Popular Posts

Friday, July 31, 2020

VỊ TRỜI HỌC ĐẠO


VỊ TRỜI HỌC ĐẠO 
Toàn Không
      Một vị Trời có dung mạo tuyệt diệu, từ thân tỏa ra ánh sáng rực rỡ, 
chiếu soi khắp rừng cây công tử Kỳ Đà tại thành Xá Vệ. Vào lúc cuối 
đêm gần về sáng, vị Trời ấy đến chỗ Đức Thích Ca Mâu Ni tại Tịnh xá 
Kỳ Hoàn, trong vườn Cấp Cô Độc. Vị Trời cúi đầu lễ Phật, rồi cất tiếng 
nói kệ hỏi: 
Cái gì nặng hơn đất?
Cái gì cao hơn không?
Cái gì nhanh hơn gió?
Cái gì nhiều hơn cỏ?
        Phật nói kệ đáp:
Giới đức nặng hơn đất,
Ngạo mạn cao hơn không,
Nhớ nghĩ nhanh hơn gió,
Tư tưởng nhiều hơn cỏ. 
       Sau khi nghe lời dạy xong, vị Trời ấy phấn khởi vui mừng, cúi đầu lễ 
Phật, rồi biến mất trong nháy mắt. 
LỜI BÀN:
       Cái gì nặng hơn đẩt? Chúng ta tự hỏi xem trái đất chứa đủ thứ sắt 
thép, sỏi đá, núi rừng, đất nước v.v… nặng như thế còn có gì nặng hơn 
được; thế  mà Đức Phật  bảo còn có thứ nặng hơn nữa, đó là Giới Đức. 
Giới là giới hạn, răn dạy ngay thẳng, Đức là đạo lý làm người, điều thiện; 
Giới Đức là làm thiện tránh làm ác. Đức Phật dạy làm thiện tránh làm ác 
còn nặng hơn cả sức nặng của trái đất, thật là lời vàng. 
     Cái gì cao hơn không? Thử nghĩ xem đâu có cái gì cao hơn không 
gian mênh mông, Đức Phật bảo: “Ngạo mạn còn cao hơn không”, vì sự 
ngạo mạn của con người vô giới hạn. Thế giới điên đảo vì sự ngạo mạn 
của con người, thật là ý ngọc. 
     Cái gì nhanh hơn gió? Gió thoảng qua, gió bão rất nhanh, cũng có 
thứ nhanh hơn gió như tốc độ của ánh sáng. Nhưng Đức Phật dạy: “Nhớ 
nghĩ nhanh hơn gió”, vì chợt nhớ nghĩ là tới nơi liền, nhanh như chớp mắt, 
nhanh hơn tốc độ ánh sáng, nên nhớ nghĩ là nhanh nhất, thật là tuyệt diệu. 
     Cái gì nhiều hơn cỏ? Trái đất này cỏ mọc biết bao nhiêu như thế, làm 
sao mà tính cho hết; thế mà Đức Phật bảo: “Tư tưởng nhiều hơn cỏ”, tư 
tưởng là suy nghĩ hết việc này qua chuyện khác, suốt ngày suy nghĩ suốt 
đêm nằm mơ, từ đời này qua đời khác không ngưng nghỉ; bởi vậy tư 
tưởng còn nhiều hơn cỏ, sao mà chí lý thế. 
     Những lời Phật dạy đều vượt trên sự suy tưởng của con người; vì vậy, 
vị Trời được Phật chỉ dạy, nghe xong suy nghĩ thấy chí lý quá, hay quá 
nên ghi nhớ, vui vẻ phấn khởi, rồi lễ Phật mà đi. 
     Đối với Phật tử chúng ta, đọc được những lời dạy qúy báu này, nên 
cố gắng ghi nhớ để thực hành, thực hành cái gì? Thực hành giữ Giới Đức, 
thực hành bỏ kiêu căng ngã mạn, bỏ suy nghĩ tưởng nhớ những chuyện 
không đâu, như vậy là chúng ta có Tu vậy..,. 
CẦU XIN
CÓ HIỆU QỦA KHÔNG? 
Toàn Không
        Thời Đức Phật du hoá tại vườn A Nan Đà trong rừng Tương thôn Mại, 
có một vị Trời Ca Di Ni (Vị này từ cõi Phạm Thiên đến) với sắc tướng uy nghi, 
chiếu sáng rực rỡ, lúc đêm gần về sáng đến nơi Đức Phật cúi đầu lễ rồi thưa:
- Thưa Đức Thế Tôn, các người cao ngạo nói rằng: “Nếu có người nào chết đi, 
họ có thể làm cho sinh lên cõi Trời”. Đức Thế Tôn là đấng Pháp chủ của Trời 
và Người, con mong muốn Đức Thế Tôn làm cho người chết được sinh lên cõi 
Trời. 
       Đức Phật hỏi:
- Này Ca Di Ni, Ta hỏi ông tùy theo sự hiểu biết mà trả lời, nếu trong thôn ấp 
có người làm ác về thân miệng ý. Thân làm ác như sát sanh, trộm cướp, tà 
dâm; miệng nói ác như nói dối, nói lời thêu dệt, nói giọng hai lưỡi, nói lời 
độc ác; ý nghĩ ác như tham lam không cho mà lấy muốn cướp đoạt cho 
mình, sân hận thù hằn, nghĩ và hành động tà vạy ngu si; người ấy khi chết, 
nếu có một người hay một số người van xin, kêu gọi, cầu xin để người ấy 
được sinh lên cõi Trời, liệu có được không? 
       Trời Ca Di Ni đáp:
- Không thể được, thưa Đức Thế Tôn. 
       Đức Phật khen:
- Đúng thế, nếu người chết ấy khi còn sống đã làm mười điều ác, mà khi 
chết lại được sinh lên cõi Trời, việc đó không thể có, hoàn toàn không thể 
xảy ra; cũng như có người ôm tảng đá lớn ném vào trong hồ nước, nếu 
có một người hay một số người chắp tay cầu nguyện, van xin, khẩn khoản 
nài xin v.v... mong cho tảng đá nổi lên mặt nước, như vậy tảng đá có nổi lên 
không? 
       Trời Ca Di Ni trả lời:
- Không thể được, thưa Thế Tôn. 
       Ngài hỏi tiếp:
- Nếu như có người tinh tấn siêng tu, làm mười điều lành, thành tựu 
diệu pháp; nghĩa là không giết người hại vật mà chỉ làm lợi cho người 
và vật, không lấy của người không cho, không dâm đãng. không nói 
dối mà chỉ nói thật. Không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói 
lời độc ác mà chỉ nói lời hiền hòa và đúng sự thật; không tham lam, 
không giận dữ thù hằn, không tà kiến ngu si mà chỉ suy nghĩ hành động chân chính. 
Khi người ấy chết đi, có một số người nguyền rủa, cầu xin mong cho người ấy sa vào Địa ngục, 
liệu có được không? 
       Trời Ca Di Ni đáp:
- Thưa Đức Thế Tôn, không thể được. 
       Ngài khen:
- Đúng thế, nếu một người đã đoạn trừ làm mười điều ác, chỉ làm điều 
lành, siêng tu diệu pháp; khi người ấy qua đời, nếu có một số người nguyền 
rủa, cầu xin cho người ấy đọa vào Địa ngục thì điều này không thể xảy ra. 
Ngược lại: người ấy sẽ được sinh đến cõi tốt, cũng như có người đổ dầu 
mỡ xuống nước, dầu mỡ tự nhiên nổi lên, không thể cầu nguyện, van xin 
mà dầu mỡ chìm xuống được.  
       Sau khi nghe giảng, vị Trời phấn khởi, vui vẻ, cúi đầu lễ Phật, rồi trong 
khoảnh khắc biến mất. 
LỜI BÀN:
     Cầu xin mà có hiệu qủa, chẳng có ai không cầu, cứ ngồi đó mà cầu 
nguyện là tự có tất cả, chẳng phải làm việc vất vả, cần gì phải học hành 
cực nhọc; ta cứ thủng thẳng làm việc, cứ từ từ mà học hành, đâu cần chạy 
đua với cái đồng hồ cho khổ trí, đâu cần thức khuya dậy sớm cho mệt thân, 
vì sao? Vì cứ tin tưởng tuyệt đối vào sự cầu nguyện là có, là được tất cả 
những gì ta mong muốn, một số người nghĩ như vậy; nhưng thử hỏi cứ 
ngồi đấy mà cầu nguyện, không chịu làm việc, không chịu học hành, không 
chịu làm các việc thiện, liệu có được kết qủa mà ta mong cầu không? 
Hay như người ngủ mơ, tưởng có thật, nhưng khi thức dậy chẳng có gì, 
đó là mong cầu hão huyền, không tưởng, thật là mất thời giờ vô ích. 
     Nói rằng: Đạo Phật cũng có cầu nguyện, cầu vãng sinh chẳng hạn, 
như vậy cũng vô ích sao? Không phải thế, sự cầu này nếu ai hiểu đúng 
ý nghĩa, trước nhất phải làm các điều lành, tránh làm các điều ác, thứ 
đến là trong khi cầu tâm phải trong sạch, thanh tịnh, nhất tâm không loạn 
tưởng thì mới ứng nghiệm, còn không được như vậy sẽ chỉ như vẹt kêu 
suốt ngày chẳng ích gì.....,. 

