Popular Posts

Friday, December 25, 2015

Chuyện Ngắn Duy Hân - Kẹo





Duy Hân và gia đình xin mến chúc quý tu sĩ nam nữ, quý cô bác, anh chị em & các cháu một Giáng Sinh và Năm Mới 2016 tràn đầy sức khỏe, niềm vui.
~~~~~~~~~~~~~~~

Mong ông già Noel sẽ mang tới tặng mỗi người một bao thật to đựng đầy thời gian. Với nhiều thì giờ, chúng ta sẽ đủ kiên nhẫn để tỏ lộ sự yêu thương, quan tâm tới người trong gia đình rồi tới tha nhân và quê hương. Với nhiều thì giờ, chúng ta sẽ không bị căng thẳng mất bình tĩnh với người khác, và hằng ngày sẽ có giờ ngồi nghiệm lại những việc tốt mình đã làm để mỉm cười....

Đầu năm, xin gởi quý anh chị xem thử Lịch Cờ Vàng 2016 của gia đình Duy Hân, xin mở PDF file đính kèm hoặc bấm vào link Youtube:


Thơ Trịnh Tây Ninh - Ông già Noel

Ông già Noel ơi
từ Bắc cực xa xôi
ông mang quà đi phát
thì nhớ ghé đây chơi
 
Việt
Nam rất xa xôi
nóng và khổ muôn đời
lại mới thêm lụt lội
ông sẽ khóc cho coi !
 
Em cũng đã không vui
mấy mùa Noel rồi
áo, cơm không đủ ấm
mẹ em ....cũng chịu thôi !
 
Bố em đã mất rồi
trong chiến trận mù khơi
thê lương và đổ nát
niềm thương nhớ nào vơi
 
Em ngước mắt lên trời
ngắm vì sao chơi vơi
sao hôm còn lấp lánh
lệ còn tràn mắt môi
 
Ông có ghé đây chơi
cho em nhắn đôi lời
xin mang theo khăn thắm
lau lệ sầu muôn nơi
 
Nhưng già Noel ơi
trong u sầu tả tơi
em vẫn mong vẫn đợi
một niềm tin lên ngôi
 
Em tin Đấng trên Trời
sẽ ban muôn muôn lời
Hồng ân và an ủi
kiếp khó nghèo, đơn côi
 
Ông nhớ ghé đây chơi
ông già Noel ơi
Giáng sinh đã đến rồi
vui lên đi, người ơi !!



Chuyện Ngắn Duy Hân - Kẹo


Kẹo tiếng Anh là candy, tiếng Pháp là bon bon, tiếng Ý là caramelle, tiếng Bồ đào nha là doces, tiếng Tàu là tòng cổ. Riêng tại Việt nam, kẹo có rất nhiều loại, nhiều nghĩa. Kẹo que để mút, kẹo bạc hà để ngậm, kẹo gum để nhai, kẹo mè xửng, kẹo gừng, kẹo chuối, kẹo ... hầm bà lằng đủ thứ. Kẹo thắng bằng đường để ra nước mầu kho thịt, người Bắc gọi là kẹo đắng. Khi ghen tương giận dữ, người ta có thể cho tình địch ăn một viên kẹo đồng. Câu chuyện xảy ra hồi Noel năm ngoái mà tôi sắp kể ra đây, cũng có liên hệ đến kẹo, nhưng là một loại kẹo khác: Kẹo ... kéo!!
 
Kẹo kéo theo nghĩa bình thường là lọai kẹo dẻo, trắng, dễ kéo dài uốn nắn, có lấm tấm đậu phọng ăn rất thơm ngon. Thuở còn đi học tôi mê món kẹo này lắm, lâu lâu được cho tiền ăn quà là tôi mua ngay lấy một miếng nhâm nhi. Gương mặt và bàn tay của ông bán kẹo kéo đến giờ tôi vẫn nhớ. Nhưng miếng kẹo kéo mà tôi có được Noel năm ngoái không dễ nuốt như vậy. Nó có chút hương vị đắng cay, lo lắng, bồi hồi nhưng kết cuộc cũng không kém phần ngọt ngào, đáng nhớ. Thôi để tôi kể huỵch toẹt ra cho rồi, kẻo mất thì giờ của quý vị.
 
Số là gia đình tôi từ thuở ban đầu đã có chút gì lộn xộn, trật vuột. Chàng gốc người Trung nhưng nói tiếng Bắc, còn tôi là gái Bắc nhưng nói tiếng
Nam. Trong nhà vô tình chia ra hai phe. Tôi và đứa con gái lớn mang quốc tịch Mỹ, thích ăn ngọt, tính tình chậm chạp, hạp rơ với nhau hơn. Chàng và đứa con gái nhỏ lại có quốc tịch Canada, thích ăn mặn, cách làm việc lanh lẹ, dứt khoát. Đứa con thứ nhất da đen ngăm, mắt tròn xoe nhìn giống như Phi-luật-tân. Đứa thứ hai lại tròn trĩnh, mắt một mí nên trông như lai Tàu.
 
Tuy lộn xộn thế nhưng gia đình tôi nói chung rất đuề huề, hạnh phúc. Thỉnh thoảng cũng có lúc canh không ngọt, cơm không lành nhưng giận nhau tối đa một tuần là ... đình chiến. Hai bé Trâm và Kim cũng tương đối ngoan ngoãn, thông minh nên dù nghèo chúng tôi cũng không lấy làm buồn phiền, than thân trách phận. Chúa cho chúng tôi rời được Việt nam, mới đầu đứa đi Mỹ, đứa ở Canada, bây giờ được đoàn tụ vui vẻ, thì lý nào lại than thở khen chê. Chỉ có cái tôi chưa xin được giấy phép đi làm ở
Canada, còn ở nhà trông con nên đôi lúc cũng thấy buồn, mang mặc cảm vô dụng, nhất là kinh tế gia đình có phần eo hẹp, chỉ sống bám vào đồng lương căn bản của chàng.
 
Đúng ra, tính tôi còn kẹo hơn tính chàng nhiều, vì lúc ở Việt Nam sống tại tỉnh nhỏ, gia đình không khá giả gì, ba má tôi lại luôn khuyên nhủ phải tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn, nên tính hà tiện đã đi sâu vào tâm huyết, khó mà tẩy rửa. Bắc kỳ ăn cá rô cây! Xài chút gì tôi cũng thấy phí chưa cần thiết, luôn tính toán so đo, suy nghĩ nếu ráng để dành sau này mua cái khác cần thiết hơn sẽ có lợi hơn (nhưng hiếm khi nào tôi mua cho mình cái khác đó) Chàng rộng rãi hơn, thích đồ đẹp, thích đi ăn tiệm, nhưng dưới sự kiểm soát của tôi và hoàn cảnh gia đình, chàng cũng không được rộng tay xài thoải mái. Nói không phải tự khen mình, nhưng nếu không nhờ tôi, làm sao gia đình có đồng ra đồng vào, không phải vay nợ hoặc cà visa thê thảm. Một đầu lương mà 4 miệng ăn, lại phải giúp người ở VN, đâu phải chuyện dễ. Bé Kim hình như cũng thừa hưởng được bản tính hà tiện di truyền, nên rất căn cơ, khôn trước tuổi. Hễ cầm tờ báo quảng cáo lên thấy món gì ưng ý, câu đầu tiên cháu hỏi là giá bao nhiêu vậy mẹ, và dù tôi trả lời bất kỳ con số nào khác với 99 cents, cháu cũng đều chê mắc không chịu mua.
 

Có hôm trên đường lái xe đến nhà thờ, bé nhờ tôi lấy dùm tờ khăn giấy để nhả miếng kẹo gum trong miệng ra, tôi tiếc tờ napkin trắng nõn nên lục lọi trong túi đưa cho bé tờ giấy hóa đơn tính tiền để thay thế. Ai lại tự nhiên vứt tờ khăn giấy mới tinh vào thùng rác bao giờ! Kim cầm tờ bill trên tay lẩm bẩm:
-Giấy này phía sau còn trắng, có thể để dành vẽ hình được. Thôi để con ráng ngậm thêm hồi nữa, đến thùng rác nhà thờ mới nhả ra!
Chàng phá ra cười:
-Mẹ con nhà trùm sò, thấy bắt sợ!
