳng thể làm hại ai con ạ, nhưng con biết điều gì thực sự gây tổn thương cho người khác không? Những lời chê bai trách móc cay nghiệt đấy.”
Rồi ông nói tiếp: “Con biết đó, cuộc đời đầy rẫy những thứ không hoàn hảo và những con người không toàn vẹn.
Cha cũng khá tệ trong rất nhiều việc, chẳng hạn như cha chẳng thể nhớ được sinh nhật hay ngày kỷ niệm như một số người khác.
Điều mà cha học được qua nhiều năm tháng, đó là học cách chấp nhận sai sót của người khác và chọn cách ủng hộ những khác biệt của họ. Đó là chìa khoá quan trọng nhất để tạo nên một mối quan hệ lành mạnh, trưởng thành và bền vững con ạ. Cuộc đời rất ngắn ngủ để thức dậy với những hối tiếc và khó chịu. Hãy yêu quý những người cư xử tốt với con, và hãy cảm thông với những người chưa làm được điều đó.”
4. LỢN ....
Một hôm, anh A lái xe trên một con đường nhỏ, khi anh ta đang nhìn ngắm phong cảnh tươi đẹp, thì tài xế của chiếc xe chở hàng đi ngược chiều bỗng hạ cửa kính xuống lớn tiếng nói: “Lợn!”.
Anh A càng nghĩ càng điên tiết, quyết định hạ cửa kính xuống quay đầu mắng chửi: “Mày mới là lợn ấy!”.
Vừa mắng chửi xong, anh A bèn đụng phải một đàn lợn đi ngang qua đường.
Đừng vội hiểu lầm ý tốt của người khác, điều này không chỉ thiếu tôn trọng đối phương, mà còn khiến bạn chịu thiệt thòi hơn. Trước khi tìm hiểu rõ ràng nguyên nhân, hãy học cách kìm nén cảm xúc, nhẫn nại quan sát, tránh xảy ra những chuyện đáng tiếc.
5. HỌC CÁCH HIỂU VÀ THÔNG CẢM VỚI NGƯỜI KHÁC
Chị vợ đang nấu nướng trong nhà bếp, anh chồng cứ đứng bên lải nhải không ngừng:
- Chậm thôi! Cẩn thận! Lửa lớn quá! Mau lên! Lật cá đi! Ôi cho nhiều dầu quá!
Chị vợ nói:
- Em biết phải nấu nướng thế nào mà!
Anh chồng:
- Em đương nhiên là biết, bà xã.
Anh bình tĩnh nói tiếp:
- Anh chỉ là muốn em biết, khi anh lái xe, em ở bên lải nhải không ngừng, cảm giác của anh thế nào thôi!
Học cách thông cảm cho người khác không khó, chỉ cần bạn nghiêm túc đứng ở góc độ và lập trường của đối phương để nhìn nhận vấn đề.
6. NẾU BẠN THAY ĐỔI, THẾ GIỚI SẼ THAY ĐỔI