__._,_.___

Posted by: Tien Do 

Sunday, July 26, 2020

Chữ Nho, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ


Chữ Nho, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ
NGUYỄN HẢI HOÀNH
18 Tháng 7 2020
Đã hơn trăm năm nay nước ta chính thức sử dụng chữ Quốc ngữ, thứ chữ viết được các nhà trí thức tiên tiến đầu thế kỷ XX ca ngợi là Hồn trong nước; Công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt và tin rằng Nước Nam ta sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ.
Dư luận nước ta trước đây quy công trạng làm ra thứ chữ kỳ diệu ấy cho giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes. Gần đây lại có dư luận yêu cầu ghi công các giáo sĩ không phải người Pháp như Francisco de Pina, António Barbosa, Gaspar do Amaral, António de Fontes… và đóng góp của giáo dân miền Nam nước ta từng giúp các giáo sĩ đó học tiếng Việt, và đóng vai trò “giám định” trong quá trình thí điểm sử dụng thứ chữ mới ấy. 
Đáng tiếc là cho tới nay công luận ở ta vẫn chưa nhất trí chọn được các nhân vật tiêu biểu làm ra chữ Quốc ngữ, và cơ quan chính quyền liên quan cũng chưa dứt điểm giải quyết vấn đề này. Để tình trạng đó kéo dài sẽ không có lợi cho hình ảnh một dân tộc văn minh. Đã đến lúc cần bàn thảo rộng rãi và sớm có hành động tri ân những người xứng đáng ghi công. Bài này nhằm góp một ý kiến bàn thảo. Vì người viết ít hiểu biết về ngôn ngữ học nên ý kiến nêu ra khó tránh khỏi có sai sót, mong được bạn đọc chỉ bảo.
***
Tiếng nói là khả năng bẩm sinh của con người, còn chữ viết là một phát minh sáng tạo không phải dân tộc nào cũng có. Ở thời xưa, tiến trình làm chữ viết cho một ngôn ngữ cần thời gian nhiều thế kỷ, thậm chí hàng ngàn năm. Tiếng Việt có hệ thống ngữ âm cực kỳ phong phú, cho nên càng có sức sống bền dai và càng khó làm được chữ viết; có thể vì thế mà ta chậm có chữ của mình. Nhưng cũng chính nhờ tiếng ta giàu ngữ âm mà rốt cuộc dân tộc ta được thừa hưởng một loại chữ viết tuyệt vời nhất vùng Đông Á.
Hiếm thấy nướcnào từng sử dụng ba loại chữ viết như nước ta: chữ Nho, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, mỗi loại chữ ấy làm nên một trang sử vẻ vang đáng ôn lại.
CHỮ NHO
Khoảng thế kỷ II trước CN, phong kiến Trung Quốc (TQ) chiếm nước ta, bắt dân ta học chữHán [1]. Nhờ đó lần đầu tiên người Việt Nam biết tới chữ viết - phương tiện truyền thông tin cực kỳ tiện lợi, không bị hạn chế về không gian và thời gian như tiếng nói. Có thể vì thấy được cái lợi lớn ấy mà các bậc đại trí người Việt đã nảy ra ý tưởng mượn dùng loại chữ này. Nhưng học Hán ngữ cực kỳ khó, vì người TQ đọc tiếng Hán theo hàng trăm phương ngữ khác nhau. Cái khó ló cái khôn: tổ tiên ta đã nghĩ ra cách chỉ đọc thứ chữ này bằng tiếng Việt mà không đọc bằng tiếng Hán, tức chỉ học chữ mà không học tiếng Hán. Ngôn ngữ học ngày nay giải thích điều đó là hợp lý, vì chữ Hánlà chữ biểu ý (chữ ghi ý, ideograph), tương tự chữ tượng hình vẽ con vật hoặc chữ số 1, 2, 3 hoặc ký hiệu $, %,… cả thế giới đều hiểu ý nghĩa các ký hiệu biểu ý đó, tuy đọc bằng tiếng của mình. Tổ tiên ta đã lợi dụng tính biểu ý của chữ Hánđể đọc nó bằng tiếng Việt, như cách người Trung Quốc các địa phương đọc bằng phương ngữ của họ. Vì thế chính quyền chiếm đóng không thể cấm dân ta đọc chữ Hántheo cách của ta.
Người Việt gọi thứ chữ Hán đã Việt hóa phần ngữ âm ấy là chữ Nho, tức chữ của người có học. Khi ấy mỗi chữ Hán được đọc bằng một âm (từ) Hán - Việt gần giống âm Hán của nó; nhưng một âm Hán có thể chuyển thành một số âm Việt khác nhau. Không chữ Hán nào không được đặt tên tiếng Việt. Việc đặt tên cho hàngchục nghìn chữ Hán kéo dài hàng trăm năm, thực sự là một công trình vĩ đại. Chỉ bằng truyền miệng mà cách nay 2000 năm các thầy đồ Nho trong cả nước ta đã đọc chữ Hán bằng một âm Việt thống nhất (TQ đặt mục tiêu đến năm 2020 toàn dân đọc chữ Hán bằng một âm Hán thống nhất). Có lẽ đây là lần đầu tiên chữ Hán được phiên âm ra tiếng nước ngoài.
Do dạy và học chữ Hán bằng tiếng mẹ đẻ nên dân ta học chữ Hán dễ hơn khi dạy và học bằng tiếng Hán, nhờ đó mượn được thứ chữ nàyđể dùng, và coi chữ Nho là chữ viết chính thức, là “chữ ta” trong khoảng 2000 năm. Không ít người giỏi chữ chẳng kém người Hán. Như Khương Công Phụ (731-805) người Thanh Hóa đỗ Trạng nguyên ở TQ, về sau được vua nhà Đường phong Tể tướng.
Sau khi có chữ viết, dân tộc ta thoát khỏi thời tiền sử lạc hậu, tiến sang thời đại có sử sách ghi chép, có công cụ giao tiếp đối nội đối ngoại, sáng tác văn thơ, xây dựng ngành giáo dục, tiếp thu nền văn minh Trung Hoa tiên tiến, tổ chức xã hội theo mô hình TQ, từ đó tạo dựng nền văn minh Việt. Việc dùng chữ Hán mà không nói tiếng Hán đã giúp dân ta đời đời nói tiếng mẹ đẻ; nhờ thế dù có học và dùng chữ Hán bao lâu thì vẫn tránh được thảm họa bị người Hán đồng hóa. Chữ Nho đã thầm lặng bóp chết âm mưu Hán hóa tiếng Việt. Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, dân tộc ta vẫn giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ cùng nền văn hóa của mình. Đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam.