 
Cũng có lần đọc báo thấy kể chuyện người ta dám bỏ ra $100 để mua một muổng cafe trứng cá, loại cavier gì đó để ăn, tôi đã tiếc rẻ:
-Trời ơi, ăn chỉ có chút xíu mà phải đi làm cả buổi để bù vào. Em mà có $100, đãi cả nhà đi ăn phở cũng còn dư, tô nào tô nấy bự chẳng, no cả ngày.
Xong rồi chưa đủ phê, tôi tự động sửa lại:
-Mà thôi cũng chẳng cần đi tiệm phở làm gì cho tốn công, tốn tiền hao xăng. Đưa $100 ấy cho em, em mua cả đống xương về hầm phở lấy, được tới cả chục nồi.
Có lần đi shopping ngang qua tiệm cafe Second cup, thấy mùi thơm quá tôi buột miệng khen:
-Cafe thơm quá.
Chàng tấp vào ngay định mua hai ly, tôi hãi hùng ngăn cản:
-Họ bán gần $5 một ly, mua làm gì?
Chàng ngạc nhiên hỏi lại:
-Chính em nói thơm mà!
-Em nói thơm, chứ em đâu có nói mua. Muốn uống cafe phin về nhà em pha, thơm ngon có kém gì đâu!
 
Chàng và Trâm cười khúc khích, ra điều tôi quá đáng. Qua tới Âu Mỹ rồi, tôi cũng không thích kẹo kéo làm gì, nhưng ăn theo thuở ở theo thì, chừng nào tôi có giấy tờ đi làm lúc ấy sẽ tính. Tôi tự biện hộ cho mình: Kẹo với nhau trong nhà thì OK, miễn ra đường cũng đóng góp đàng hoàng vào chuyện chung, quà cáp tặng người ngoài cho phải phép là được rồi. Vả lại đàn bà Việt nam có căn cơ chút đỉnh cũng không sao, coi như bản tính tốt, đàn ông mà riết róng keo kiệt quá mới kỳ cục. Chân lý trên đời là chỉ đàn bà mới được độc quyền kẹo, đàn ông không thể xâm phạm quyền này!
 
Có lần tôi đi dự đám cưới người bạn thân, cũng nổi hứng đi tiệm làm móng tay, móng chân cho le lói. Làm gần xong tôi mới hối hận. Nó vừa khó chịu, vừa bất tiện lại tốn thêm tiền. Của đáng tội, mới đầu nghe bà chủ tiệm « neo » dụ chỉ tốn $5, tôi cứ tường là giá cho nguyên bàn tay, quên rằng bàn tay có 5 ngón, vì họ tính riêng $5 mỗi ngón. Khi biết ra thì đã lỡ rồi, đâu có rút lại được. Không lẽ làm một tay và để nguyên một tay!! Báo hại trong đám cưới tôi cứ sòng sành, cử động hai bàn tay liên tục để các bà chú ý vào bộ móng mới. Biết vậy để tiền bới tóc còn sướng hơn, làm tóc người khác không cần chú ý lắm cũng thấy ngay. Làm móng tay cũng tốn bằng ấy tiền mà ít ai biết tới. Thật là dại dột, tiếc tiền ruột đau như cắt.
 
Thế nhưng không hiểu hà tiện có máu lây hay sao, mà gần đây chính chàng lại cũng tằn tiện hơn nhiều, khác hẳn với tính khí trước kia. Chàng đã vi phạm quyền hà tiện của đàn bà một cách thô bạo. Đi chợ tôi lấy thứ này bỏ vào xe, chàng tính toán và bỏ ra lấy thứ khác. Có lần phải mua bộ đồ mùa đông cho bé Kim, ngày hôm sau thấy flyer quảng cáo giá giảm xuống còn 50%, chàng đã lặn lội lái xe đi trả rồi mua lại đúng bộ đó với giá mới, bớt được 50%. Trước đây nếu tôi nẩy ra “idea” này thì chính chàng sẽ càm ràm, không bao giờ chịu đi đổi. Chàng lại không muốn đi ra ngoài ăn nữa, dù chính tôi đề nghị. Rồi chuyện này đến chuyện khác, tự nhiên tôi đâm ra lo và thấy ớn người hà tiện quá. Đàn ông mà kẹo kéo sao thấy không giống ai. Hơn nữa gần đây chàng lại dở chứng không đưa tiền cho tôi giữ. Tôi cũng tự ái không muốn mở miệng ra hỏi. Anh đi làm overtime nhiều hơn, về trễ hơn nhưng không nói năng gì đến tiền thặng dư, mặt khác lại cẩn trọng trong việc tiêu tiền hơn nữa. Tôi bỗng lạnh mình. Trời ơi, có thể chàng đang có vợ bé, hoặc có con rơi con rớt ở đâu cần phải support. Thiếu gì những chuyện đàn ông đổi tính dở quẻ, mang của nợ về bắt vợ nuôi hoặc tự động gởi giấy ly dị về bắt vợ ký, dù không hề có dấu hiệu mèo mỡ gì khả nghi báo trước. Tôi hết sức rầu rĩ, ngày nào cũng rờ rẫm, lục soát, hít ngửi quần áo chàng nhưng chàng dấu rất kỹ, tôi chưa bắt gặp bằng chứng rõ ràng.
 
Khuôn mặt chàng từ lúc bắt đầu biết tính toán, keo kiệt trông tối tăm hẳn ra, không thấy oai vệ phương phi như trước nữa. Chàng lại úp úp mở mở thật là khả nghi, tôi vặn vẹo, điều tra thế nào cũng không xong. Chàng lại còn tuyên bố là dù có vợ nhỏ, chàng cũng sẽ không bỏ tôi đâu mà sẽ cưới luôn hai em cho trọn nghĩa!
 
Lễ Giáng sinh đã gần tới, nhưng tôi không còn lòng dạ nào để trang trí, nấu nướng tiệc tùng. Năm nay thôi nghỉ mừng lễ một lần, chờ chàng đổi tánh hay công việc ngả ngủ ra sao rồi hãy tính. Cùng lắm thì ly thân thôi chứ gì. Tôi không thích ràng buộc nhau khi tình đã hết, tại sao lại phải van xin chút tình cảm thừa? Chàng chê cơm nguội thì dù khi đói lòng, cũng đừng hòng tôi tha thứ. Công nhận gần đây tôi gầy đi và xấu hẳn. Thôi cũng đành! Tội nghiệp Trâm và Kim, hai đứa thấy ba má có gì đó trục trặc, nghi ngờ quạu quọ với nhau, nên cũng ít cười đùa, ca hát như trước. Chúng hay tròn xoe mắt nhìn thái độ dò hỏi, bực bội của chúng tôi.
Đêm vọng Giáng sinh, chắc không chịu được không khí căng thẳng, tẻ lạnh, chàng thay quần áo bảo tôi sửa soạn đi lễ. Tôi chua chát:
-Không vui thì đi lễ đêm làm gì? Trời lại lạnh quá, thôi để mai đi lễ trưa cho tiện.
Chàng nhất định bắt buộc tôi phải đi, đi thì đi đâu có sao, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Với tôi, sự đổi tính và thái độ dấu giếm gian dối của chàng mới là quan trọng, còn đi lễ hay không chỉ là chuyện nhỏ.
 
Vào nhà thờ, nghe nhạc vọng Giáng Sinh đầm ấm rộn ràng mà tôi muốn khóc. Chúa Hài đồng sinh ra trong đói rách khó hèn, nhưng gia đình Thánh Gia luôn ấm cúng yêu thương. Còn gia đình nhỏ bé của tôi, chỉ giống được Thánh gia ở chỗ ... khó hèn chật vật, nhưng hạnh phúc gần đây tự nhiên biến mất, tất cả chỉ vì chàng!
 
Lễ xong, tôi cũng cố gắng vui vẻ dọn thức ăn cho gia đình ăn reveillion, rồi thúc Trâm và Kim khui quà. Vì tình trạng kinh tế gia đình cắt giảm, quà của hai bé năm nay rất đơn sơ, nhưng hy vọng chúng cũng sẽ vui vì dẫu có buồn chàng, tôi vẫn luôn yêu thương, chăm sóc hai con hết lòng, chắc chắn chúng cảm nhận được. Nói dại, sau này có chia hai chàng đi ở với vợ bé, tôi sẽ dành quyền nuôi con, nhất định không chia cho chàng đứa nào.
