Popular Posts

Friday, November 15, 2013

truyện ngắn: Chuột Nhà




From:
Date: Thu, 14 Nov 2013 10:57:40 +0100
Subject:  truyện ngắn: Chuột Nhà

 

Kính gởi Diễn Đàn
Đây là một truyện hư cấu tôi viết đã lâu. Tôi đã đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ quan trọng, may mắn được gặp gỡ nhiều khuôn mặt đồng hương cũng như ngoại quốc. Từ đó tôi hiểu ra Những Ước Mơ và Sự Thật đều đặt trên nền tảng Quyền Lợi. Trong đời cầm bút tôi chưa bao giờ viết xấu về một ngươờ nào, vì mỗi người đều có Quyền có cái Riêng. Trong thơ văn tính chất hư cấu pha chút thtật dễ diễn đạt hơn tả chân, trong hội họa vẽ ma dễ hơn vẽ người.
kính
ĐB 


 

CHUỘT NHÀ

(Đây là câu truyện mang tính hư cấu)


Đỗ Bình


Cuối tháng tư đã vào xuân mà gió vẫn lạnh! Sáng nay màu trời xanh như ngọc thỉnh thoảng có những giải mây trắng hồng lờ lững bay. Hàng cây bên đường đứng lặng yên, trên cành những cánh hoa còn đọng những hạt sương mai long lanh trong nắng như những viên kim cương muôn sắc.

 Dưới nền trời xanh ngắt, một tòa nhà mái ngói đỏ màu đã xỉn nằm sừng sững trên cánh đồng bát ngát trông như một bức tranh ấn tượng, người ta gọi đó là khu nhà cổ được xây cất từ hồi Đệ nhất thế chiến, nơi đây ít có người lui tới vì khá xa Paris. Lúc đầu dành cho những gia đình lính, sau khi chiến tranh thứ hai chấm dứt, một số đông quân nhân đươc giải ngũ và họ đã rời gia đình đi nơi khác lập nghiệp nên nhiều phòng bỏ hoang. Chung cư bỗng trở nên vắng vẻ, tiêu điều, thiếu hẳn bầu không khí nhộn nhịp ồn ào thuở nào, và cái vỏ hào nhoáng khi xưa cũng dần tắt lịm theo thời gian!

Sau chiến tranh, nhờ tiến bộ khoa học nền kinh tế Âu Châu khởi sắc và phát triển mạnh, những phong trào thi đua mở mang đô thị nở rộ khiến những khu đất hoang mọc lên những tòa nhà cao tầng, những hiệu buôn lộng lẫy, những nhà máy, công ty, xí nghiệp lớn nhỏ đủ cỡ. Do đó người từ các thành phố khác đổ về đây lập nghiệp, phố xá trở nên sầm uất, ấy thế mà căn nhà gạch xưa vẫn còn bị hẩm hiu! Bộ mặt bên ngoài chung cư vẫn vậy, lớp sơn màu xám tro lâu ngày đã tróc ngả màu bạc phếch, trông nó vốn đã cũ lại càng xơ xác hơn! Mãi đến gần cuối thập niên 70 vì dân số trong đô thị gia tăng, người ta đã sửa sang chung cư lại, sơn phết nó để cho thuê với giá rẻ. Khách đến thuê rất ít người bản xứ, đa số đều là người ngoại quốc từ những phương trời khác nhau như Bắc Phi, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… đến Pháp lập nghiệp, trong đó có cả người Việt Nam tỵ nạn. Dù khác biệt về ngôn ngữ, chủng tộc hay tôn giáo, họ vẫn sống rất hòa đồng trong chung cư.

Khu nhà cũ năm xưa nay được khoác lớp áo mới, phía trước được trồng cây xanh lối đi, trong vườn hoa có những hàng ghế, cứ mỗi khi trời đẹp dân chung cư thường hay ra ngồi sưởi nắng. Góc phải công viên là một bãi cát nhỏ với cây cầu tuột bằng gỗ sơn xanh đỏ dành cho trẻ em vui chơi. Tuy đã được tân trang bề ngoài, nhưng bên trong khu nhà vẫn không thay đổi mấy! Nó có thể mới với những người vừa đến cư ngụ, nhưng lại rất cổ với những dãy cao tầng quanh đó. Tuy nhiên trong cái cũ kỹ ấy vẫn phảng phất thời vàng son, dấu tích của những người lính đã từng góp phần dệt lên những trang sử lẫy lừng cho nước Pháp. Phía sau khu nhà cổ vẫn bãi đất rộng đầy cỏ dại, có nơi đã mọc phủ lên cả thềm căn nhà kho, căn nhà dung để chứa đồ phế thải mà màu gạch ngói đã mốc, đã loang lổ trông lại càng hom hem lụp xụp! Chung cư đông người nên kho chứa đồ phế thải càng bừa bộn và chật chội vì những thùng và bao rác chất đống! Duy chỉ có trẻ con là thích, chúng đã biến một khoảnh đất của bãi cỏ hoang thành sân chơi đá bong, và nơi ấy cũng là nơi chó mèo đi dạo. Thỉnh thoảng có cả những chú chuột lang thang đi kiếm mồi. Ở xứ nầy, người ta rất quí chó mèo và xem chúng như bạn, nên lũ chó mèo được cưng chiều, bảo vệ đâm sinh tật, lắm lúc chúng gặp chuột lại cong đuôi trốn! Những mảnh đời trầm luân tục lụy đầy bát nháo đâu chỉ xảy riêng cho loài người? Cứ thử nghiêng xuống cảnh đời của những loài thú khác nào có ít xôn xao?!