Phương pháp dùng từ Hán - Việt để phiên âm chữ Hán, qua đó làm thành chữ Nho, là một sáng tạo xuất sắc về ngôn ngữ, cực kỳ ích lợi: vừa mượn được chữ của người Hán về dùng, vừa lợi dụng được kho từ vựng chữ Hán làm nguồn bổ sung vô hạn cho kho từ vựng tiếng Việt. Thực ra hiện nay từ Hán - Việt đã kết hợp nhuần nhuyễn với từ thuần Việt tới mức khó phân biệt (ví dụ: lập trình, cận nghèo, v.v…). Khi cần dịch một từ ngữ mới xuất hiện, ta thường tham khảo cách dùng từ của người TQ. Ví dụ từ quantum, người TQ dịch là量子, ta đọc Hán-Việt là lượng tử, rất hay và dễ hiểu. Toàn bộ từ vựng Hán ngữ hiện đại do người Nhật cuối thế kỷ XIX phiên dịch các từ ngữ phương Tây [2], sau khivào Việt Nam đều được các nhà Nho Đông Kinh Nghĩa Thục chuyển thẳng thành từ Hán-Việt như vậy. Ngày nay khôngmộttừ ngữ mới nào không thể chuyển thành tiếng Việt.
Hơn nữa, tổ tiên ta phiên âm chữ Hán theo cách khôn ngoan không đâu có. Người Triều Tiên/Hàn Quốc phiên âm theo kiểu bám sát âm Hán, hậu quả là thừa kế 100% tình trạng tồn tại quá nhiều chữ đồng âmtrong chữ Hán; bởi vậy sau 7 thế kỷ dùng chữ Hangul, cho tới nay họ vẫn phải dùng chữ Hánđể ghi chú các chữ đồng âm. Người Nhật đọc chữ Hántheo nghĩa tiếng Nhật, không theo âm tiếng Hán - cách phiên âm này khiến cho ban đầu họ phải dùng hàng chục nghìn chữ Hán, làm cho tiếng Nhật thời cổ trở nên cực kỳ phức tạp. Về sau họ làm ra chữ Kana biểu âm, nhờ thế chỉ còn cần dùng khoảng 2000 chữ Hán. Tổ tiên ta phiên âm chữ Hántheo kiểu một âm tiếng Hán được chuyển thành hàng chục âm tiếng Việt, nhờ thế giảm hàng chục lần số chữ đồng âm, qua đó làm cho từ Hán - Việt chính xác hơn. Ví dụ âm [yi] tiếng Hán có 135 chữ đồng âm, ta chuyển thành hàng chục âm tiếng Việt như ất, dật, di, dĩ, dị, dịch, duệ, ích, y, ý, nghi, nghị, nghĩa, nhị, ức,…
Chữ Nho vốn là chữ Hán nên không ghi được lời nói tiếng Việt, do đó không thể làm chữ viết của tiếng Việt. Trên thực tế chữ Nho hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ của tầng lớp bình dân, chỉ một số ít người thuộc giới quan lại hoặc giới tinh hoa ở ta biết dùng chữ Nho, và chỉ dùng để viết (bút đàm) trong một số lĩnh vực hẹp, không dùng để nói. Văn thơ chữ Nho làm theo kiểu văn thơ của người Hán không được coi là văn thơ tiếng Việt.
CHỮ NÔM
Từ khoảng thế kỷ XII tổ tiên ta bắt đầu sáng tạo một loại chữ viết nhằm ghi âm tiếng mẹ đẻ, gọi là chữ Nôm. Thử nghiệm này nói lên ý thức tự chủ ngôn ngữ muốn có chữ viết riêng của ta, chấm dứt tình trạng dùng chữ đi mượn, lại thể hiện được trí tuệ của người Việt: tiến tới làm ra loại chữ tiên tiến nhất - chữ biểu âm(chữ ghi âm, phonograph), loại chữ người Hán chưa từng có.
Chữ Nôm được xây dựng trên cơ sở chữ Hán đọc theo âm Hán - Việt, kết hợp cả hai yếu tố biểu ý và biểu âm. Vì chưa biết tới ký tự Latin abc nên tổ tiên ta đã dùng các ký tự vuông chữ Hán(có cải tiến) để ghi âm tiếng mẹ đẻ của mình. Ban đầu chữ Nôm mượn dạng chữ Hán để ghi âm tiếng Việt, dần dần dùng cách ghép hai chữ Hán để tạo ra một chữ mới, một phần gợi âm, một phần gợi ý - về sau loại chữ tự tạo này được dùng ngày một nhiều. Nhưng vì các ký tự vuông gốc chữ Hán không phải là chữ cái ghép vần, cho nên mức chính xác ghi âm tiếng Việt còn thấp, chưa tiêu chuẩn hóa, nhiều chữ phải đoán âm đọc, có trường hợp một âm có nhiều chữ, v.v...
Mỗi chữ Nôm thể hiện một âm tiết. Tiếng Việt giàu âm tiết nên có nhiều chữ Nôm. Theo tài liệu [3], vào giữa thế kỷ XVII đã có khoảng 80.000 chữ Nôm (?). “Bảng tra chữ Nôm” (xuất bản năm 1976) cho biết có 8.187 chữ [4].“Từ điển Chữ Nôm dẫn giải” của GS Nguyễn Quang Hồng (xb. 2015) có 9.450 chữ Nôm (gồm gần 3.000 chữ tự tạo), ghi 14.519 âm tiết tiếng Việt. Do chữ Nôm chưa chuẩn hóa nên các số liệu trên có khác nhau, nhưng đều cho thấy tổ tiên ta đã làm được rất nhiều chữ, suy ra chữ Nôm thời xưa đã ghi được rất nhiều (nếu không nói là hầu hết) âm tiếng Việt đã dùng.
Chữ Nômtừng được gọi là Quốc ngữ hoặc Quốc âm, tức chữ của tiếng nói nước ta (chữ Nho chưa bao giờ được gọi như vậy). Nhưngdo cấu tạo trên nền tảng chữ Hánnên chữ Nôm phụ thuộc vào chữ Hán, khó học (biết chữ Nho mới học được chữ Nôm), khó phổ cập. Hơn nữa, do Nhà nước phong kiến và tầng lớp tinh hoa ở ta mù quáng sùng bái chữ Háncho nên chữ Nôm chưa được thừa nhận là chữ viết chính thức, bị coi là thấp kém dưới chữ Hán. Vì thế chữ Nôm khó được phát triển và hoàn thiện, chưa tiêu chuẩn hóa.
Tuy vậy văn thơ chữ Nôm, tức văn thơ tiếng Việt, do nói lên được tiếng nói và nỗi lòng của người bình dân nên đã tỏ ra trội hơn hẳn văn thơ chữ Nho. Nền văn học chữ Nôm từng đạttới cực thịnh từ thời Hậu Lê đến thời kỳ đầu nhà Nguyễn (thế kỷ XVII-XIX), với các kiệt tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), Đoàn Thị Điểm (1705-1749), Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), Nguyễn Huy Tự (1743-1790), Nguyễn Du (1765-1820), Hồ Xuân Hương (1772-1822), Phạm Thái (1777-1813), Bà Huyện Thanh Quan (1805-1848), Lý Văn Phức (1785-1849), Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), Nguyễn Khuyến (1835-1909), Trần Tế Xương (1870-1907), v.v…[4]. Sách Thiên Nam Ngữ Lục (cuối thế kỷ XVII) gồm 8.136 câu thơ lục bát, dùng tới 58.212 chữ Nôm.