 
Suy nghĩ miên man, tôi ăn không vô. Chàng thì cứ cười cười làm như hiền lành ngây thơ vô số tội, bảo tôi đi mở quà. Tôi chán ngấy, già cả rồi còn quà cáp chi cho lôi thôi, những Noel trước chúng tôi làm gì có lệ tặng quà cho nhau. Lo quà cho con, cho cháu còn chưa xuể nói chi là cho người lớn. Trước tiếng vỗ tay reo hò của con, tôi đành miễn cưỡng khui hộp giấy to tướng - nhưng nhẹ tênh. Trong hộp giấy to là hộp giấy nhỏ, trong hộp giấy nhỏ là hộp giấy nhỏ hơn, Trâm và Kim thích thú reo hò, hồi hộp chờ đợi. Cuối cùng, trong chiếc hộp nhỏ xíu, một chiếc nhẫn kim cương xinh xắn, sáng lóng lánh hiện ra. Tôi lặng người đọc kỹ tờ thiệp gời kèm:
 
Em yêu,
Dành cho em một sự ngạc nhiên. Lâu rồi thấy vợ chồng mình bận rộn, lo lắng nhiều thứ, em lại tằn tiện cực khổ rất nhiều, nên anh cố gắng làm thêm giờ, hà tiện còn hơn trùm sò, mới mua được chiếc nhẫn này đây, diamond is forever, em đeo nó để nghĩ tới tình anh và con đã hãm mình ép xác trong mấy tháng vừa qua...
 
Nước mắt tôi rơi lả tả trên chiếc nhẫn hột xoàn - có lẽ không lớn lắm so với người khác - nhưng thật là vĩ đại với tôi. Tôi nhớ lâu lắm rồi tôi có trêu chàng là đàn bà ai cũng thích đàn ông cho mình cái hột vừa to vừa cứng, mà có lẽ tôi là người duy nhất chưa hề làm chủ hột nào, dù bé tí xíu. Lúc ấy tôi chỉ giỡn chơi thôi, chứ không cố ý đòi hỏi gì vì tôi hiểu hoàn cảnh gia đình, đâu muốn làm khó chàng.
 
Chàng cười tươi, ánh mắt sáng ngời, lấy tay lau nước mắt cho tôi:
-Được quà Giáng sinh ai lại khóc bao giờ, coi chừng con nó cười cho. Đạt được mục đích rồi anh mừng quá, từ nay không phải kéo kẹo kéo nữa!
 
Tôi vừa mừng vừa xấu hổ, hối hận vì đã nghĩ xấu cho chàng, nước mắt rớt xuống nhiều hơn, giọt nào giọt nấy to tướng ướt đẫm chiếc cà rá hột xoàn.
 
Ngoài sân, ánh đèn Noel như lấp lánh hơn, huy hoàng hơn, tiếng chuông đổ xa xa từ thánh đường kế bên vọng về như nhắc nhở mủa Hồng ân, Tin yêu đang đến ....
Nguyễn Ngọc Duy Hân
​
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
This email has been sent from a virus-free computer protected by Avast.
www.avast.com
__._,_.___

Posted by: "Nhat Lung" 

Wednesday, December 23, 2015

Những nhà thờ đẹp nhất để đón Noel ở Sài Gòn

 


----- Forwarded Message -----
From: Hien Do <
To:
Sent: Tuesday, December 22, 2015 6:31 AM
Subject: 1 DĐKTTG Những nhà thờ đẹp nhất để đón Noel ở Sài Gòn

Những nhà thờ đẹp nhất để đón Noel ở Sài Gòn


Thứ Hai, ngày 21/12/2015 
Sự kiện: NOEL 2015
Vào dịp Giáng sinh, các nhà thờ ở Sài Gòn lộng lẫy với đèn điện ấp áp, hang đá, cây thông rực rỡ.

Nhà thờ Đức Bà
Nhà thờ có quy mô lớn, cổ xưa và đặc sắc nhất thành phố. Trong quá trình xây dựng, toàn bộ vật liệu xây dựng từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang.
 Nha tho dep o Sai Gon - 1
Nhà thờ Đức Bà nằm tại đường Đồng Khởi, quận 1

Ngôi nhà thờ xây bằng gạch ngói Marseille, kính màu và khung sườn thép mang từ Pháp sang kết hợp với đá xanh Biên Hòa. Các ô cửa cuốn tròn kiểu Roman cùng cung vòm gãy kiểu Gothique gợi nhớ tới thánh đường lớn ở Paris.
Nhà thờ Đức Bà hoàn toàn không có chỗ cho nến (đèn cầy) mà được chiếu sáng hoàn toàn bằng đèn điện ngay từ khi xây dựng. Ngày nay, nhà thờ Đức Bà không chỉ là nơi hành lễ của người công giáo mà còn trở thành một biểu tượng quen thuộc của người dân Sài Gòn, là một điểm tham quan yêu thích của mỗi du khách đến với Sài Gòn.

Nhà thờ Huyện Sĩ - 1 Tôn Thất Tùng, Q.1
 nha tho dep nhat sai gon - 2

Tọa lạc trên một khu đất cao và rộng hơn một mẫu, nằm ở góc đường Frère Louis (nay là đường Nguyễn Trãi) và Frère Guilleraut (nay là đường Tôn Thất Tùng), nhà thờ Huyện Sĩ hiện là một trong những ngôi nhà thờ có khuôn viên thoáng đãng nhất Sài Gòn.
Nhà thờ Huyện Sĩ được xây theo nguyên mẫu nhà thờ nhỏ ở Pháp. Nhà thờ được xây dựng theo phong cách kiến trúc tân Gothique. Đây là một trong số ít công trình sử dụng vật liệu đá granít Biên Hòa, tại mặt tiền, đế và các cột chính điện. Loại đá này rất cứng nên không có các chi tiết trang trí truyền thống nhưng lại thể hiện ý muốn phô trương sự giàu có.
Nhà thờ do ông Lê Phát Ðạt (ông ngoại của Hoàng hậu Nam Phương), tức Huyện Sỹ một trong tứ đại hào phú Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định) hiến đất và bỏ tiền ra xây dựng. Công trình được hoàn thành năm1905.

Nhà thờ Tân Định - 289 Hai Bà Trưng, Q. 3
 dia diem di choi noel o sai gon - 3

Tọa lạc trên con đường Hai Bà Trưng nhộn nhịp, nhà thờ Tân Định là một trong những kiến trúc đẹp nhất của Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng thể kiến trúc mang phong cách Gothic kết hợp Roman, pha chút Baroque ở những nét trang trí. Màu sơn hồng và những đường nét hoa văn trang trí màu trắng làm cho toàn bộ công trình nổi bật trên nền trời xanh, tạo một vẻ lộng lẫy và tươi mới.
Nhìn từ phía mặt tiền, du khách có thể thấy tòa tháp chính và hai tháp phụ. Hai bên tháp phụ có những tháp đèn, có nhiều lỗ thông gió và những hoa văn tạo vẻ vững chãi, rất duyên dáng. Hai dãy hành lang có mái vòm, lợp ngói vảy cá, những ô cửa tròn với hoa lá trang trí, tượng thiên thần rất tinh xảo.
Thánh đường bên trong khá bề thế với hai hàng cột Gothic, dẫn tới bàn thờ chính. Cùng với mặt tiền, hai hàng cột này được đánh giá là những nét đẹp nhất trong cả công trình kiến trúc. Hàng cột biên bên trái là tượng các thánh nữ, bên phải là tượng các thánh nam. Các bàn thờ trong thánh đường được làm bằng đá quý đưa từ Ý sang.

Nhà thờ Cha Tam - 25 Học Lạc, Q.5
 Những nhà thờ đẹp nhất để đón Noel ở Sài Gòn - 4

Nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn khá đặc biệt bởi sự hòa trộn độc đáo, thú vị giữa kiến trúc và văn hóa Đông, Tây. Giống như các nhà thờ ở Châu Âu, nhà thờ Cha Tam được xây dựng lối kiến trúc Gothique, nhưng các yếu tố văn hóa Hoa vẫn được coi trọng. Như cổng nhà thờ xây kiểu tam quan, tên nhà thờ ghi bằng chữ Hán, mái lợp ngói âm dương, các đầu đao cong, hai bên cây thánh giá, có hai con cá chép... bốn cây cột nơi chính điện sơn đỏ, là màu không phổ biến trong nhà thờ Công giáo. Nơi treo hình tượng Chúa Giêsu bị đóng đinh là hai bức liễn sơn son thiếp vàng, chạm chữ màu đen: nhưng bên trong lại trang trí hoành phi liễn đối như đền miếu người Hoa...