Trời hôm nay đẹp nhưng còn lạnh, điều đó không ảnh hưởng đến sinh hoạt trong căn nhà kho, nơi chứa chấp cặn bã, tụ điểm hò hẹn của loài chuột. Gia đình chuộât Lắt cư ngụ trong một góc kẹt ở đây đã bao đơi. Ả nhóc chuột Lắt rất tinh khơn, tính hay ăn vụng, nhất là thứ vụng ngày nhưng ít bị bắt gặp chuột ta đâm tự mãn về sự khôn ngoan của mình. Đời đâu êm thắm và may mắn mãi, nhiều phen nó cũng phải chạy bở vía vì lân la sang những nơi lạ bị trẻ nít đuổi! Chuột Lắt con than với mẹ:

“-Loài người bọn chúng quả thật ác mồm lắm, mẹ ạ…Chúng đặt tên và xếp loại chúng ta vào loài chuột!”

Chuột mẹ nhìn con, âu yếm nói:

“-Con ơi ! Hơi đâu mà nghe mồm người, tâm địa của chúng còn hiểm độc hơn nhiều, con à! Lắm đứa còn bẩn hơn cả chuột nữa…thế mà chúng cứ vênh mặt, ngoắc  mồm chê ỏng, chê ong làm ra vẻ đạo đức.... Cũng là mặt chuột trát son phấn đấy con!”

Chuột con rùng mình, thở dài:

“-Thảo nào lại lắm bọn đạo đức giả đến thế!”

Chuột mẹ chu mõm khẽ gãi vào đầu chuột con, thỏ thẻ:

“-Chớ nên đi xa kiếm ăn, coi chừng chúng bẫy đấy!”

Chuột con gục gặc đầu lí nhí…dạ. Bỗng chuột con ngoắc đầu nói:

“-Đêm hôm trước, đi kiếm ăn, bới trong bao rác, con thấy được cây dồi thơm quá…Chuột Chù và chuột Cống ở cạnh đấy định giật cây dồi của con, nhưng may qua,ù con tha kịp miếng mồi và nhanh chân phóng vào góc kẹt, vừa ăn vừa quan sát. Con thấy chuột Chù và chuột Cống cũng phóng đuổi theo nhưng chúng lớn quá đành ở ngoài góc kẹt mà chõ mõm chửi.”

Chuột mẹ rùng mình, mặt biến sắc mắng yêu:

“-Mẹ đã nói con phải cẩn thận, chuột hay người vì miếng ăn thì cũng đều gian ác như nhau. Thế…chúng nó chửi con thế nào?”

Chuột con bỗng tiu nghỉu, buồn xo, trả lời:

“-Chúng chê chúng ta là loài chuột nhắt…đồ loắt choắt…đồ sống bẩn, chuyên bới rác!”

 Chúng còn nói:

“-Đáng lý mẹ con chúng mày phải sống nơi kẹt cầu, ống cống như chúng tao, nhưng mày lại bỏ ổ, nay rúc vào gầm giường, mai chui vào xó bếp của nhà người ta để rình mò lén lút, chờ hễ có ai sơ hở hay lơ đễnh là thừa dịp bò ra ăn vụng những cơm thừa nước cặn. Thế…đã không biết xấu hổ mà còn bày đặt làm cao…đồ đượi!”

Chuột mẹ giận run lên, mắt đỏ ngầu, chu chéo nói:

“-Ới giời ơi! Thật là xấu cho họ nhà chuột!”

Và nghiến răng, gằn giọng:

“-Chúng nó có tốt lành gì đâu con!”

Chuột mẹ bỗng ngẩng đầu lên, mặt đanh thép rít:

“-Con tưởng loài chuột Chù thơm lắm sao? Con xem bộ dạng nó đầu đít chẳng cân xứng….đuôi thì ngắn cũn cỡn, mồm lại chù dài ra, nhọn hoắc, trông mà thấy gớm. Cả làng chuột phải bỏ chỗ ở hang hốc mà đi vì cái mùi hôi đặc biệt của nó.! Thứ chuột rượn ấy chỉ biết hóng đực…nên lúc nào cũng ngúng nguẩy, cong tỡn như đượi!”

Chuột mẹ chép miếng nước bọt đỡ khô cổ, rồi lên giọng rủa tiếp:

“-Con tưởng chuột Cống sạch lắm hả? Hủi đấy! Trông nó to xác lại chuyên sống gầm cầu, kẹt cống rãnh. Con xem chân dung họ nhà mõm nhọn nào là chuột Đất, chuột Đồng, chuột Chũi, chuột Khuy, chuột Lang, chuột Bạch….Chẳng con nào giống nó cả!”

Chuột mẹ ghé sát đầu vào chuột con, xuống giọng nói khẽ như sợ có ai nghe trộm:

“-Nó xơi cả thịt chuột nữa, đấy con!”

Chuột con rùng mình lạnh xương sống, run run khẽ hỏi chuột mẹ:

“-Đâu có ai nghe mình nói chuyện, sao mẹ sợ dữ vậy?”

Mắt chuột mẹ đảo lia, tai vễnh ra, đầu ngoáy qua ngoáy lại, thở đều, hạ giọng nói:

“-Con ngây thơ lắm…Là chuột mà chẳng hiểu chuột. Chuột là tổ sư của nghành rình mò và báo cáo đấy con….Con người mới học lóm sau nầy thôi!”