Càng về sau chữ Nôm càng được sử dụng nhiều: trong hơn 200 năm sau khi chữ Quốc ngữ đã ra đời nhưng chưa phổ cập, các linh mục Công giáo đều dùng chữ Nôm viết tài liệu giảng đạo. Điều đó cho thấy vai trò to lớn của chữ Nôm trong đời sống văn hóa ở ta, đặc biệt trong cộng đồng Công giáo vốn không ưa dùng chữ gốc Hán.
Vì sao chữ Nôm khó học mà lại được sử dụng khá phổ biến đến như vậy? Chủ yếu do chữ Nôm có yếu tố ghi âm rất rõ, ghi được tiếng nói người bình dân, là “chữ của tiếng ta”. Hãy xem câu “Sóng tình dường đã xiêu xiêu/ Xem trong âu yếm có chiều lả lơi” (Truyện Kiều, câu số 499-500): hầu như toàn bộ là tiếng “thuần Việt”, không có từ Hán - Việt - là những âm mà chữ Nho không thể hiện được. Ngôn ngữ học thời nay giải thích: chữ Nôm có được yếu tố ghi âm là do tiếng Việt giàu âm tiết nên vượt qua được sự hạn chế của ngôn ngữ đơn âm tiết (monosyllabic)[5].
CHỮ QUỐC NGỮ
Thế kỷ XVII các giáo sĩ Kitô giáo Dòng Tên Francisco de Pina, António Barbosa, Gaspar do Amaral, António de Fontes,Girolamo Maiorica, Alexandre de Rhodes v.v… đến nước ta truyền giáo. Dòng Tên chỉ tuyển người có trình độ tiến sĩ [6], và nghiêm khắc yêu cầu nhà truyền giáo phải thông thạo ngôn ngữ và theo phong tục tập quán của dân bản xứ.
Theo ghi chép, Francisco de Pina đến Việt Nam năm 1617, ba năm sau đã cùng các giáo sĩ soạn tài liệu giáo lý bằng chữ Nôm. Trong các năm 1632-1656 giáo sĩ Girolamo Maiorica (người Ý) đã viết 45 tác phẩm chữ Nôm, trong đó Thư viện Quốc gia Pháp hiện còn giữ 15 tác phẩm với tổng số 1, 2 triệu chữ Nôm [7], nhiều gấp 52 lần số chữ Nôm trong Truyện Kiều. Một số thư viện còn giữ được nhiều tài liệu chữ Nôm của các giáo sĩ đi đầu làm chữ Quốc ngữ như Gaspar do Amaral, António Barbosa…   
Vì đối tượng truyền giáo thời ấy là nông dân, ngư dân Quảng Nam, Quảng Ngãi nên dĩ nhiên các tài liệu giảng đạo chữ Nôm phải dùng từ ngữ của dân thường. Từ đây có thể suy ra các vị giáo sĩ-bậc thầy ngôn ngữ học ấy không thể không nhận thấy chữ Nôm có yếu tố biểu âm, vàđã ghi được phần lớn âm tiếng Việt, nhưng chỉ vì dùng ký tự vuông của Hán ngữ nên ghi âm chưa chính xác, và khó học, khó phổ cập. Kinh nghiệm thất bại của các giáo sĩ Dòng Tên ở Nhật trong việc phiên âm Latin hóa chữ Kanji biểu ý (tức chữ Hán) càng cho thấy việc chữ Nôm có yếu tố biểu âm là một thuận lợi lớn khi phiên âm nó thành chữ biểu âm Latin hóa.
Với nhận thức như vậy, các giáo sĩ giỏi chữ Nôm kể trên dĩ nhiên đã sớm nảy ra ý tưởng và niềm tin có thể dùng chữ cái Latin để phiên âm chữ Nôm, biến thứ chữ gốc Hán có yếu tố biểu âm ấy thành thứ chữ biểu âm Latin hóa dễ học dễ dùng cho việc truyền giáo.  
Hiển nhiên, phiên âm một loại tiếng nói đã có chữ viết ghi lại âm của tiếng đó thì đơn giản nhiều so với việc phiên âm thứ tiếng nói chưa có chữ viết - ở thời xưa, đó là một công trình lao động sáng tạo cực kỳ phức tạp, cần nhiều người làm trong hàng trăm năm.
Trên thực tế, các giáo sĩ kể trên dù rất ít người và làm việc phân tán nhưng đã nhanh chóng tìm ra các chữ cái Latin thích hợp thay cho các ký tự vuông tương ứng trong chữ Nômvà tạo ra loại chữ mới trong thời gian ngắn kỷ lục: 32 năm (1617-1649). Năm 1617 Francisco de Pina đến Đàng Trong, năm 1619 đã viết xong một bản từ vựng tiếng Việt bằng chữ Latin. Năm 1631 Gaspar do Amaral đến Đàng Ngoài, năm sau đã ghi âm rất tốt tiếng Việt, năm 1634 làm xong một cuốn từ vựng tiếng Việt. Trongmấy cuộc gặp tại Macao (1630-1631), các giáo sĩ đã xác định được 6 thanh điệu và tính đơn âm tiết của tiếng Việt. Năm 1649 Rhodes mang theo bản thảo Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) rời Việt Nam. Năm 1651 Từ điển này được xuất bản tại Roma, đánh dấu sự ra đời chữ Quốc ngữ Việt Nam [8]. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, chữ viết biểu âm Latin hóa thành công ra đời tại khu vực ảnh hưởng của Hán ngữ.
Trong quá trình làm chữ Quốc ngữ, các giáo sĩ đã phải giải quyết nhiều khó khăn gây ra bởi hệ ngữ âm tiếng Việt quá phong phú và mới lạ. Vấn đề phức tạp nhất là phải nghiên cứu sáng tạo ra hệ thống ký hiệu thể hiện được các thanh điệu sắc, huyền, hỏi. ngã, nặng, và các con chữ thể hiện được các ngữ âm không có trong bộ chữ La tinh như ă, â, ê, ơ, ô, ư, đ. Bộ ký hiệu và con chữ ấy làm nên cái gọi là “giày và mũ” trong nhận xét của một học giả nổi tiếng Trung Quốc: “Chữ viết của Việt Nam sau khi phiên âm hóa, đầu đội mũ, chân đi giày, rất nực cười.” [9]. Thực ra “mũ, giày” ấy là những sáng tạo hợp lý tới mức người Việt xưa và nay đều không chấp nhận bất cứ thứ chữ Quốc ngữ nào không có các ký hiệu và con chữ đó. Ví dụ gần đây công luận không tán thành một số phương án chữ Quốc ngữ bỏ dấu. Ngoài ra các giáo sĩ đã hiệu chỉnh những âm tiếng Việt mà chữ Nôm chưa ghi chính xác, và hiện đại hóa ngữ pháp cùng cách viết, như đưa vào các loại dấu ngắt câu, ngắt đoạn, dấu ngoặc, ký hiệu toán học, lối viết hoa, viết tắt, v.v…