Nhà thờ Cha Tam hay còn gọi là nhà thờ Phanxicô Xaviê hoàn thành vào đầu thế kỉ 20 do linh mục Pierre d’ Assou, người đứng ra xây dựng nhà thờ và cũng là vị cha sở đầu tiên, nên dân gian quen gọi là nhà thờ Cha Tam. Sau khi xây dựng nhà thờ, cha sở Tam Asson còn xây được một trường học, nhà nuôi trẻ, một nhà nội trú, một số nhà ở cho thuê.
Nơi đây còn ghi nhận dấu chứng lịch sử đặc biệt khi là nơi cuối cùng Ngô Đình Diệm và em ruột Ngô Đình Nhu đã đến cầu nguyện trước khi tự nộp mình cho phe đảo chính,trong cuộc đảo chính quân sự nổ ra năm 1963. Nhưng rồi cả hai ông đều bị một sĩ quan trong lực lượng đảo chính hạ sát ngay trên đường áp tải từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng tham mưu.

Nhà thờ Hạnh Thông Tây - 53/7 Quang Trung, Q.Gò Vấp
 Những nhà thờ đẹp nhất để đón Noel ở Sài Gòn - 5

Nhà thờ Hạnh Thông Tây do ông Lê Phát Đạt, bỏ tiền ra xây cất, sau khi xây dựng xong nhà thờ Huyện Sỹ. Có một số tài liệu lại cho rằng nhà thờ được vợ chồng ông Lê Phát An con trai ông Lê Phát Đạt bỏ tiền xây dựng. Thánh đường Hạnh Thông Tây đã tồn tại hơn 1 thế kỷ.
Trong khi đa phần nhà thờ ở Việt Nam đều theo phong cách Kiến trúc Gothique hoặc Roma thì nhà thờ Hạnh Thông Tây lại được xây dựng theo phong cách kiến trúc Byzantine, mô phỏng Vương cung Thánh đường Saint Vitale ở thành phố Ravenna, Ý. Mang nét đẹp đơn sơ mộc mạc khiến người ta cảm nhận được sự thanh thoát khi vừa đặt chân.
Do số giáo dân ngày càng gia tăng, nhà thờ xây thêm một nhà thờ phụ, bên cạnh ngôi nhà thờ lớn để giáo dân đi lễ không phải đứng ở ngoài trời chịu nắng chịu mưa nữa.

Nhà thờ Chúa Cứu Thế - 38 Kỳ Đồng, Q.3
 Những nhà thờ đẹp nhất để đón Noel ở Sài Gòn - 6

Tọa lạc trên đường Kỳ Đồng, Dòng Chúa Cứu Thế và Tu viện Sài Gòn có khuôn viên rộng rãi, là điểm đến của nhiều bạn trẻ và các giáo dân trong những ngày cuối tuần hay dịp lễ. Nhìn từ ngoài, nhà thờ không có gì đặc biệt, không có nét gô-tích cổ kính, cũng không uốn lượn họa tiết Đông phương. Chỉ đến khi bước vào trong, ngồi vào ghế, mới thấy đẹp, cái đẹp của không gian thoáng rộng vì không bị hàng cột vướng tầm mắt, cái đẹp của những phiến tường trắng tinh thanh thoát, tương phản với những hàng ghế gỗ dài màu nâu gụ ấm áp.
Ngoài ra phía sau nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam còn có 1 nhà sách khá lớn, bạn có thể tìm đọc nhiều loại sách khác nhau liên quan đến tôn giáo Thiên Chúa.
Vào dịp Giáng sinh nơi đây đặc biệt đông đúc với "khu chợ" giáng sinh hoành tráng. Tối Noel, khắp nơi dòng người đông nghẹt nô nức đi lễ Giáng sinh và hát mừng Chúa ra đời ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Bạn sẽ cảm nhận được sự trang trọng và lòng thành kính giống như các giáo dân vẫn thường hướng về đấng tối cao của họ.
Theo Mai Anh (Báo giao thông
--
Hân hoan chào đón và cảm ơn những đóng góp đứng đắn, hữu ích, và thiết thực của bạn. DĐKT dành cho tất cã mọi người để đóng góp những đề tài liên quan đến kinh tế cũng như tôn giáo, chính trị, y tế-sức khỏe, đời sống gia đình-xã hội,giáo dục,giao thông, tình yêu,v.v..NGOẠI TRỪ KHIÊU DÂM. Không được đã kích, bài bác, và mạ lỵ cá nhân, hội đoàn, và tôn giáo. Tôn trọng ý kiến của thành viên <nếu không thích vui lòng XÓA > đễ diễn đàn tiến triễn tốt đẹp. Người đăng hay chuyển tin hoàn chịu trách nhiệm về nội dung tin tức.
Moderator: BDH9qt@gmail.com;

For more options, visit https://groups.google.com/d/optout.

__._,_.___


Posted by: <vneagle_1

Saturday, December 19, 2015

TẤT CẢ QUÊ HƯƠNG TÔI NẰM TRONG TÔ BÚN

 

 Mời đọc - rất hay - Tô bún bò Huế

    TẤT CẢ QUÊ HƯƠNG TÔI NẰM TRONG TÔ BÚN

MÓN "BÚN BÒ GIÒ HEO" CỦA HUẾ...
Mạn đàm về “BÚN”       
   

Bún không phải chỉ đơn thuần là một món ăn truyền thống của Huế, nhưng đối với người Huế, bún còn là một phần lối sống “Kiểu Huế”. Kiểu Huế là nghèo mà vẫn sang, vui rộn rã mà vẫn man mác buồn, ngoài mặt phẳng lặng mà trong lòng dậy sóng, không soi bóng mình trong gương mà soi bóng mình trong đôi mắt của người thương, bè bạn, xóm giềng. Người ngọai quốc như ông Foulon cũng nhận xét về sự mâu thuẫn của Huế: “Tóc tang cười nụ, vui mừng thở than!” (Lê Văn Lân dịch)

Huế mâu thuẫn từ buổi mới vào đời, đài các từ ngày mới có tên. Tên đất thì nhỏ như nốt ruồi son: Ô, Rí, Huế… mà tên người lại dài lướt thướt như mái tóc mây dài chấm gót: Công Tằng Tôn Nữ Thị Sông Hương, Nguyễn Khoa Hoàng Thành, Tôn Thất Quỳnh Phương… Huế quá trầm lặng và chật như cái bể cạn mà phải chứa những tâm hồn bão nổi sông hồ, nên dân Huế ngoài mặt hiền khô mà trong lòng cưu mang những bến bờ viễn xứ, sẵn sàng phản kháng và rực lửa đấu tranh “dấy loạn” như Lục Vân Tiên ra đường thấy việc bất bằng chẳng tha. Cái dấy loạn bão liệt nhưng nên thơ và lý tưởng quá đà của những tâm hồn lãng mạn kiểu Huế chỉ làm cho Huế thành đất dấy nghĩa nhưng không thể nuôi lớn Huế thành căn cứ địa, chiến khu như Tân Sở, Ba Lòng. Xưa vua Hàm Nghi và vua Duy Tân chỉ có những phút huy hoàng và chợt tắt ở Huế, để rồi suốt canh thâu le lói ở phương nào.

Tô bún bò Huế cũng là một biểu hiện của văn hóa Huế vì đây cũng là một sự “dấy nghĩa” trong truyền thống nấu ăn khi cho bò nổi heo chìm trong cùng một nồi, trộn lẫn hai tính chất mâu thuẩn “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở” thành một thể hài hòa. Huế đã dùng sả để “chuyên trị” thịt bò chứ không dùng ngủ vị hương để chuyên trị như truyền thống lâu đời ở Trung Hoa và miền Bắc. Tô bún Huế mang hưong vị “rất Huế” để mà cảm nhận và thưởng thức như cảm nhận và thưởng thức mùi khói sóng buổi chiều trên sông Hương. Tự nhiên như: “Nó ngon thì tại nó ngon. Có chồng thì phải nuôi con, thờ chồng”. Cái dễ giận nhất của người Huế là “mình cảm thấy…” mà không cần lý luận. Bởi vậy, hình như càng đem lý tính để phân tích các món ăn Huế, cái hiểu về hương vị thực tế càng xoải cánh bay xa…

Bún Bò Huế.