Chuột con giật bắn mình vì sợ hãi. Chuột mẹ ngậm ngùi kết luận:

“-Rõ là lũ chuột!”

Chuột con nhướng cổ lên, thắc mắc:

“-Mẹ nói sao…con chưa hiểu?”

Mặt chuột mẹ đanh lại, nói:

“-Con có biết loài người nhìn mình như thế nào không?”

Chuột con tròn xoe mắt, lắc đầu. Chuột mẹ ngậm ngùi nói:

“-Họ bảo mình là loài thú gặm nhắm, mõm nhọn, đuôi dài, thường phá hoại mùa màng và gây bệnh dịch truyền nhiễm …. Họ còn kháo nhau rằng "Trải qua bao biến chuyển của thiên nhiên và thời đại, có bao nhiêu loài thú đã tuyệt tích, thế mà loài chuột vẫn an nhiên tồn tại, không những thế, chúng còn sinh sôi nẩy nở mỗi ngày một đông hơn. Mặc dầu con người rất ghê tởm loại thú nầy và tìm đủ mọi cách để tiêu diệt chúng nhưng người và chuột vẫn quây quần chung dụïng nhaụ. Thường thì chuột vẫn tránh người. Lắm khi chuột đông quá khiến người lại phải tránh chuột.”

Chuột mẹ nói tiếp:

“-Con thấy chưa, ý niệm của con người thật ác độc Cái gì bẩn nhất họ trút lên đầu mình, ngay cả việc lên án giữa con người với con người cũng thế, hễ ai có hành động bẩn là họ ví là chuột. Thế có tức không chứ?!”

Chuột con mặt hóm hỉnh bò ra khỏi góc kẹt, quay lại nói với mẹ:

“-Chuột người đấy, mẹ ạ!”

Hai mẹ con chuột cùng rít lên cười và bò đi kiếm ăn.

 

*

Sáng nay, chuột Lắt viếng nhà ông Giáo kiếm ăn, nó, tuy trời sinh có hơi loắt choắt nhưng bù lại rất nhanh nhẹn, giỏi luồn lách trong kẹt nhà, xó bếp, chuột ta biết được thói quen của người. Đợi lúc người trong nhà đi vắng mới mon men bò ra kiếm ăn mà chẳng ai quấy rầy cản trở sự vụng trộm. Lắt chạy lung tung hết phòng nầy sang phòng khác, rồi leo lên cả bàn thờ nhảy múa. Lần đầu tiên trong đời nó được hưởng cái diễm phúc hiếm hoi đầy ắp vật chất lẫn không khí tụ do như hôm nay. Lắt cong đuôi phe phẩy vui sướng, mõm chúm lại nhọn hơn và rít lên âm điệu the thé. Nó tha hồ chọn lựa những phẩm vật ngon, lạ bày biện trên bàn thờ.

Chuột Lắt thoạt nhìn cũng dễ coi, nhưng khi nó nghếch mặt lên mắt vừa ti hí lại sưng húp; thêm mấy sợi râu lún phún trên mép nhúc nhích trông rất lém lỉnh và đểu! Nó liếc về dĩa gà, mắt long lên và sáng quắc mùi thơm đã động não làm ứa đầy nước bọt, mấy sợi râu mép cũng co giật cong vút. Lắt liếm mép mon men lánh mình qua nải chuối xanh, dĩa cam óng ả và những quả táo đỏ au thơm phức. Lắt phân vân chưa biết dùng thứ nào trước, bỗng Lắt giật bắn mình, khi thấy những ánh mắt rất nghiêm khắc trong bức ảnh thờ đang chăm chú nhìn nó!. Chuột ta sợ quá, lông dựng đứng, đuôi cụp xuống định phóng chạy, nhưng chân cứ nhũng ra không giữ vững được thân mình; lại thêm tiếng người cười nói xôn xao ngoài hành lang càng làm nó cuống lên. Lắt hoảng hốt, những hương vị đầy quyến rũ của lúc đầu đã vụt mất…Nó thầm than:"Chao ôi sao những phẩm vật bỗng sừng sững như ngọn đồi cản trở thế này?!"... Nó cố thu hết sức nhắc chân nhưng không tài nào, như đã có ai đã nắm đuôi Lắt giữ lại! Nó ngoáy đầu, mắt đảo ngang dọc tìm lối thoát. Nó điếng hồn như bị thôi miên khi liếc thấy những bức ảnh. Nó muốn thu hình lại cho nhỏ bé hơn để lẫn khuất sau những dĩa phẩm vật, nhưng chân cứ mềm nhũng ra, khụy xuống và thiếp đi trong sợ hãi….Khi tỉnh dậy, việc đầu tiên nó liếc trộm những bức hình; thấy những ánh mắt vẫn bất động. Nó thầm nghĩ:"có lẽ những người này hiền hơn những lớp người ồn ào mà nó thường phải tránh hàng ngày….hình như họ đang mỉm cười". Lắt cảm như bị hoa mắt nên nhắm lại định thần rồi mở to ra quan sát, tất cả vẫn im lìm bất động, nó an tâm phần nào, vươn mình nhỏm dậy ngoáy đầu nhìn thật kỹ, và chợt hiểu:"Thì ra tất cả chỉ là hình tượng giống như tượng đá mà có lần theo mẹ đi kiếm ăn nó gặp ngoài công viên".