Về hình thức, chữ Quốc ngữ khác hẳn chữ Nôm, nhưng về bản chất cả hai đều là các hệ chữ viết ghi âm tiếng Việt; chữ Quốc ngữ trong Từ điển Việt-Bồ-La thể hiện rất rõ mối tương quan với chữ Nôm [10].
Sau mấy chục năm dầy công lao động sáng tạo, các vị giáo sĩ nói trên đã hoàn thành việc phiên âm và biến đổi chữ Nôm thành một thứ chữ biểu âm dùng chữ cáiLatin -loại chữ viết tiên tiến nhất, quốc tế hóa nhất thời đó, về sau được gọi là chữ Quốc ngữ. Rõ ràng, chữ Quốc ngữ chính là chữ Nôm được Latin hóa và hiện đại hóa.
Giả thử thời ấy chưa có chữ Nôm, chỉ có chữ Nho, thì việc làm chữ của các giáo sĩ sẽ vô cùng khó khăn vì chữ Nho vốn là chữ Hán. Thực tiễn cải cách chữ viết ở Trung Quốc đã chứng tỏ không thể dùng bất cứ bộ chữ cái nào để phiên âm chữ Hán thành chữ biểu âm.
Năm 1582 giáo sĩ Dòng Tên người Ý Matteo Ricci đến Trung Quốc truyền giáo. Ông rất giỏi Hán ngữ, đã dành nhiều năm nghiên cứucách phiên âm chữ Hán. Năm 1605, Ricci đưa ra phương án phiên âm chữ Hánbằng chữ cái Latin, nhưng phương án này chỉ giúp người Âu học chữ Hán dễ hơn, chứ chưa phải là một loại chữ viết mới. Về sau, giới trí thức Trung Quốc tiếp tục nghiên cứutheo phương hướng của Ricci nhằm mục tiêu tạo ra một thứ chữ biểu âm có thể thay thế chữ Hán mà họ muốn loại bỏ. Nhưng mọi cố gắng ấy đều không có kết quả. Năm 1958, Ủy ban Cải cách chữ viết Trung Quốc làm ra Phương án phiên âm (Pinyin) Hán ngữ dùng chữ cái Latin, nhưng chỉ có tác dụng phụ trợ là ghi chú âm cho chữ Hán, không phải là một loại chữ viết. Từ năm 1986, Ủy ban này không còn nhắc tới mục tiêu tạo ra loại chữ biểu âm thay cho chữ Hánnữa, và nói tương lai của chữ Hánsẽ do các thế hệ sau quyết định. Hiện nay Trung Quốc vẫn dùng chữ Hánnhư cũ, có kết hợp dùng phương án Pinyin Hán ngữ chỉ để ghi chú âm đọc chữ Hán.
Tóm lại, việc dùng chữ cái Latin phiên âm chữ Nôm thành chữ biểu âm đã thành công ngay từ giữa thế kỷ XVII, trong khi mọi cố gắng tương tự đối với chữ Háncho tới nay vẫn bất thành. Tại sao vậy? Đó là do chữ Nôm có yếu tốbiểu âm, còn chữ Hánbiểu ý không biểu âm; và tình trạng đó bắt nguồn sâu xa từ chỗ tiếng Việt giàu âm tiết, tiếng Hán nghèo âm tiết.
Đến đây có thể kết luận:Chữ Nôm đã xây đắp nền tảng ngôn ngữ để các giáo sĩ nói trên dựa vào đó tạo ra chữ Quốc ngữ. Toàn dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công trạng làm chữ Nôm của tổ tiên ta, coi chữ Nôm là một sáng tạo ngôn ngữ xuất sắc góp phần quyết định sự hình thành chữ Quốc ngữ.
Sau cùng cần nhấn mạnh vai trò quan trọng của Kitô giáo. Là hiện tượng văn hóa của số đông loài người, các tôn giáo lớn đều tôn sùng và truyền bá tư tưởng nhân ái cao quý. Thế kỷ XVII, các giáo sĩ Kitô giáo người Âu khi đến Việt Nam truyền giáo đã kết hợp làm sứ mạng khai hóa dân bản xứ, khác hẳn hành vi xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Thực dân Bồ Đào Nha khi chiếm Brazil đã cưỡng bức đồng hóa dân bản xứ bằng cách bắt họ nói tiếng Bồ, trong khi các giáo sĩ Kitô giáo người Bồ như Franciscode Pina… đến Việt Nam truyền giáo đã không làm thế mà còn tìm cách Latin hóa chữ Nôm. Hơn nữa, de Pina còn nghĩ tới việc dùng thứ chữ hiện đại này bắc cây cầu đối thoại Việt Nam với châu Âu văn minh, và tạo dựng một nền văn hóa mới cho nước ta [11]. Đây thật là một ý tưởng cao quý! Khi mới chiếm Việt Nam, thực dân Pháp từng chủ trương bắt dân ta đời đời nói tiếng Pháp như chúng đã làm ở các thuộc địa châu Phi. Nhưng giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes lại hăng hái làm chữ viết riêng giúp cho người Việt giữ được tiếng mẹ đẻ. Nếu chưa có chữ Quốc ngữ thì nước ta ắt hẳn đã bị người Pháp đồng hóa từ lâu.
Bởi vậy sẽ là sai lầm khi cho rằng các giáo sĩ đạo Kitô đến Việt Nam truyền giáo là để phục vụ chính sách xâm lược của thực dân Pháp. Với truyền thống Uống nước nhớ nguồn, dân tộc ta ghi ơn tất cả các giáo sĩ Kitô giáo đã góp phần làm ra thứ chữ viết kỳ diệu ta dùng hơn trăm năm nay.
Và như vậy có thể nói chữ Quốc ngữ là thành quả kết hợp trí tuệ của nền văn minh Việt với nền văn minh Kitô giáo, là món quà vô giá mà các giáo sĩ Dòng Tên trao cho dân tộc ta trong một ngẫu nhiên lịch sử xảy ra ở thế kỷ XVII.
Ghi chú
[1] Thứ chữ này đến đời nhà Nguyên (thế kỷ XIV) mới có tên “chữ Hán”. Ở đây gọi thế cho tiện.
[2]  Nguyễn Hải Hoành: “Người Nhật phát triển Hán ngữ hiện đại”
[4]  Lại Nguyên Ân :  “Chữ Quốc ngữ và đời sống cộng đồng người Việt”.
[5]  Nguyễn Hải Hoành: “Một vài tìm tòi về ngôn ngữ”. Tạp chí Tia Sáng số 11 (5/6/2020).
     Lã Minh Hằng: “Đôi nét về thư tịch Hán Nôm Công giáo tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm”.
[8]  Phạm Thị Kiều Ly: “Lịch sử chữQuốc ngữ từ 1615 đến 1861: Quá trình La-tinh hóa tiếng Việt trong trào lưu ngữ học truyền giáo”. TC Tia Sáng số 24  (20/12/2019).
[9]  Nguyễn Hải Hoành: “Sao lại nói chữ Quốc ngữ Việt Nam rất nực cười?”
[10]  Nguyễn Ngọc Quân: “Chữ Quốc ngữ trong Từ điển Việt-Bồ-La trong tương quan với cấu tạo chữ Nôm đương thời”.
__._,_.___