Ai ở xa nghe như thể Huế là vùng đất thổ sản của bò, giống miền Nam Mỹ Texas. Thật ra, tìm một trại bò trên đất Huế cũng khó như tìm lá Diêu Bông của Hoàng Cầm. Tô bún bò Huế cũng là phản ánh cái tham vọng thu nhỏ của người Huế vì muốn dùng cái “lượng” giới hạn để đạt tới cái “phẩm” vô cùng. Bởi vậy, ngoài những chất liệu cay chua ngọt bùi của trần gian, tô bún Huế còn được “nêm” thêm ít nhiều gia vị vô hình của cái tâm chủ quan và cái linh của hoàn cảnh Bà Bún.

Suốt cả thời thơ ấu, tôi sống ở làng, quanh năm chỉ có “Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên…” là đẹp nhất.
Hàng năm, sau dịp Tết, người trong làng lại bắt đầu chuẩn bị lễ đầu năm. Mẹ tôi lễ vào ngày 19 tháng giêng để kịp ngày 20 đi coi giò gà và dự lễ tế Bà Bún tại làng Vân Cù.
Mỗi năm, tôi được ăn bún khá nhiều lần nhưng hai lần trọng đại nhất và ngon nhất là trong dịp lễ đầu năm của mẹ tôi và trong ngày lễ tế Bà Bún tại Vân Cù.

Làm sao tôi quên được những buổi sáng hai mươi tháng giêng. Từ sáng tinh mơ còn lạnh cóng, mẹ tôi đã cẩn trọng nhúng bộ giò gà khô queo trong tô rượu trắng, gói trong giấy bổi, lâm râm cầu nguyện rồi chuẩn bị lên đường bói quẻ đầu năm.. Tôi là con trai út, nên được thương nhất nhà và thường bị gọi là “cái đuôi của mạ” vì mẹ tôi đi đâu tôi cũng lon ton dòi chạy theo.

Sau vụ coi giò gà tại nhà thầy Kiên ở Hương Cần thì mặt trời đã lên quá đọt tre. Mẹ tôi tiếp tục cuộc hành hương cuốc bộ đầu năm về làng Vân Cù. Từ Hương Cần về Vân Cù phải qua một cánh đồng lúa rộng, tôi phải chạy lúp xúp theo mẹ mướt mồ hôi, mặc dầu trời tháng giêng trên quê tôi lạnh đến nỗi “giêng hai cắn tay không ra máu!”. Sau nầy tôi bỗng khám phá ra thêm một bí mật về cái ngọn tuyệt vời của bún xáo Vân Cù trong ngày lễ Bà Bún một phần cũng là do cánh đồng trống nầy vì vượt qua cho được dặm trường thiên lý nầy thì cái bụng đã trống trơn.

Muốn nói đến Bún Bò Huế thì đừng quên trước hết phải nói đến con bún, vì tô bún là một tổng hợp hài hòa giữa con bún và nước bún. Thiếu một trong hai là kể như có Adam mà không có Eva, có Phạm Lãi mà thiếu Tây Thi! Và, nói đến con bún Huế thì không thể không nhắc đến chiếc nôi của bún là làng Vân Cù. Làng Vân Cù nằm cạnh sông Bồ, là con sông ăn thông với sông Hương qua nhánh sông Đào. Vân Cù cách Huế chừng 10 cây số về phía Tây Bắc. Từ xưa, Vân Cù là lò bún tập thể cung cấp bún cho cả Huế, Thừa Thiên, ra tới Quảng Trị và có khi vào đến Quảng Nam, Đà Nẵng. Hầu hết người làng Vân Cù tuy sống về nghề nông nhưng ai cũng có lò bún trong nhà.

Cũng như rất nhiều nghề thủ công khác ở Huế như nghề Thợ Rèn ở Làng Hiền Lương, nghề Đan Thúng Mủng ở làng Bồ La, nghề Thợ Vàng ở làng Kế Môn, nghề Nuôi Tằm ở làng Dương Sơn, nghề Chằm Nón ở làng Hương Cần, nghề Đan Nôi Bội ở làng Liễu Hạ, nghề Gạch Ngói ở làng Nam Thanh… nghề Làm Bún ở làng Vân Cù là một công việc làm ăn truyền thống và độc đáo riêng của từng đơn vị sản xuất gia đình trong làng, có tính cách cha truyền con nối từ đời nầy qua đời khác. Tất cả dây chuyền sản xuất đều làm bằng tay với những dụng cụ thô sơ, nhưng thành phẩm thường đạt đến mức tinh luyện mà người khác làng khó lòng bắt chước nổi.

Thủy tổ của nghề làm bún tại Vân Cù là một bà, tục gọi là Bà Bún. Thời gian đã xoá nhòa danh sách của những người muôn năm cũ nên chẳng còn ai nhớ tên thật của Bà Bún. Trong những câu chuyện dân gian truyền miệng về cuộc đời của Bà Bún, tôi còn nhớ mãi chuyện kể của bác Cửu Am với mẹ tôi rằng:

Vào một thời xa lắc xa lơ, khi có những người Đàng Ngoài theo chân chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp, có một nhóm người đến định cư trong vùng những Tháp Chàm cổ xưa đã đổ nát nên sau nầy có tên là làng Cổ Tháp, thuộc huyên Hương Điền. Trong số đó có một người thiếu nữ đẹp, có lẽ cũng mắt lá răm, môi cắn chỉ, má lúm đồng tiền… nên rất được nhiều người mến chuộng. Trong lúc mọi người chuyên sống bằng nghề canh tác làm ruộng thì người thiếu nữ nầy miệt mài chuyên nghề làm bún. Bún nàng ngon quá hay vì nàng xinh quá mà làm cho bao người ăn quên cả đường về. Rượu không say bún say mới ngại… Vì vậy nên nhiều người ganh tỵ. Rồi một dạo dân trong vùng bị mất mùa liên tiếp 3 năm. 

Người ta cúng, tế cầu thần linh cứu giúp. Gặp cơ hội nầy, kẻ xấu bụng tung tin rằng, mất mùa là do thần linh quở phạt vì Cô Bún đã đem gạo là “hạt ngọc của Trời, phơi mao ngậm sữa” ra mà ngâm, mà chà, mà xát, mà nghiến nát ra để làm bún. Thế là nhà nông bắt đầu nổi giận. Hội Đồng Thị Tộc của làng họp bàn và ra lệnh cho Cô Bún phải bỏ nghề làm bún hay sẽ bị trục xuất ra khỏi làng, nhưng Cô Bún quyết sống chết với nghề nên chấp nhận ra đi.

Vì bản chất hiền lương và thuần hậu nên Cô Bún được làng ban ân cho phép chọn lựa hướng đi và cử năm người thanh niên mạnh nhất trong làng theo áp tải. Mỗi thanh niên sẽ cõng cái cối đá làm bún của Cô đi một chặng đuờng cho đến khi mệt đuối sức thì người khác tới thay cho đến hết người thứ năm là vùng đất mới của Cô Bún. Cứ thế, đoàn người đi về hướng Đông cặp theo sông Bồ không nghỉ. Nơi người trai làng thứ năm khuỵu xuống với cái cối đá trên vai là làng Vân Cù sau nầy. Nơi đây đã trở thành “đất lành chim đậu” cho Bà Bún lập nghiệp và truyền nghề làm bún đời đời qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của đất nước và dân tộc.

Người ta thường ví von “mềm như bún” nhưng cái mềm Đông Phương lại là cái dẻo dai bền bỉ để sống còn trên bước đường vạn dặm. Thân gái dặm trường, Bà Bún đã vượt Hoành Sơn vào Huế. Chim đã về núi, Bà đã về dất nhưng Bún Huế vẫn còn tươi rói với nhân gian như có người đã hát nửa chơi, nửa thiệt: “Hoành sơn nhất đái chim về cội. Vạn đại dung thân đọi bún bò”.