Lắt chồm lên, nhún nhảy, cười ha hả. Nó hiểu rồi :“Những hình tượng nầy đều là người chết, thể nào mà họ hiền đến thế!” Nó bò lại thật gần bức ảnh, ngắm kỹ từng chân dung và nghĩ: "Biết đâu chẳng có những khuôn mặt ác, lúc còn sống đã hiếp đáp gia đình nó chăng?". Cố tìm nhưng chẳng nhận ra ai, Lắt tự nhủ: "Chắc họ là những người xưa nên chưa biết những trò bẫy chuột và dùng thịt chuột". Nó cảm thấy :"Chỉ có người chết là tử tế và có thể sống chung được với họ". Lắt càng ngắm những di ảnh:"Càng thấy họ dễ thương và mờ nhạt, trông buồn quá! Chẳng hiểu do bụi thời gian hay người chết thích mờ nhạt?" Mải ngắm những người tử tế, xuýt nữa Lắt quên mất cái bụng đang đói, nó bỏ mặc những hình tượng đang trầm tư, thoăn thoắt tiến về dĩa gà đang phơi mình mời gọi. Bộ lông nó xù ra, râu mấp máy vì cơn thèm đã cực điểm. Nó nhắm miếng đùi gà, ăn ngấu nghiến, rồi rít lên sung sướng như chưa bao giờ hưởng được cái thú tuyệt vời nầy. Bỗng nó chợt nhớ chuyện năm ngoái mà bùi ngùi, cái lần theo mẹ rời hang đi xa lắm, sang tận nhà một người hàng xóm rất giàu ở đầu đường để kiếm ăn. Lắt còn nhớ mẹ bảo:

“-Phải đổi món mới thú! Nhưng thú đâu chẳng thấy mà xuýt nữa bỏ mạng cả mẹ con vì con mèo mun quái ác bên đó! Ôi…thoạt nhìn đã chết khiếp! Lưỡi nó đỏ lòm, mỗi lần liếm mép, răng nhe ra vừa nhọn vừa dài lóng lánh trông mà ớn lạnh.…Huống chi nó lại to béo! Nhìn nó đi qua đi lại mà phát ớn...Nhất là tiếng kêu của nó như chuông ngân nghe lạnh thấu xương sống! Nó đã cụp tai vậy mà thính quá! Mẹ con Lắt núp ở trong kẹt, nín thở, nào dám cụ cựa, thế mà nó vẫn biết. Nó hầm hừ đi đi lại lại, chờn vờn quanh bếp, rồi đưa chân vào góc kẹt khều. Hú hồn! Tị nữa thì chộp trúng! Chụp hụt nó càng trở nên dữ dằn phát tiếng kêu lảnh lót, rồi nằm phục trong tư thế sẵn sàng nhảy bổ để ăn tươi nuốt sống con mồi. Thời gian lúc bình thường thì nhanh quá,  nhưng sao lúc này hình như bị dính lại! Bỗng tiếng động của ổ khóa vang lên, cánh cửa bật mở, chủ nhà đi chơi khuya về! Lại thêm một kẻ ác nữa xuất hiện, chắc lần nầy mẹ con mình lúa đời!! Chủ nhà  bước vào nhà không biết mèo đang rình mồi ; thấy nó nằm ì trước tủ bếp, lại tưởng là đói nên người chủ cúi xuống ẵm nựng, rồi cho ăn và uống sữa.

-Chao ôi! Sao nó lại hiền thế kia, nanh vuốt của nó đâu? Nó nhõng nhẽo nữa kìa! Nó rúc đầu vào cổ chủ như đang chia sẻ hơi ấm và được chủ bế vào phòng khách, đặt lên ghế đệm ngủ….Thật là bất công. Cũng là loài vật sống trong nhà, thế mà nó lại được thong dong và chủ nâng niu chiều chuộng. Còn loài chuột mình thì cứ phải lén lút, bị người xa lánh và ruồng bắt! Hú hồn, cũng nhờ người chủ mang nó đi, vô tình đã giải thoát mối nguy hiểm cho mẹ con mình.".

Chuột Lắt hồi tưởng lại chuyện cũ mà rùng mình rồi thở phào nhẹ nhõm như vừa thoát khỏi hiểm nguy. Nó tiếp tục nhâm nhi, tận hưởng những món ăn lạ, sau khi no nê, lăn ra ngủ. Đang ngon giấc, nó bỗng giật mình do những tiếng động ồn ào trước cửa. Mở choàng mắt, chân nó run lên vì thấy chủ nhà đã về. Sợ quá, Lắt cuống lên, đuôi cúp lại, đầu lấp ló sau bình hoa, mõm chõ về hướng chủ nhà, tai vễnh ra như muốn thu hết âm thanh của người để nghe xem đã bị phát giác ra chưa, nên không dám lao xuống.