Posted by: Freedom Vietnam 

Friday, July 24, 2020

DIỆU DỤNG CỦA TU CHỨNG




DIỆU DỤNG
CỦA TU CHỨNG 
Toàn Không 
I). DIỆU DỤNG CỦA TU CHỨNG LÀ GÌ? 
   Diệu dụng của tu chứng là khi diệt trừ hết tham, sân, si, tà kiến, ngã chấp, kiêu mạn, đố kị v.v…nghĩa là tất cả những thói hư tật xấu, ái dục, vô minh đã bị tiêu trừ hoàn toàn. Đồng thời hành trì thiền đinh, hoặc quán tưởng, hoặc tham thiền v.v… kiên cố, sẽ dẫn hành giả tới kiến tính, đốn ngộ, giác ngộ gọi là đạt quả tối thượng giải thoát. 
     Khi đã giải thoát rồi, vị ấy thấy biết như thật, không còn lầm lẫn chân tà, giả thật. Vị ấy tự thấy biết như thật đã ra khỏi vòng sinh tử luân hồi, vị ấy sống rất tự tại trong mọi trạng huống ở đời; vị ấy thường trải bốn vô lượng tâm Từ Bi Hỷ Xả đến khắp chúng sanh, thường hằng cứu độ tất cả chúng sinh (chúng sanh trong sáu cõi). 
     Trong khi sống ở đời, vị ấy hành sử rất gương mẫu, và có những đặc thù mà người thường không thể có được, nên vị đó được gọi là bậc Thánh nhân; một bậc Thánh nhân với đầy đủ ý nghĩa có diệu dụng kỳ đặc như “Ba thân, Năm trí, Năm mắt, Sáu thần thông v.v…” 
    Để hiểu rõ: chúng ta sẽ phân tích các diệu dụng mà một bậc Thánh đạt được khi đạt giải thoát. 
II). PHÂN LOẠI DIỆU DỤNG TU CHỨNG: 
1). BA THÂN (Tam Thân): 
A). THẾ NÀO LÀ BA THÂN? 
     Ba thân là Pháp Thân, Báo Thân, và Hóa Thân; Chư Phật, và Chư đại Bồ Tát xuất hiện ở thế gian để hoằng hóa độ chúng sanh, nên có nhiều hình thức khác nhau chỉ vì lợi ích chúng sinh. Với quam điểm Ba Thân: không phải là trạng thái độc lập riêng biệt, mà là biểu hiện của một bản thể duy nhất. 
B). PHÂN LOẠI BA THÂN: 
1. Pháp Thân:
    Là Thể Tánh thật sự, là Chân Như, Như Lai, Phật Tính, là Thể của vũ trụ. Pháp Thân là Tánh, Phật Tính mà Phật và chúng sinh đều có như nhau, Pháp thân còn là quy luật vận hành của vũ trụ, Pháp Thân cũng là Giáo pháp mà Đức Phật đã nói ra để truyền dạy cho Phật tử. 
   Pháp Thân thường hằng, bất biến, không hình tướng; A Lại Đa thức, Thức thứ tám của mỗi người được gọi là Pháp Thân, Như Lai Tạng cũng được gọi là Pháp Thân. 
   Như vậy, Pháp Thân, Thể Tính, Chân Như, Như Lai, Phật Tính, Tánh, Phật v.v… là Thể Tính thanh tịnh, thường hằng, toàn năng; các vị Phật, đại Bồ Tát xuất hiện chính là hiện thân của Pháp Thân vì lợi ích của chúng sinh. 
   Pháp Thân là bản thể của tự tính cùng khắp không gian và thời gian, nó vô hình vô thanh mà hay hiện hình hiện thanh, như như bất động mà biến hóa cùng tột, tràn đầy năng lực. 
2. Báo Thân:
    Là Thụ Dụng Thân, là các thân Phật trong các cõi Tịnh Độ. Báo Thân là do thiện nghiệp, công đức, tu hành, và giác ngộ của các vị Bồ Tát hóa hiện cho chúng sinh thấy, nên gọi là Thụ Dụng Thân. Thân được hưởng những thiện nghiệp đã tạo, công đức đã tu trì; Báo Thân thường mang 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp mà người thường không thể có được. 
3. Hóa Thân:
    Là thân người của các vị Bồ Tát, cũng gọi là Ứng Thân, hay Ứng Hóa Thân, với mục đích cứu độ con người. Hóa Thân do Báo Thân chiếu hiện dựa trên lòng từ bi, và có mục đích giáo hóa chúng sinh. Hóa Thân cũng chịu mọi chi phối về thể xác như mọi người, như sinh, già, bệnh, chết, nhưng Hóa Thân có đủ thứ Thần thông. 
2). NĂM TRÍ (Ngũ Trí): 
(Còn tiếp)