Một “xưởng bún” điển hình ở làng Vân Cù thường bao gồm một cái xay để xay bột, một cái cối có chày đạp, lò nấu, chảo lớn, rây bột, khuôn bún và một số dụng cụ để khuấy, vớt, đong, đựng bột và bún trong từng chặng đường sản xuất.

Từ hột gạo măng tơ biến ra con bún nõn nà cũng phải cần đến bàn tay, không phép mầu nhưng cũng phải khéo léo và cần cù, của bà tiên lao động. Sợi bún bắt đầu từ hột gạo. Gạo trắng ngâm nước lạnh qua đêm sẽ “mục” ra và được đem xay hay giã nhuyễn thành bột. Tiếp theo, bột gạo được “rây” để lọc ra phần mịn nhất tinh bột của gạo. Bột gạo nguyên chất được rưới nước sôi để nhồi thành một khối bột gọi là “trái bột”. Trái bột gạo được luộc chín sơ, rồi vớt ra và đem trộn với bột lọc theo tỷ lệ cứ 30 lon gạo (khoảng 10 ki-lô), trộn với 2 ki-lô bột lọc. Tổng hợp bột gạo và bột lọc nầy lại được giã, trộn rất nhuyễn cho tới khi trái bột đạt tới mức “vừa đai, vừa đẻo” là đuợc. Giai đoạn cuối cùng là khối bột mượt mà và dẻo quẹo được đưa vào khuôn bún. Dưới sức ép, những đường bột tuôn ra theo lỗ đục sẵn dưới đáy khuôn bún, rơi vào nồi nước sôi và chín thành bún. Bún được vớt ra, xả sạch với nước lạnh và sẵn sàng để ăn.

Bún tự nó đã là một món ăn thanh đạm của người Huế, nhất là vùng quê. Bún Vân Cù được làm ra dưới ba hình thức: Bún con, bún lá và bún mớ.
Bún con hay bún vắt là một lọn bún quấn lại với nhau, dài vừa nắm tay như cuộn chỉ thêu, rất tiện lợi cho việc ăn uống đơn giản và đạm bạc trên nương, ngoài đồng, giữa đường. Chỉ cần một chút nước mắm ớt và năm, bảy con bún vắt thì bác nông phu trên đường về, chị chủ quán rộn ràng giữa chợ, em bán hàng rong lang thang… có thể tay cầm con bún chấm vào nước mắm ăn ngon lành ngay trên “hiện trường” vừa ngon miệng, vừa ấm lòng, vừa khỏi lơ là công việc.

Bún lá là một lớp bún trải trên lá chuối tươi, cuộn tròn cỡ bằng cái bánh tráng trung bình. Bún trắng nổi trên lá xanh mang vẻ đẹp trinh nguyên nên vừa bắt mắt, vừa bắt miệng. Bún lá thường là đơn vị bún cho cá nhân và gia đình: Mỗi người một rá, mỗi lá một tô.
Bún mớ, còn gọi là bún “ngảo” hay bún kí-lô. “Ngảo” là cái rổ nhỏ thường dùng như một đơn vị đo lường ở các vùng quê của Huế trong khi “kí lô” là đơn vị đo lường mới xuất hiện sau này. Bún mớ là bún sản xuất đại trà với số lượng lớn để buôn bán, đổi chác trên thị trường.

Thật ra cả ba loại bún cơ bản là giống nhau, đều có màu ngà đục khi sống và màu trắng trong khi đã luộc chín. Người ta thường dùng danh từ “bún tươi” để chỉ bún mang trực tiếp ra từ lò và “bún luộc” để chỉ con bún được luộc chín từ bún khô. Con bún Huế điển hình có độ dai vừa phải, không “đai hoai” như bột lọc nhưng cũng không bở rệt như bột gạo. 

Thường người ta dùng đinh 3 phân ( khoảng 1/8 inch) để đục lỗ thoát trong khuôn bún hay để ước lượng độ lớn của con bún. Trong thực tế, bún lớn hay nhỏ là do bàn tay khéo léo của người cầm “rây”. Muốn sợi bún nhỏ, ngay khi những con bún sống đang chảy xuống nồi nước sôi để thành bún chín, chỉ cần đưa cái khuôn đầy bột lên cao; muốn có con bún to thì hạ khuôn xuống thấp. Bún nhỏ là bún kim để làm bún khô hay bún Tàu dùng nấu canh và bún to hơn là bún thô dùng để xào trộn thức ăn trong những dịp giỗ, Tết. Bún con và bún lá thường được cho là ngon hơn có lẽ vì được sản xuất đầu nước nên láng lẩy và tươi tắn hơn: “Bún đầu nước thì ngon, con đầu nước thì dại (?)”.

Ngoài cơm và khoai sắn, có thể nói rằng, bún nói chung là món ăn truyền thống được phổ biến rộng rãi nhất đối với người Việt Nam ở trong nước cũng như khắp năm châu. Các loại bún truyền thống miền Bắc thì có bún riêu, bún thang, bún mộc, bún ốc… Bún từ Đàng Ngoài đã theo bước chân Nam tiến đi vào Đàng Trong, rồi chọn đất Thuận Hóa làm nơi nghỉ bước và đâm chồi nẩy lộc thành bún Huế. Bún Huế gồm nhiều loại, mỗi loại có một lịch sử và tính chất độc đáo khác nhau: Bún nước mắm, bún mắm nêm, bún giấm nuốc, bún riêu, bún xáo, bún măng, bún thịt nướng, bún chả tôm, bún bò, bún giò… và bún bò giò heo. Bún bò Huế, tức là bún bò giò heo được ưa chuộng và phổ biến nhất.

Theo thời gian và không gian, bún bò Huế có lúc và có nơi chỉ còn là một cái tên nhưng phẩm chất, đặc tính, mùi vị… đã hoàn toàn biến đổi. Nhiều người vẫn tẩn mẩn tự hỏi, không biết tô bún bò Huế thời vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và tô bún thời vua Bảo Đại thoái trào năm 1954 có gì khác nhau trong cung đình và ngoài phố chợ. Có điều rõ ràng là khách ăn bún Huế sẽ cảm thấy tô bún An Hoà khác hẳn tô bún An Cựu, nơi nầy có thêm lát chả, nơi kia có thêm miếng huyết, nơi nọ có chút rau thơm và chuối cây xắt mỏng lơ thơ. Càng đi xa, tô bún ở Đà Nẵng không giống tô bún Sài Gòn; tô bún Huế Ca-li khác xa tô bún Huế Texas.

Trước 1975, tôi có một người ông bà con, quê ở làng Lương Quán, Nguyệt Biều. Mọi người kêu ông là “Ôn Tứ”, có lẽ vì ông làm quan tứ phẩm của triều đình. Cứ một năm vài ba lần, ông sai tôi chở qua cung An Định để vấn an “Đức Từ”, đó là bà Từ Cung, thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại. “Ôn Tứ” tuổi trên 70 mà vẫn còn đẹp lão như một tiên ông với da dẻ hồng hào và tóc trắng như mây, nhưng hễ cứ mỗi lần tôi khen ông là ông lại nói với giọng nửa như tự hào, nửa như ân năn:
- Ôn sống thọ đây là tại trời đày vì tội phạm thượng, dám ăn đồ ăn của vua!
Ai cũng biết thuở trước, ông là người hầu cận thân tín của vua Bảo Đại từ Việt Nam qua đến Pháp. Tôi nghe lạ, hỏi ông, ông giải thích:
- Ngài Ngự làm vua, nhưng là người Tây học. Ngài xử sự công bằng và lịch sự với tất cả mọi người. Hồi còn ở trong Đại Nội, thường có các cận thần hay hoàng thân quốc thích nấu đủ món sơn hào hải vị dâng lên Ngài ăn khuya. Ngài nhận, nhưng sau đó sợ bị mập nên Ngài cứ đưa hết cho ôn ăn. Con coi, ôn ăn hoài cao lương mỹ vị của hoàng đế, “tội to” như rứa mà Trời không phạt răng được!