Ánh nắng hắt vào căn phòng của nhà cụ Giáo từ phía lớp cửa kính tạo thành những mảng sáng vàng vọt, mờ đục, ấm áp.Trên tường bộ tranh sơn mài cẩn ốc xa cừ óng ánh trong vệt nắng, dưới là chiếc truyền hình cũ, bộ bàn ghế loại đắt tiền đã ngã màu đặt giữa phòng; bên cửa sổ là chiếc tủ cổ đầy sách cạnh chiếc đèn chụp. Nổi bật nhất vẫn là chiếc tủ thờ được đặt ngay lối vào. Cánh của mở ra,  người chưa bước vào nhà mà tiếng cười nói đã vang ra mãi tận ngoài sân, nhưng trong tiếng cười nói đó hình như có ẩn chứa một nỗiniềm? Họ là ai? Có phải là những người biệt xứ nên trong lòng luôn ôm ấp một mối sầu quê hương nên mỗi lần gặp nhau họ tha hồ nói tiếng mẹ đẻ, họ thích bàn đủ chuyện, từ chuyện quốc tế đến quốc nội, họ tranh luận đủ mọi đề tài từ văn hóa, xã hội, quân sự đến chính trị. Họ thích lý luận, nhất là đề tài liên quan đến chính trị thường gây tranh luận rất sôi nổi. Cũng chính vì thế mà lúc đầu lớp người lưu vong nầy rất đông, xúm xít với nhau, sau dần dần mất vợi, lớp nầy đi thì lơp khác tới. Hôm nay là ngày giỗ ông bà của cụ Giáo, và cũng là buổi họp mặt nhóm bạn thân. Mở đầu câu chuyện được đưa ra bàn là chuyện ông đốc tờ Xanh Lơ, vì cả tháng nay bỗng dưng biệt tích khiến kẻ xấu mồm đã bảo ông về Việt Nam cưới vợ. Nghe thế, ông nổi cáu, than với bạn bè:

“-Thiên hạ ăn no lại rởn mỡ, chuyên bàn những chuyện tào lao! Bầm giập lắm moi mới thoát khỏi ách Cộng sản, nay về đó để chui vào rọ hả? Ở ngoài nầy bộ hết đàn bà rồi sao…mà phải về tận quê lấy vợ?…Moi vắng mặt ít tuần là phải qua Thụy Sĩ để theo một khóa học nhân điện.”

Bạn bè thấy hoàn cảnh của ông cô đơn nên động lòng khuyên:

“-Này Mơ xừ Xanh Lơ, moi thấy toi dại gái quá, đã mất tiền mà vẫn phải nằm không, lấy quách em thơm nào cho yên thân…già khú rồi đấy!”

Bác sĩ Xanh Lơ gân cổ lên cãi:

“-Ơ hay! Các ông lại lo con bò trắng răng ..Dại thế  quái  nào được!…Thế nào là dại? Nước mất biển, mất đất thì chẳng lo…mà lo mất chút tiền cho gái!…Moi, già meo rồi…lấy gái tơ về mà thờ hả?!”

Cả đám bạn cười ồ lên, căn phòng rền âm thanh, sau đó trở lại yên lặng. Cụ Giáo bước vào nhà trong, đốc tờ Xanh Lơ đang chăm chú lật xem từng trang báo. Thi sĩ Viễn Mơ cắt bầu không khí yên lặng, hỏi:

“-Làm gì mà trầm ngâm thế, ông Bùùi Trần?”

“-Đang nghĩ chuyện sinh hoạt cộng đồng.”

“- Ở Au Châu một số nước người ta đã xóa bỏ biên giới và thống nhất tiền tệ, ông cứ mãi lo chuyện cộng đồng, ông đúng là "ăn cơm nhà vác ngà voi"…nhiều năm thế mà chưa mệt hả?!”

Nhạc sĩ Bùi Trần vừa cười vừa nói:

“-Nghiệp dĩ cả đó, ông ơi ! ".

     Thời gian trôi nhanh quá, hấm thoắt đã mấy chục năm xa xứ! Thời gian cũng làm sói mòn đi tinh thần đoàn kết của lớp người rtị nạn! Bằng hữu thấy Bùi Trần còn hăng say trong sinh hoạt cộng đồng nên rất cảm phục, chỉ có những kẻ xu thời mới mỉa mai cho ông là kẻ dại. Có lần ông gặp một kẻ ác ý ở nhà một người bạn, hắn ta mượn hơi rượu diễu cợt ông:

“-Nhìn ông chẳng Việt Nam chỗ nào, sao hăng thế?!”

 Trông kẻ đối diện mặt phúng phính bơ sữa, mồm sặc mùi rượu, lắp bắp những lời yêu nước khẩu hiệu. Hồi đất nước còn mịt mờ khói lửa chiến tranh, lúc đó đất nước rất cần thanh niên nhưng chẳng thấy ông ta đâu?  Ôâng ta lại cúi mặt, núp dưới chiêu bài phản chiến ở lì xứ người để tránh đạn mà không dám trở về dù Sài Gòn hay Hà Nội. Đến khi đất nước hết chiến tranh ông dở bài ca «con cá sống vì nước» ca ngợi tổ quốc, lấy cớ xây dựng lại quê hương về nước xoành xoạch như đi chợ…chẳng biết để kiếm gái hay kiếm ghế quyền lực?  Những hạng người ấy chỉ biết đến quyền lợi cá nhân thì làm  sao dám ở lại luôn với quê hương! Thế nhưng khi gặp các anh em cựu tù nhân chính trị Cộng sản, ông ta cứ ngoác mồm hùng hổ đòi tận diệt Cộng sản đến sợi tóc…như để che dấu một mặc cảm? Nếu như cứ im ỉm mà hưởng thụ chắc đỡ xốn mắt hơn!