__._,_.___

Posted by: Tien Do <


DIỆU DỤNG
CỦA TU CHỨNG 
Toàn Không
(Tiếp theo) 
2). NĂM TRÍ (Ngũ Trí): 
   Như bài “Trí Huệ” đã nói theo Duy Thức Tông có Bốn Trí (Tứ trí) là 
“Thành Sở Tác Trí, Diệu Quan Sát Trí, Bình Đẳng Tính Trí, và Đại Viên 
Cảnh Trí”. Trong bài này chúng ta phân tích sâu xa hơn, vì theo Mật 
Tông còn thêm một trí nữa là “Pháp Giới Trí”. Chúng ta lần lượt theo 
dõi để hiểu rõ vấn đề này: 
1. THÀNH SỞ TÁC TRÍ: 
- Theo Duy Thức Tông: Thành Sở Tác Trí do năm thức là Nhãn, 
Nhĩ, Tỵ, Thiệt, Thân thức khi trở thành trong sạch không còn một tí 
vẩn đục, gợn nhơ của năm trần Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, nghĩa là 
không còn bị dính mắc, lôi kéo bởi trần cảnh ở đời. Tâm hành giả như 
hồ nước trong lặng không gợn sóng, nghĩa là đạt giác ngộ, lúc ấy năm 
thức trên biến thành “Thành Sở Tác Trí”; nghĩa là năm giác quan của ta 
trở thành có năng lực thần diệu kỳ bí, chứ không còn là giác quan của kẻ 
phàm phu chỉ nhận biết một cách hạn hẹp mà thôi. 
- Theo Mật Tông: Thành Sở Tác Trí còn được gọi là Thành Sự Trí, 
Trí này do “Hành” (trong Năm Uẩn) cùng với tâm “ganh ghét” đã được 
chuyển hóa khi chứng ngộ vô ngã của chính bản thân của các pháp hữu 
vi. Trí này giúp hành giả hoàn thành tất cả mọi việc mà không tạo nghiệp, 
đó gọi là hành động vô vi. Trong Mạn Đà La, trí này thuộc Đức Phật Bất 
Không Thành Tựu, giáo chủ một cõi Phật ở phương Bắc. 
2. DIỆU QUAN SÁT TRÍ: 
- Theo Duy Thức Tông: Diệu Quan Sát Trí do Ý thức là Thức thứ 
sáu góp ý phân biệt cho năm thức nêu trên, Ý thức làm việc suốt ngày 
đêm không ngưng nghỉ. Ban ngày suy nghĩ tưởng nhớ hết việc này tới 
chuyện khác, lo lắng buồn khổ, hân hoan vui mừng v.v…Ban đêm khi 
ngủ mộng mơ đủ thứ. Khi tâm viên ý mã (tâm ý lăng xăng loạn động 
như con khỉ chuyền cành, như con ngựa bất kham không để chân yên) 
ấy đã được buộc cột lại một chỗ hết đường cựa quậy qua sự tu hành 
rồi, ý thức chuyển thành Diệu Quan Sát Trí, có công năng quan sát thâm 
diệu cùng khắp. 
- Theo Mật Tông: Nguồn gốc của Diệu Quan Sát Trí là “Tưởng” 
(trong Năm Uẩn) cùng với tâm trạng tham dục đã được chuyển hóa, 
khi chứng ngộ thành Diệu Quan Sát Trí. Trí này giúp hành giả biến 
chuyển khả năng của người bình thường thành trí huệ siêu việt, tùy 
cơ ứng biến đúng lúc đúng chỗ không cần dụng công; trong Mạn Đà La, 
trí này thuộc về Phật A Di Đà, giáo chủ một cõi Phật ở phương Tây. 
3. BÌNH ĐẲNG TÍNH TRÍ: 
- Theo Duy Thức Tông: Bình Đẳng Tính Trí do “Mạt Na”, “tự ý 
thức”, “Thức thứ bảy” tự ý thức về chính mình, còn gọi là “Ý”, tự ô 
nhiễm cho rằng mình có một cái “ta”.  Mạt Na đưa tin tức về cảm giác 
chủng tử từ sáu thức trước cho A Lại Đa (Thức thứ tám) gìn giữ tất cả 
các sự kiện, và chấp làm thật ngã thật pháp; tuy nhiên, nó luôn luôn 
thay đổi, nó là căn bản phiền não gồm: Ngu si, Tà kiến, Kiêu mạn, và 
Ái dục. Mạt Na còn là tác giả của “căn cảnh duyên, tác ý duyên, và 
chủng tử duyên”; nó có tánh tướng lo nghĩ và làm chỗ nương tựa cho 
sáu thức trước về ô uế hoặc trong sạch; Mạt Na phân biệt chủ thể 
khách thể, tạo nên ý thức “Nhị nguyên”(Cho rằng bản thể vũ trụ do 
hai bản thể làm thành, hoặc theo hai cái nguyên đề mà suy diễn ra 
cái khác như sáng tối, phải trái, đẹp xấu, yêu ghét v.v…). Mạt Na 
chấp ngã, nhân, chúng sanh, chấp đủ thứ điên đảo; năm giác quan 
cùng ý thức báo cho Mạt Na tin tức từ bên ngoài không hề đánh giá 
tốt xấu; nhưng chính Mạt Na, Thức thứ bảy này là kẻ đánh giá phải 
trái, hay dở, yêu ghét v.v… và ra lệnh cho sáu thức kia phản ứng hành 
động. Đồng thời Mạt Na đưa tất cả các cảm giác (chủng tử) vào A Lại 
Đa thức là Thức thứ tám; khi tu hành phá vỡ tan tành các “chấp” của 
Mạt Na,  Mạt Na này chuyển thành “Bình Đẳng Tính Trí”, có công năng 
nhận thức chân thật về tính bình đẳng vô ngã trong vạn pháp. 
- Theo Mật Tông: Bình Đẳng Tính Trí do “Thụ” (trong Năm Uẩn) 
cùng với tâm trạng kiêu mạn đã được chuyển hóa khi chứng ngộ. Trí 
này giúp hành giả thấy rõ sự bình đẳng giữa mình và chúng sinh, tinh 
thần Từ Bi Hỷ Xả phát xuất từ trí này; trong Mạn Đà La, trí này thuộc về 
Phật Bảo Sinh, giáo chủ một cõi Phật ở phương Nam. 
4. ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ: 
- Theo Duy Thức Tông: Các cảm giác của tất cả các hoạt động 
của Năm Căn và Ý thức được Mạt Na đưa vào “A Lại Đa”, là Thức thứ 
tám, còn gọi là “Tàng thức”. A Lại Đa có nhiệm vụ gìn giữ tất cả các tin 
tức ấy, gọi là “chấp trì sinh mệnh chủng tử” của các pháp, nó luôn luôn 
sẵn sàng tiếp nhận tin tức do Mạt Na chuyển đến, không bao giờ đầy, 
ví như chiếc bình không đáy, bao nhiêu chứa cũng hết và không bao 
giờ mất. Cả đời người sóng gió lên bổng xuống chìm, trải qua biết bao 
nhiêu sự việc, trong A Lại Đa có đầy đủ, ví như cái máy “Vi tính” chứa 
đủ thứ của cuộc đời. Khi tu hành đạt đến địa vị vô lậu (sạch hết ô nhiễm 
cấu bẩn), thức này chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, nghĩa là thành cái trí 
huệ sáng suốt trong sạch như gương khổng lồ tròn đầy trong sạch soi 
chiếu cùng khắp, tương ưng cho Chân Như, Phật Tính. 
- Theo Mật Tông: Đại Viên Cảnh Trí do nguồn gốc của “Thức” (trong 
Năm Uẩn) cùng với tâm trạng sân hận thuộc về ý trong ba cửa tạo 
nghiệp đã được chuyển hóa khi chứng ngộ, Trí này giúp hành giả nhìn 
vạn vật với tâm thức vô ngã, không phân biệt đúng sai, chấp nhận vạn 
vật với mỗi sắc thể riêng của nó. Trí này ví như tấm gương vì một hạt 
bụi nó cũng không bỏ qua, và khi hạt bụi bay đi, nó không còn để lại dấu 
vết gì; trong Man Đà La, trí này thuộc Phật Bất Động, giáo chủ một cõi Phật 
ở phương Đông. 
5. PHÁP GIỚI TRÍ:
   Duy Thức Tông không đề cập tới Pháp Giới Trí, theo Mật Tông, trí này 
siêu việt Pháp Giới, trí cùng tột. Nguồn gốc căn cơ của Pháp Giới Trí 
là “Sắc” (trong Năm Uẩn) cùng với Vô minh thuộc về “thân” trong ba 
động cơ tạo nghiệp là “thân, khẩu, ý”; trong Mạn Đà La, Pháp Giới Trí 
thuộc Phật Đại Nhật nằm ở Trung tâm. 
3). NĂM THỨ MẮT (Ngũ Nhãn):
 (Còn tiếp)