Trong những lần ngồi đợi ông vấn an đức Từ Cung, trong cái mát lạnh thâm u của cung An Định, tôi có dịp nghe các cuộc mạn đàm của giới thân cận cung đình về các món ăn Huế mà giới quý tộc quan tâm. Bún bò Huế vẫn thường được nhắc đến nhiều nhất. Đặc biệt là cuộc thi nấu các thức ăn đem ra đấu xảo tại chợ Tết Gia Lạc có từ thời Minh Mạng, do Định Viễn Công Nguyễn Phước Bình, con thứ tư của vua Gia Long lập ra. Chợ Gia Lạc nằm giữa chợ Mai và chợ Nam Phổ ngày nay và cũng là vùng đất có Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương, hai vị hoàng thân nghệ sĩ đã vang bóng một thời. Lúc đầu chợ chỉ mở ra cho các người trong thân nhân phủ đệ, sau thấy đông vui hấp dẫn, dân thường trong vùng lân cận như Dương Nổ, Nam Phổ, Thế Lại, Ngọc Anh… tìm đến và cũng được các ông hoàng bà chúa cho vào tham gia buôn bán và tổ chức các trò chơi. Hàng năm đến ngày 23 tháng Chạp, chợ Mai đông buổi sáng và chợ Nam Phổ đông buổi chiều để nhường chỗ cho chợ Gia Lạc tưng bừng vui hội Tết. Đông vui và nhộn nhịp nhất là trong ba ngày mồng một, mồng hai và mồng ba Tết Nguyên Đán.

 Đây là phiên chợ của hàng con vua cháu chúa, nhưng đồng thời cũng mở rộng ra cho bàng dân thiên hạ đến vui Xuân. Theo tương truyền, trong một năm, món bún bò giò heo của Mệ Lựu đã chiếm giải nhất và được phê là “Thập toàn. Ngũ đắc”. Thập toàn là mười diều hoàn thiện của một món ăn ngon, đại khái như: ngọt ngào, thơm tho, đậm đà, bổ dưỡng, tinh khiết, bắt mắt, khéo chọn, khéo tay, khéo nấu, khéo bày, bún bò Huế còn được đánh giá cao là vì tính chất bình dân và phổ thông trong bá tính: Mọi người ai cũng biết được, ai cũng ăn được, ai cũng nấu được, ai cũng tìm được vật liệu ngay tại địa phương, ai cũng có thể có dịp mua được (ngũ đắc). Phải chăng vì bún bò giò heo cũng mang tính truyền thống dân gian như bánh chưng, bánh dày thuở trước.

Nếu gặp một người Huế nào đó ở vào lứa tuổi trung niên hoặc già hơn mà hỏi thăm thế nào mới thật là bún bò Huế và bún bò nơi mô ở Huế là ngon nhất, chắc chắn sẽ có hơn chín mươi phần trăm trả lời là, “bún bò Mụ Rớt”.
“Bún bò Mụ Rớt có nêm sâm nhung quế phụ vô hay răng mà ngon dữ rứa?”.
Một lần nào đó đã có người tò mò lên tiếng. Rồi cũng có người đáp lại, “Có chi mô, mụ Rớt cũng ra chợ Đông Ba mua rau, mua thịt như mình nhưng mụ nấu ngon vì có hoa tay”.
Hoa tay? Hoa tay của ông đồ Vũ Đình Liên là để thảo những nét chữ như rồng bay, phượng múa, nhưng hoa tay của mụ Rớt là để nấu những tô bún bò thanh nhã, ngọt ngào “ăn ngậm mà nghe”.
Chừ ri hỉ…!

Cứ tưởng tượng mình đang ở Huế.
Vừa thức dậy sau giấc ngủ trưa, một buổi trưa không biết ở thời nào, một buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao, có cu gáy và bướm vàng nữa chứ… Và, có tiếng ve đất cuối mùa kêu sau vườn nhưng nghe như xa lắc. Nắng xế cuối mùa của Huế thường phai như màu tóc muối tiêu. Rồi có tiếng xe đạp của ai đó phanh lại trước sân, ba bốn đứa bạn thân rủ nhau đi ăn bún. Con đường Chi Lăng dẫn về Gia Hội chen giữa hai hàng phố cũ với những căn nhà xưa kiểu Tàu pha một căn hai chái, cột mệ cột con đề huề trông thâm nghiêm nhưng thấp bé một cách tội tình. Trước khi rẽ qua đuờng Ngự Viên đi ngang “mả ông trạng” sau lưng chùa Diệu Đế, hãy ghé lại một căn nhà dãy phố bên phải: Đó là tiệm bún bò Mụ Rớt. Huế làm ăn theo lối “hữu xạ tự nhiên hương”, không bảng hiệu, không quảng cáo mà chỉ cần nghe tiếng tìm vào.

Khách vô tiệm tự nhiên và lặng lẽ như ghé lại bến đò. Cứ tìm bàn nào trống, ngồi xuống trên chiếc ghế đẩu không có chỗ dựa lưng, ngó một loáng bâng quơ người quen và người lạ, sẽ có người hỏi:
- Mấy o, mấy cậu thời bún chi?
Khách chỉ có lựa chọn giữa bún khô và bún nước:
- Dạ, cho mấy tô bún nước

Lát sau, mấy tô bún bò giò heo bốc khói, mùi thơm tỏa ra dìu dịu, được bưng ra đặt trên bàn. Bún được nấu nướng từ sau bức tường của dãy nhà ngang trông vào có vẻ phòng the hơn là bếp núc.
Tô bún bò Huế mới thoạt nhìn, có vẻ đạm bạc và thanh lịch như chiếc áo dài phin trắng nõn nà. Tô bún chỉ lớn hơn bàn tay búp măng xoè ra một tí. Nước bún trong để lộ những tép bún trắng nằm sóng soãi vươn lên miệng tô. Nước bún không mỡ màng, không bị vẩn đục vì gia vị. Vài loáng ớt màu đỏ nhạt, quyện với dầu sả nổi đốm sao trên mặt tô không che được miếng giò heo búp, mỏng bằng hai phần lóng tay. Miếng giò heo trắng ngả màu vàng với lớp da mỏng, ôm khoanh thịt nạc và mảnh xương tròn ở giữa như nhụy hoa nằm bắt mắt và mời gọi, nửa chìm nửa hở trong tô bún. Che mái cho tô bún là ba bốn lát thịt bò bắp xắt mỏng, những lát bò bắp với thớ thịt chắc nịch nâu đỏ và những đường vân vàng nhạt của nạm, gầu, gân, sách.

Trên bàn đã có sẵn đũa tre, muỗng sành, nước mắm, ớt tương và rau hành chanh múi. Một dĩa nhỏ hành củ trắng phau và hành lá, rau thơm xanh mưót điểm thêm ngò ta xắt mỏng để rắc lên mặt tô bún cho thêm nồng nàn hương vị. Rau hành của bún không phải là rau sống cuả phở, rau chỉ đóng vai trò “nước hoa” cho tô bún. Trên một góc dĩa là ớt tươi xắt lát. Cái cay của ướt tươi là đậm đà, mọng nước, đủ sức khống chế những cao thủ ớt đã nếm đủ vị giang hồ mà vẫn còn thấy nhạt. Cạnh đó là dĩa ớt tương nhỏ xíu màu huyết dụ; ớt tương của bún bò Mụ Rớt cũng được liệt vào hàng “gia vị bún bò bắc đẩu”, nhìn thì có cái vẻ mềm như nhung với màu đỏ sẫm, điểm những hột ớt vàng hoe nhưng nếm vào mới biết thế nào là cái “hiền” của Huế. Gắp một tí ớt tương đầu múi đũa bỏ vào tô là ớt từ từ bung ra như nhụy hoa trên mặt nước bún. Hoa hồng thường có gai, nên nhụy hoa bún cũng làm cho biết bao người cay giọt ngắn, giọt dài!

Cung cách nêm tô bún trước khi ăn cũng thể hiện phần nào phong thái của người ăn. Vẻ e dè chờ đợi của khách mới, dáng khoan thai của giới nhàn du, sự xông xáo của người đói bụng, cách lịch lãm của kẻ từng quen… là những biểu hiện thường tình trước tô bún.