Ông Bụi Trần cau mày định không trả lời nhưng thấy nụ cười đểu hiện trên môi của người đối diện nên nghiêm nghị nói:

“ –Vâng, Thưa ông, chỉ có ông là người Việt Nam yêu nước, còn tôi chẳng phải !! Ông thuộc sử Việt Nam mà quên mất trang viết về giống Bách Việt ?! Trông ông, bơ sữa và men Tây ẩn đầy trong hơi thở, ngôn ngữ và điệu bộ,  chắc sống ở xứ người lâu năm qúa đã quen, nên ông không thấy rõ mình?! Còn tôi, quê hương ở trong tim! Tôi yêu Việt Nam vì nơi ấy có mẹ tôi, đất nước còn nghèo đói, và tự do,nhân quyền bị chà đạp! Ông thử ngắm bà vợ đầm, đám con của ông cùng bầy cháu, chắc họ là Việt Nam chay?!”

Người đối diện xìu mặt ngượng ngùng, nhún vai và bỏ đi.

, Người mặc chiếc áo khoác màu xanh đậm, có cặp mắt mơ màng, dáng cao gầy và mái tóc hoa râm bồng bềnh rất nghệ sĩ đứng bên cửa sổ phòng khách là thi sĩ Viễn Mơ. Đó là một con người thật giản dị, thích thả hồn theo mây gió hơn là đứng trên bục giảng. Ôâng xem đời tựa mây khói, hợp tan. Dù là một giáo sư tiến sĩ toán nhưng ông lại không giải nổi những con toán đơn giản của gia đình, khi mà cuộc đời còn quá nhiều ẩn số! Dù tuổi đã ngoài sáu mươi nhưng trông ông rất trẻ, trên môi lúc nào cũng nở nụ cười…nào ai biết, có những niềm đau đã ẩn dấu trên môi?! Ngoài toán ra, ông còn rất thông thạo về nhiều ngoại ngữ, cứ mỗi lần có thi hứng, ông lại ứng khẩu dăm câu thơ "liên ngữ" Hán, Nôm, Anh, Pháp, Đức…Ông thích làm thơ chẳng phải để trở thành thi sĩ, nhưng vẫn cảm thấy hài lòng khi người ta gọi mình là thi nhân. Ông giải thích:

“-Học để lấy bằng cấp tuy có khó thật, nhưng chỉ cần cố gắng chịu khó, học năm nay không đỗ thì sang năm, học riết rồi cũng đỗ, Chứ làm thơ là phải do thiên phú, người làm thơ vốn có sẵn năng khiếu, cần đọc sách nhiều trau dồi kiến thức, bài thơ sẽ đẹp và sâu sắc. Nhưng nếu là nhà thơ chân chính thì phải có tâm hồn và phong cách thanh cao! ". Bạn bè có kẻ chê, người phục nên có lần ông bị hỏi:

“-Ông quả đúng với cái tên Viễn Mơ, làm thơ đã khó hiểu, lại pha trộn ngôn ngữ, thế thì ai cảm được?!”

Mặc dù biết mình đang bị diễu cợt, nhưng thi sĩ Viễn Mơ vẫn mỉm cười và nhỏ nhẹ trả lời:

“-Thơ là ngôn ngữ của ngôn ngữ, là nghệ thuật của nghệ thuật, do đó việc sử dụng liên ngữ trong thi ca là lẽ tự nhiên, làm đẹp ngữ nghĩa. Hơn nữa, thơ là tiếng nói của tâm hồn, chỉ cần xin các ông bỏ những bằng cấp của các ông ở nhà, nhớ khóakỹ cửa lại, rồi đến đây xin lắng tâm hồn xuống cùng tầng số với tâm hồn tôi để nghe tiếng thơ…thì các ông sẽ hiểu ngay!”

 Một người bạn trong nhóm, khôi hài nói:

“-Chúng tôi mà thả hồn theo ông thì lạc quách cả lối về…người ta lại tưởng một lũ điên dạo phố thì chết!”

Cả nhóm ồ lên cười.

       Tiếng động của chiếc phi cơ bay ngang làm chuột Lắt hoảng sợ tưởng có người trèo lên bắt nên phóng vào góc bàn thờ nằm im làm đổ chiếc bình đựng hoa. Mọi người cùng buột miệng:

“-Chuột! Chuột!”

Đốc tờ Xanh Lơ đứng phắt dậy, hỏi:

“-Nhà cụ Giáo có chuột?”

Vị giáo sư già gật đầu nói:

“-Nhà nầy có chuột, các anh ạ! …Ổ của nó là cái kho ngoài kia kìa…”

Thi sĩ Viễn Mơ vỗ đùi cười rú:

“-Nhiều lúc sống với chuột còn khá hơn sống với người đấy, các cụ ạ!”

Nhạc sĩ Bùi Trần chen:

“-Thế thì cụ Giáo tha hồ nghe tấu khúc bốn mùa!”

Đốc tờ Xanh Lơ nhăn mặt:

“-Moi nói thật, trong đời…moi ghét nhất là chuột, thứ nhì là đỉa, thứ ba mới tới rắn!”

“-Thế ông không sợ cọp, beo hả?” Nhạc sĩ Bùi Trần hỏi.

“-Là người ai mà chẳng có nỗi sợ riêng, cọp beo tuy dữ nhưng nó biết thân phận nên ở mãi tận rừng sâu, ai vào đó đâu…mà sợ…còn rắn có loài độc, có loài không…dù là loài độc, mình có đạp lên nó mới mổ…đỉa là loài hút máu, lại rất dai, nhưng vẫn diệt được…chỉ có loài chuột là bẩn thỉu không những nó gây bệnh dịch hạch còn chui vào nhà người phá phách!”

Nhạc sĩ Bùi Trần phá lên cười:

“-Nói như ông trên cõi đời này đâu chỉ có loài chuột…thế…bộ người không bẩn, không phá hoại sao?!”