__._,_.___

Posted by: Tien Do <



DIỆU DỤNG
CỦA TU CHỨNG 
Toàn Không
(Tiếp theo) 
3). NĂM THỨ MẮT (Ngũ Nhãn): 
    Năm thứ mắt gồm: Nhục nhãn, Thiên nhãn, Pháp nhãn, Huệ nhãn, 
và Phật nhãn; các vị thành Phật mới có đầy đủ năm loại mắt này. 
1. Nhục nhãn:
    Nhục nhãn là con mắt của người thường. Mắt này chỉ thấy ở chỗ 
sáng không thấy chỗ tối, chỉ thấy trước mặt không thấy sau lưng, 
chỉ thấy gần không thấy thật xa; không thấy khi bị ngăn che bởi 
tường vách, vật, núi, đồi v.v…, loài người, và tất cả loài vật súc sinh 
có loại mắt này. 
2. Thiên nhãn:
     Có thể nhìn gần nhìn thật xa thấy hết, nhìn trong bóng tối hay 
nhìn dưới ánh sáng đều thấy như nhau; có thể cùng một lúc vừa 
nhìn phiá trước vừa nhìn phiá sau, nhìn qua mọi chướng ngại như 
tường vách, vật, núi dồi v.v… không bị trở ngại; Chư Thiên có mắt này. 
3. Pháp nhãn:
     Pháp nhãn là con mắt đạo lý, Pháp nhãn thấy được sự đa dạng của 
tất cả các đạo lý; bậc có Pháp nhãn thấy được đạo lý của mười phương 
ba đời Chư Phật. 
4. Huệ nhãn:
     Là con mắt trí huệ thấy được tính không của vạn vật, thấy được 
nghĩa lý sâu cạn của văn tự. Bậc có Huệ nhãn thấy được quả báo 
đời trước đời sau, lành hay dữ, như xem chỉ tay trong lòng bàn tay. 
5. Phật nhãn:
     Là con mắt của bậc giác ngộ, nhìn thấu suốt thể tính của vạn sự. 
Phật nhãn sáng suốt hoàn toàn, soi khắp mọi nơi, thấu suốt từ vô thủy 
kiếp về trước tới vô số kiếp về sau; hiểu biết nhân quả như thấy trước mắt. 
4). SÁU THẦN THÔNG (Lục thông):
    Chư Phật và chư đại Bồ Tát có đầy đủ Sáu Thần thông như sau: 
1. Như Ý Túc thông:
     Cũng gọi là Thần Túc thông: Có thể phân thân làm nhiều thân 
khác nhau, hay hợp nhiều thân làm một thân.. Có thể biến hóa thân 
nhỏ bé lại hay to lớn lên tới có thể sờ tới mặt trăng, mặt trời; có thể 
đi qua tường vách gạch sắt, đi qua núi đất đá; có thể đi trên mặt 
nước sông hồ như đi trên đất. Ngồi kết già bay trên không trung như 
chim bay qua cánh đồng lúa chín. 
2. Thiên Nhãn thông:
     Nhìn thấy các tầng trời có Chư Thiên ở. Nhìn rõ cõi Thần, cõi Ngạ 
qủy, cõi Địa ngục. Nhìn rõ ban ngày cũng như ban đêm, nhìn rõ cùng 
lúc phía trước mặt và phiá sau lưng. Nhìn xuyên qua các vật cản trở, 
tường vách, núi đồi .v.v… 
3. Thiên Nhĩ thông:
     Có thể nghe được tiếng nói dù xa tới vạn dặm, có thể nghe được 
tiếng nói của các loài gần xa không ngăn ngại. Có thể dùng Thiên nhĩ 
để nghe người khác nói hoặc nghe người khác cầu cứu từ rất xa. 
4. Tha Tâm thông:
     Dùng Tha Tâm thông có thể biết ý nghĩ của người khác có tâm dục 
hay không, có tâm sân hay không, có tâm ác hay có tâm thiện. Biết tâm 
niệm người khác dù ở gần hay ở xa đều biết được cả. 
5. Túc Mệnh thông:
     Biết được tiền kiếp của mình một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, 
mười đời, trăm đời, nghìn đời, vô số đời. Biết kiếp nào tên gì, ở đâu, 
sống như thế nào, gia đình ra sao, thọ yểu thế nào v.v…. đều biết rõ 
ràng từng chi tiết nhỏ bé đều rõ ràng từng đời, từng kiếp cho tới vô 
lượng kiếp về trước. 
    Cũng biết người này người kia kiếp trước sinh ở đâu, làm nghề 
gì, đời sống ra sao, gia đình thế nào, sống bao nhiêu tuổi v.v…
đều biết hết thảy. Lại biết người kia kiếp trước làm lành làm ác thế nào, 
kiếp này tái sinh lãnh quả báo lành dữ ra sao. Tóm lại có thể biết tất cả 
mọi người qua lại tái sinh chỗ lành chỗ dữ đều do nghiệp đã tạo ra dẫn dắt. 
6. Lậu Tận thông:
     Biết như thật các lậu hoặc ô nhiễm đã diệt sạch, nên được tâm giải 
thoát khỏi vô minh lậu. Biết như thật rằng: “Sinh tử đã hết, giải thoát đã 
đạt, việc tu hành đã làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa”. Lại còn 
có thể biết lậu hoặc, ô nhiễm, thói hư tật xấu của người khác đã sạch 
hết hay chưa v.v….,. 

__._,_.___


Posted by: Tien Do <

Featured Post

NHỮNG KHÔI HÀI VỀ . . . Chữ Nghĩa Việt Cộng.

  NHỮNG KHÔI HÀI VỀ . . . Chữ Nghĩa Việt Cộng. 1. - Ai cũng biết VC là vua chơi chữ, lúc chúng ...

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List