Ngày xưa, có ông vua cai trị ở một đất nước phồn vinh nọ. Một ngày kia, vị vua đi ngao du sơn thủy. Khi quay trở lại hoàng cung, vị vua phàn nàn chân mình rất đau, bởi vì đây là lần đầu tiên vua phải trải qua một cuộc hành trình dài như thế và chặng đường ông đi lại rất gồ ghề, đá lởm chởm.
Sau đó, vị vua hạ lệnh – cho bọc tất cả con đường trong đất nước lại bằng da. Điều này sẽ dẫn đến việc phải cần hàng ngàn bộ da bò và một số lượng khổng lồ tiền bạc.
Bỗng có một hôm, người vợ của tên hầu nhà vua đã dũng cảm hỏi nhà vua: “Tại sao ngài lại tốn một số lượng tiền không cần thiết như thế? Tại sao ngài không dùng một miếng da nhỏ để bọc lại chân của ngài?”.
Nhà vua ngạc nhiên, nhưng rồi ông cũng đồng ý làm một đôi
giày.
Để có một cuộc sống, một nơi chốn hạnh phúc để sống, tốt hơn là bạn nên thay đổi chính mình, trái tim bạn – chứ không phải thế giới.
“Nếu bạn thay đổi, cả thế giới sẽ thay đổi”
7. BÀI HỌC THÀNH BẠI TỪ HƯƠU CAO CỔ
Người ta không thua khi bị đánh bại mà chỉ thua khi đầu hàng.
Mỗi lần một chú hươu con ra đời đều là một bài học. Khi sinh con, hươu mẹ không nằm mà lại đứng, như vậy hươu con chào đời bằng một cú rơi hơn 3m xuống đất và nằm ngay dưới đó. Sau vài phút, hươu mẹ làm một việc hết sức kỳ lạ, đó là đá vào người con mình cho đến khi nào nó chịu đứng dậy mới thôi.
Khi hươu con mỏi chân và nằm, hươu mẹ lại thúc chú đứng lên. Cho đến khi thực sự đúng được, hươu mẹ lại đẩy chú ngã xuống để hươu con phải nỗ lực tự mình đứng dậy trên đôi chân còn non nớt.
Điều này nghe có vẻ lạ với chúng ta, nhưng lại thực sự cần thiết cho hươu con bởi chúng phải tự đúng được để có thể tồn tại với bầy đàn, nếu không sẽ bị trơ trọi với cuộc đời và trở thành miếng mồi ngon cho thú dữ.
Con người chúng ta cũng vậy, thật dễ nản chí khi mọi việc đều trở nên tồi tệ. Nhưng cho dù đang phải đối mặt với nhiều gian khổ thì ta vẫn phải giữ vững niềm tin. Hãy ghi nhớ rằng mỗi khi ta phải đối mặt với nghịch cảnh, trong ta luôn có một sức mạnh tiềm ẩn.
Đừng bao giờ để thất bại quật ngã mà hãy để nó trở thành "thầy" của chúng ta. Đây chính là bí quyết để thành công. Người ta không thua khi bị đánh bại mà chỉ thua khi đầu hàng."Tôi không bao giờ nản chí vì đối với tôi mỗi một nỗ lực không thành công là một bước tiến bộ"
(st)
Sao chép từ trang Steven Lam