“-Đúng như thế những thứ được gọï là bẩn và phá hoại thì đều đáng tởm cả ông ạ!”

Nói xong Xanh Lơ quay lại hỏi:

“-Cụ Giáo đã có cách nào diệt chuột chưa? Cụ tính nuôi đồ ăn hại đó mãi sao?”

Cụ Giáo uống hớp nước trà và chậm rãi trả lời một hơi:

“-Chẳng dấu gì các anh, tôi cũng muốn diệt quách cái loài phá hoại đó đi, khổ nỗi nó đông quá! …diệt con nầy thì nó lại sinh con khác, có khi còn dữ và phá hơn. Chỉ mới réo đến tên nó, vậy mà nó đã chui vào tủ cắn thủng mấy bộ đồ…, lại còn leo lên cả bàn thờ ông bà mình nữa chứ…Đừng xem thường nó, các anh ạ!”

Nhạc sĩ Bùi Trần đề nghị:

“-Muốn chuột khỏi phá bàn thờ chỉ có cách dời bàn thờ đi chỗ khác, chuột sẽ mất dấu, nói theo cách mới là "thất nghiệp".

-“Không được đâu, anh ạ…Ai lại dời bàn thờ gia tiên đi chỉ vì một con chuột?!”

Đốc tờ Xanh Lơ lắc đầu khua tay nói:

“-Ông tưởng dời đi mà được  yên sao?…dời đi chỗ nào mà hủi không bò đến!”

Nhạc sĩ Bùi Trần rít hơi thuốc, mắt lim dim hỏi:

“-Thế ông đã nghĩ được cách gì chưa?”

“-Theo moi nên kiếm một tay thiện xạ trong đám bạn cũ, độp một phát là 'toi đời' nhà chuột!”

Cụ Giáo hoảng lên, xua tay:

“-Ấy chết không được đâu, anh Đốc ạ!”

“-Cụ sợ gì chứ?”, nhạc sĩ Bùi Trần hỏi.

“-Xin các anh bớt nóng, biện pháp ấy không được đâu…vả lại tôi e rằng lâu ngày các ông ấy không còn dùng đến súng, lỡ bắn trật lại trúng vào di ảnh của ông bà tôi thì tội chết….”

Mặt đốc tờ Xanh Lơ đổi sắc, kéo gân cổ nói:

“-Cụ khinh chúng tôi quá!”

Cụ Giáo ôn tồn nói:

“-Ấy chết nào ai dám nghĩ thế!”

Nhạc sĩ Bùi Trần nói chen vào:

“-Sá gì con chuột Lắt mà tốn viên đạn, tôi đề nghị làm một con chuột khổng lồ bằng giấy, đặt ở dưới bếp, lần sau chuột lắt có chui vào nhà sẽ ngán mà cút mất vì thấy sư  tổ loài chuột đang chực ở đấy.”

Cụ Giáo bỏ tách trà xuống bàn, lắc đầu nguây nguẩy:

“-Đã tởm không muốn nhìn cái mặt chuột…, ai mà lại làm hình nộm chuột. Nhìn thấy nó mà bực mình chết sớm hả?!”

Đốc tờ Xanh Lơ bỗng vỗ đùi kêu cái đét, đứng dậy, nét mặt nghiêm nghị:

“-Các ông hở một tí là sợ thì sao lũ chuột nó không lộng hành được!”

Đôi mắt của Đốc tờ Xanh Lơ bỗng sáng quắc, ông lướt tia nhìn chậm rãi vào ánh mắt từng người và đanh mặt nói:

“-Chỉ còn cách đốt quách căn nhà này đi thì đám chuột cháy queo râu….và cả họ nhà chuột sẽ bơ vơ, chẳng còn cơ hội phá bàn thờ tổ tiên nữa!”

Cụ Giáo cười ha hả nói:

“-Ối giời ơi! anh Đốc sắp điên rồi!…Xin anh! Nếu đốt căn nhà này không những ở tù mà mình lại phạm tội đốt bàn thờ tổ tiên!”

Đốc tờ Xanh Lơ cũng cười ha hả nói:

“-Cụ lại sợ không có chỗ ở hay sao?…Xin cụ yên tâm. Nói thì nói vậy…đâu lẽ chỉ vì một con chuột nhắt mà đốt nhà cụ?”

Mọi người quay sang nhìn thi sĩ Viễn Mơ đang trầm ngâm suy tư. Đốc tờ Xanh Lơ hỏi:

“-Sao ông Viễn Mơ suốt nãy giờ lại im lặng thế …đang làm thơ hả?”

Thi sĩ Viễn Mơ bẽn lẽn, nhỏ nhẹ:

“-Các ông bàn đến chuột mà tôi phát ngấy…Chuột hai chân vừa nhanh vừa gian ác…nhan nhãn khắp nơi sao không thấy ai đề nghị diệt?!”

Đốc tờ Xanh Lơ cười nói:

“-Đám chuột ấy mà bị diệt, thiếu gì kẻ phải tự tử vì bị phá sản nghề buôn chuôt…”

Mọi người cùng phá lên cười. Thi sĩ hắng giọng, nghiêm mặt nói:

          “-Theo tôi…những gì thuộc về tính chuột, các vị đã bàn, do đó chỉ cần cho chuột ăn những món ăn của chuột; chẳng hạn chuột Chù vì hôi nên thích hào nhoáng thì cho nó món ăn có hình dạng mề đay và cái tên rất kêu…Chuột Cống ở bẩn lại thích ăn thịt đồng loại thì món ăn có hình đô la…Nhất là phải cho chúng ăn no, chỉ một thời gian, tôi tin nó sẽ mập ú, to lớn và nặng nề…lúc đó vì thân xác phì nộn, khệnh khạng, nó sẽ không thể nào leo lên bàn thờ được!”

Cụ Giáo cười rú lên:

“-Tôi hiểu rồi…Lúc đó nó sẽ là con chó con, con mèo trong nhà!”

Nhạc sĩ Bùi Trần thêm vào:

“-Nó hôi quá chó mèo nào chịu nổi nó!”

Đốc tờ Xanh Lơ vút giọng từng tiếng:

“-Lúc đó chó mèo sẽ xúm vào đuổi nó đi, các cụ ạ!”

 

    Chuột Lắt suốt nãy giờ nằm im, thấy mọi người mải mê tranh luận, không ai chú ý nên phóng cái ào xuống sàn nhà và thoắt mình biến qua cửa sổ trước sự ngơ ngác của bao cặp mắt người. Cụ Giáo la lên:

“-Ấy, đấy…các ông thấy chưa ? Bàn mãi cách diệt chuột mà nó..nó nằm sẵn trên bàn thờ từ lúc nào rồi!….”

Thi sĩ Viễn Mơ cười rú lên :

“-Tôi đã nói rồi…chuột và người là hai thực thể không thể tách rời nhau được!”

Cụ Giáo bần thần chưa biết nói gì thêm, mặt xịu xuống như cố nén một ít nhiều bực bội.

 

     Tiếng động cơ của những chiếc xe ủi và cần trục nổ dòn đang phá sập khu nhà kho, làm náo động cả bầu không khí bên ngoài, cụ Giáo mở cửa bước ra xem.

“-Chào cụ Giáo!”

“-Ai đó?”

“-Cháu Sơn đây mà!”

“-À, cậu Sơn ! Xin lỗi, ồn quá tôi không nghe rõ ! Cậu đang làm gì thế?”

“-Dạ, Cháu coi công xưởng nầy. Cháu đang cho nhân viên phá sập khu nhà kho để thiết lập một cơ sở thương mại nơi đây.”

“-À, ra thế!”

“ Khoảng đất hôi hám quá ! Mà ..chuột, chao ôi, sao nhiều quá ! Chúng có hay vào phá nhà Cụ không?”

“-Tránh sao khỏi! Chúng leo lên cả bàn thờ gặm nhắm hết cả các đĩa trái cây, còn làm đổ cả các tấm hình ông bà…”

“-Cụ yên tâm. Lần nầy chúng không còn vào phá nhà cụ nữa đâu. Chúng bị xe ủi đất cùng hai xe cần trục cán chết vô số, còn lại một ít, chắc phải tìm chỗ xa nào khác….”

“-Tốt quá!  Cảm ơn Trời Phật.  Cậu có rảnh vào xơi chén nước, nói chuyện cho vui…”

“-Cám ơn Cụ. Cụ cho lát nữa, ủi xong chỗ nầy, con sẽ vào hầu chuyện cụ.”

Cụ Giáo bước vào nhà, mặt mày hớn hở:

“- Các anh ơi…Khỏi lo, khỏi lo nữa rồi…”

“-Sao? Cụ đã tìm ra được cách diệt chuột?”

“-Không. Có điều chúng sẽ không còn ở đây được…Căn nhà kho chứa đầy chuột bọ tồn tại cả gần thế kỷ nay bị cáo chung chỉ vì người ta sẽ biến khu đất hoang nầy thành một trung tâm thương mại!…”

Đốc tờ Xanh Lơ cười ha hả:

“-Thế là toi đời lũ chuột!…Chỉ có kinh tế thị trường là diệt được chuột…ha ..ha…”

Cụ Giáo liếc nhìn lên bàn thờ mà lòng cảm thấy nhẹ nhõm như trút được mối sầu.

    Trong bãi rác của một khu vực chung cư khác. Hai mẹ con chuột Lắt đang nằm vật ra thở dốc:

“Thật là khủng khiếp như động đất mẹ ạ !… Xúyt ..tí nữa là con… xẹp lép rồi! »

« Mẹ cũng thế ! Lúc đoàn xe ủi đến, mẹ chỉ lo cho con không chạy kịp dưới sự xốc xới của bọn gian ác!»

« Bây giờ con mới thấy loài người quá thâm hiểm và gian ác! Họ chỉ muốn tiêu diệt hết loài chuột của mình! »

«Con ơi! Llàm sao họ tiêu diệt hết được, vì trên cõi đời ngày nào còn những nơi trú ngụ như hang hốc, cống rãnh, rác rưởi và sự vụng trộm thì ngày ấy chúng ta vẫn còn đất sống!»

« Ha...ha..ha.. Vậy con cũng giống người? »

« Cũng gần như thế. Họ là chuột hai chân, còn ta là người bốn chân đấy con!»              

          Căn phòng cụ Giáo lại vang tiếng cười nói như pháo. Bên ngoài mấy cành liễu mơn trớn mấy nụ hoa. Dưới dãy tòa nhà cao tầng, những vạt nắng chiều xiêng xiêng loang góc phố và khu công viên những sợi nắng vàng lung linh trải dài trên thảm cỏ biếc. Trong vũng sáng đậm sắc màu quê hương ấy… thoảng có niềm đau !./.


Đỗ Bình