__._,_.___

Posted by: Hank Music 

TỤNG KINH, TRÌ CHÚ, NIỆM PHẬT Toàn Không


TỤNG KINH,
TRÌ CHÚ, NIỆM PHẬT
Toàn Không
(Tiếp theo)
4). TỤNG, TRÌ, NIỆM NHƯ THẾ NÀO? 
1. TỤNG KINH NHƯ THẾ NÀO? 
   Một số người không hiểu ý nghĩa của tụng Kinh, tụng cho có tụng, tụng lấy lệ cho xong việc; lại có người tụng Kinh nhanh như gió cuốn nước tuôn, nếu tụng Kinh như thế không được lợi ích, vì tốc độ tụng Kinh mau qúa hành giả không quán chiếu kịp lời Kinh, không thấu triệt được ý Kinh. Tụng như thế cũng như nước đổ lên đầu con vịt, hay nước đổ trên chiếc lá khoai, nước chuội đi hết không còn gì cả. Bởi vậy, chúng ta phải tụng từ từ, nhịp nhàng khoan thai, không nhanh quá mà cũng chẳng chậm quá, vì mục đích của tụng Kinh là phải hiểu lời Kinh và nghĩa lý của Kinh phải được thấm nhập vào tâm người tụng. 
     Có một điều cần nêu ra: trong những buổi lễ, một số Chùa đã tụng những Kinh bằng chữ Hán Việt, khiến các Phật tử đọc chẳng hiểu gì cả, phải cố đọc cho xong việc. Việc làm này, xin Chư Tăng Ni vui lòng coi dùm lại, đừng để tệ nạn tụng Kinh để Phật nghe như thế vô ích.... 
2. TRÌ CHÚ NHƯ THẾ NÀO? 
  Lời của các bài Chú không ai hiểu được trừ Chư Phật, nếu đọc Chú rời rạc, phân tâm, không chú tâm ý triệt để không đúng với ý nghĩa của trì Chú; bởi vậy cho nên khi trì Chú phải đọc làm sao để những lời có vẻ vô nghĩa ấy thâm nhập hòa đồng với thân tâm người trì Chú, đây mới là đúng cách trì Chú. 
3. NIỆM PHẬT NHƯ THẾ NÀO? 
   Miệng niệm Phật mà đầu óc còn suy nghĩ việc này chuyện nọ, không đúng ý nghĩa của niệm Phật. Người niệm Phật phải quán tưởng hoặc nhìn hình tượng Phật để thấy những đều tốt lành, sự cao cả vĩ đại của Phật, và noi gương làm các việc lành tránh làm các điều ác v.v… 
5). NHỮNG AI TỤNG, TRÌ, NIỆM? 
   Tất cả Phật tử tại gia, xuất gia đều nên tụng Kinh, trì Chú, niệm Phật, nhất là những người không tu một pháp môn nào cả, lại càng cần nên hành trì. Những Phật tử tại gia đã có bàn thờ Phật trong nhà, nên hàng ngày thực hành cả ba, nếu bận việc làm ăn lựa một thứ, nếu bận qúa nên thực hành vào ngày cuối tuần được nghỉ ở nhà. Tùy theo hoàn cảnh mỗi người mỗi gia đình mà hành trì, không có một tí gì là bắt buộc cả. Có hành trì hay không là tùy mỗi cá nhân tự định liệu lấy tương lai của mình. 
   Người có tu thiền định cũng nên chia thời gian hàng ngày để có thời gian hành trì ba việc hoặc một việc trong tụng Kinh, trì Chú, và niệm Phật; người xuất gia cũng tùy theo mà hành trì cho thích hợp với khuôn khổ pháp môn của tịnh thất hoặc của chùa. 
6). LỢI ÍCH CỦA TỤNG, TRÌ, NIỆM: 
1. LỢI ÍCH CỦA TỤNG KINH: 
   Người tụng Kinh sẽ dần dần thấu suốt nghĩa Kinh, các căn nhiếp theo lời Kinh khiến người tụng ghét bỏ điều ác, sinh khởi làm việc lành, có lợi cho bản thân người tụng. Các người khác nghe lời Kinh ấy sẽ học hỏi được nhiều điều tốt đẹp, từ các người thân con cháu, đến hàng xóm láng giềng đều được lợi lạc bởi được nghe lời tụng Kinh; người tụng Kinh đúng cách còn đưa người tụng đến nhất tâm thanh tịnh, sẽ có lợi ích không thể nghĩ bàn, linh nghiệm lạ thường, người nào tụng, người ấy tự chứng nghiệm mà thôi. 
2. LỢI LÍCH CỦA TRÌ CHÚ:
   Một câu hay một bài Thần Chú ngắn có thể thâu gồm cả một bộ Kinh, hiệu lực của Chú rất phi thường kỳ diệu; người chí tâm trì Chú lâu bền đạt đến thanh tịnh, sẽ có linh ứng lạ thường không thể giải thích, như người uống nước nóng lạnh tự biết, người ngoài không thể biết được. 
3. LỢI ÍCH CỦA NIỆM PHẬT: 
    Một câu niệm Phật giá trị bằng ba tạng giáo điển, niệm Phật nào cũng có đủ hết các công đức vô lượng vô biên; niệm Phật có công năng trừ tâm vọng niệm điên đảo, phá tâm si mê đen tối, đạt tâm trong sạch của bậc Đại nhân.
   Nếu người nào chuyên niệm Phật A Di Đà cầu vãng sinh, với chí tâm thành khẩn chuyên nhất, được tâm bất loạn, sẽ được Phật A Di Đà tới xoa đầu, đến lúc lâm chung, được Phật A Di Đà, và các Bồ Tát tới đón về Tây phương cực lạc.
Tóm lại, tụng Kinh, trì Chú, niệm Phật cũng là các cách tu của người Phật tử trong khi tiếp xúc với đời làm lành, lánh ác, rồi lại hành trì đúng mức tụng Kinh, trì Chú, niệm Phật sẽ có thể đạt được qủa. 
7). PHẦN PHỤ: THẬP CHÚ:
 (Còn tiếp)

__._
TỤNG KINH,
TRÌ CHÚ, NIỆM PHẬT
Toàn Không
(Tiếp theo)
7). PHẦN PHỤ: THẬP CHÚ: 
  Mười bài Chú sau đây thường được tụng tại các chùa, Phật tử tùy theo trường hợp mà trì tụng, nếu học thuộc và đọc hàng ngày được thì rất hữu ích, nhất là gặp những trường hợp đặc biệt mà đọc ra bài Chú tương ưng như trong khi gặp hoạn nạn đọc “Tiêu tai cát tường thần chú hay Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn v.v…”, lợi lạc không thể đo lường trước được. 
1. NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ LA NI: 
Nam mô Phật đà gia, nam mô Đạt ma gia, nam môm Tăng già gia, nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát, cụ đại bi tâm giả, đát điệt tha, án chước yết ra phạt để, chấn đa mạt nị ma ha bát đắng mế, rô rô rô rô, để sắt tra thước a ra yết rị, sa dạ hồng phấn sa ha. Án, bát đạp ma, chấn đa mạt ni, thước la hồng, án bạt lạt đà, bát đản mế hồng. 
2. TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ: 
Nẵng mồ tam mãn đá mẫu đà nẫm. A bát ra để, hạ đa xá, sa nẵng nẫm, đát điệt tha. Án khê khê, khê hế khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắt tra, để sắt tra, sắt trí rị, sắt trí rị, sa phấn tra, sa phấn tra, phiến để ca, thất rị duệ, sa phạ ha. 
3. CÔNG ĐỨC BẢO SƠN THẦN CHÚ: 
Nam mô Phật đà gia, nam mô Đạt ma gia, nam mô Tăng gia gia. Án, tất đế hộ rô rô, tất đô rô chỉ rị ba, cát rị bà, tất đạt rị, bố rô rị sa phạ ha. 
4. PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ THẦN CHÚ: 
Khể thủ quy y tô tất đế, đầu diện đỉnh lễ thất câu chi, ngã kim xưng tán đại chuẩn đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
Nam mô tát đá nẫm, tam diểu tam bồ đà, câu chi nẫm, đát điệt tha, án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề sa bà ha. 
5. VÔ LƯỢNG THỌ ĐÀ LA NI: 
Án, nại ma ba cát ngõa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nễ, thực chấp đạp, điệp tả ra tể dã, đát tháp nghiệp đạt dã, a ra ha đế, tam dược tam bất đạt dã, đát nễ dã tháp, án tát rị ba, tang tư cát rị, bát lị thuật đạp, đạt ra mã đế, nghiệt nghiệt nại tang, mã ngột nghiệt đế, sa ba ngõa tỉ thuật đế mã hát nại dã, bát rị ngõa lị sa hát. 
6. DƯỢC SƯ QUÁN ĐỈNH CHÂN NGÔN: 
Nam mô bạc già phạt đế, bệ sái xã, lũ rô bệ lưu li, bát lạt bà, hát ra xà dã, đát tha yết đa giã, a ra hát đế, tam miểu tam bột đà gia, đát điệt tha, án bệ sái thệ, bệ sái thệ, bệ sái xã, tam một yết đế sa ha. 
7. QUÁN ÂM LINH CẢM CHÂN NGÔN: 
Án, ma ni bát minh hồng, ma hạt nghê nha nạp, tích đô đặc ba đạt, tích đặc ta nạp, vi đạt rị cát tát, nhi cán nhi tháp, bốc rị tất tháp, cát nạp bổ ra nạp, nạp bốc rị, đâu thắc ban nạp, nại ma lô cát, thuyết ra gia sa ha. 
8. BẢY PHẬT DIỆT TỘI CHÂN NGÔN: 
Ly ba ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà la ni đế, ni ha ra đế, tỳ nê nễ đế, ma ha già đế, chân lăng càn đế, sa bà ha. 
9. VÃNG SINH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ: 
Nẵng mồ a di đá bà dạ, đá tha già đá dạ, đá địa dạ tha, a di rị đô, bà tỳ, a di rị đá, tất đam bà tỳ, a di rị đá, tỳ ca lan đế, a di rị đá, tỳ ca lan đá, già di nhị, già già na, chỉ đá ca lị sa bà ha. 
10. THIÊN NỮ THIÊN CHÚ: 
Nam mô Phật đà, nam mô Đạt ma, nam mô Tăng già, nam mô thất lỵ, ma ha đề tỵ gia, đát nễ giã tha, ba lỵ phú lâu na, giá lỵ tam mạn đà, đạt xá ni, ma ha tỳ ha ra già đế, tam mạn đà tỳ ni già đế ma ha ca lỵ dã, ba nễ ba ra ba nễ, tát rị phạ lật tha, tam mạn đà, tu bát lê đế, phú lệ na, a rị na, đạt ma đế, ma ha tỳ cổ tất đế, ma ha di lặc đế lâu bả tăng kỳ đế, hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà, a tha a lâu, bà na ni.
Nam mô Ly Cấu Địa Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).,. 

__._,_.___

Posted by: Tien Do,_.___

Posted by: Tien Do 

Featured Post

NHỮNG KHÔI HÀI VỀ . . . Chữ Nghĩa Việt Cộng.

  NHỮNG KHÔI HÀI VỀ . . . Chữ Nghĩa Việt Cộng. 1. - Ai cũng biết VC là vua chơi chữ, lúc chúng ...

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List