Khi đã nêm xong, húp một muỗng nước bún khai vị để cảm nhận được cái chất ngọt thanh pha đủ mùi gia vị. Mùi sả, mùi ruốc, mùi xương hầm, mùi thịt luộc, mùi chanh, mùi rau, mùi tiêu hành nước mắm… đã biến chất, đã quyện vào nhau tạo thành mùi bún bò có sức hấp dẫn lạ lùng riêng của nó. Miếng giò heo thanh nhã trong tô bún với lớp da mỏng có bìa da úp quanh miếng thịt nạc như đài hoa chưa nở nên thường gọi là giò “búp”. Cắn miếng giò, những sợi thịt trắng vừa béo, vừa ngọt vẫn còn thơm mùi thịt tươi mới chín nhẹ nhàng bốc hơi trên hai cánh mũi. Gắp lát thịt bò bắp. Lát thịt bò mỏng với những đường gân, sứa thịt và viền mỡ dòn tan giữa hai kẻ răng và vị ngọt béo miên man trên đầu lưỡi. Tô bún bò Huế vơi dần nửa như thách thức, nửa như mời gọi khách rằng, chưa cạn hết tô chưa gác đũa.

Tô bún bò Mụ Rớt được xem là đặc trưng cho tô bún Huế là vì nó mang những nét thanh đạm và đơn giản. Có thể nói cái thanh của bún Huế ví như những nét đan thanh của tà áo trắng, tà áo dài mỏng manh cửa đóng then gài ngỡ như là tử cấm thành của phái đẹp thần kinh, nhưng lại kín đáo phô bày trọn vẹn những nét đẹp trên thân thể của người mặc. Người mặc áo Kimono của Nhật chỉ cần một khuôn mặt đẹp, nhưng người mặc áo dài Việt Nam khó mà che dấu được những nét mỹ miều hay thô thiển của thân hình.. Cũng tương tự như vậy, một tay nấu bún “hạng lông” có thể nấu một tô bún thập cẩm với tấp nập thịt thà rau cải rềnh rang như chiếc áo Kimono, nhưng lại khó có thể nấu một tô “bún-bò-áo-trắng” kiểu Huế thoạt nhìn tưởng như là quá đơn giản mà ẩn dấu lắm công phu.
Linh hồn của tô bún bò Huế là nước bún. Nước bún là nước được hầm từ xương heo, xương bò, gà tươi, và có khi là cây, củ… Phần khó nhất trong việc nấu nước bún là giữ cho nước trong, ngọt thanh, không mỡ màng, không lềnh bềnh gia vị. Những “trường phái” bún bò khác nhau ở Huế thường dấu bí quyết nấu nước bún vừa trong vừa ngọt, nhưng tất cả đều có điểm cơ bản khá giống nhau là cách chọn xương hầm, cách luộc tái rồi đổ nước đầu tiên, cách vớt và lọai bỏ bọt thải đúng lúc, đúng điệu, thường là yếu tố quyết định trình độ cao thấp của “tay nghề”.

Bún sợi thật sự là bún tươi, trắng ngà, có độ dẻo và độ lớn vừa phải.
Thịt heo trong tô bún chỉ đơn giản một lát giò có đủ da, đủ nạc và xương. Giò luộc vừa chín, không quá lửa làm cong queo, mềm nhũn, thoang thoảng gia vị vừa ăn; thơm nhưng không mất mùi thịt heo nguyên thủy.

Thịt bò trong tô bún là bò bắp luộc vừa chín, xắt lát mỏng, xào nhẹ lại với đồ màu và tránh tình trạng quá lửa làm “bò teo, heo nở”.
Gia vị chủ lực của bún bò Huế là sả, ruốc và ớt, nước mắm. Tinh dầu của cây sả có mùi thơm rất nồng, đủ mạnh để làm trung hòa mùi ruốc và giúp cho mùi thịt trộn tiêu hành nước mắm trở nên dịu và ngào ngạt hơn. Dầu sả nhẹ hơn dầu mỡ nên làm cho nước bún nổi sao óng ánh, tránh được những váng mỡ nặng nề làm cho người ăn ái ngại. Một cây sả tươi cần chọn đoạn giữa vừa thơm, vừa phong phú tinh dầu. Đừng quên sả gốc nồng và chát, sả ngọn ít thơm và dễ làm cho nước bún nhiễm màu xanh của lá.

Trong nồi bún, nếu sả quyết định cho hương thì ruốc quyết định cho vị. Ruốc phải đánh loãng và thải hết chất bã. Ruốc nêm lúc nước còn lạnh để khỏi nặng mùi. Ruốc nêm đúng phân lượng sẽ làm cho nước bún có vị ngọt đậm đà và mùi thơm phảng phất chất mắm muối quen thuộc của đồ ăn Việt Nam. Ruốc nêm thiếu, nước bún sẽ “ỏn”, nghĩa là lạt lẽo, kém vị, thiếu mùi như nước ốc. Ruốc nêm thừa, nước bún sẽ “hăng”, nghĩa là mùi vị nặng nề, không tỏa ngát quanh tô bún mà có vẻ như chìm lỉm trong nồi nước bún.

Bên cạnh kỹ thuật và kinh nghiệm của người nấu, chất liệu cũng đóng một vai trò quan trọng cho hương vị của tô bún Huế. Chẳng hạn như thịt heo nấu bún Huế thường lấy từ thịt heo cỏ. Đó là giống heo nhỏ nuôi bằng rau, chuối nấu với cám gạo cốt để vừa lấy phân, vừa lấy thịt. Heo càng lớn càng dài ra và thịt rắn lại chứ không phát triển “sồ sề” như giống heo mẹo nuôi trong kỹ nghệ lấy thịt sau nầy. Giò heo do đó vừa chắc, vừa thơm, vừa ít mỡ. Giò heo lý tưởng cho tô bún là giò sau: “Nấu giò sau, cho nhau giò trước”.

Ngoài ra, rau hành, gia vị… thường được các bà Huế nêm theo kiểu “luyện công” nên mọi thứ đều được tính toán chi li vừa đủ phân lượng cần thiết. Có dịp nhìn một bà Mỹ vào bếp với dáng kích động như muốn nhảy “Disco” với soong chảo, một bà Nam nếm đồ ăn trên lò, miệng chưa tắt nụ cười vui sau câu cải lương mùi mẫn… mới thấy được hình ảnh tay cầm đũa, mắt đăm đăm, môi chút chíp nêm đi nếm lại như đang “truyền tâm ấn” của một bà Huế trước nồi bún đang sôi là “thục nữ thần kinh”. Chính yếu tố địa phương, hoàn cảnh và tâm lý đã làm cho tô bún bò Huế trở thành ngon và độc đáo hơn vì nó được chuẩn bị, phục vụ và thưởng thức trong mức độ vừa đủ về lượng cũng như về phẩm.

Sự dễ dãi về hoàn cảnh sinh hoạt và phong phú về điều kiện vật chất có vẻ như có một tác dụng nghịch chiều cho tiến trình tạo nên cái vẻ thanh nhã truyền thống của tô bún bò Huế. Bún bò Huế càng tiến về Nam càng được thêm thắt như tà áo trắng biến thành áo gấm với phượng vẽ rồng thêu.

Bún Huế chỉ cần vượt đèo Hải Vân vào Đà Nẵng là đã đổi khác: Tô lớn hơn, mỡ màng và thịt, gân, rau hành nhiều hơn. Bún Huế tiến vào Sài Gòn thành tô “phở bún” xe lửa tàu bay với nước béo, rau sống, giá sống, thịt chả ê hề. Chính bún bò Mụ Rớt Huế vào Nam cũng đã chuyển mình thành “bún bò Mụ Rớt Nam Bộ”. Bún bò Huế càng được chiếu cố rộng rãi chừng nào, sự “sáng tạo” và biến thể càng nẩy mầm trăm hoa dua nở chừng đó. Đến nỗi, một người thích “khảo” về các món ăn miền Trung gần đây như ông Đinh Miên đã phải lên tiếng “xóa óa” khi nhắc về bún bò Huế tại Mỹ trong bài “Cơm Việt, Quê Người”: “Đi đâu cũng nghe bún bò Huế chính gốc mà không biết gốc gì, nên gốc gì cũng đặng!” (Việt IX – 95). Ông Đinh Miên thuộc về trường phái “chịu chơi” khi luận về bún Huế. Ông cởi mở đón nhận sự chuyển mình của tô bún với vẻ cười cợt hồn nhiên như người đã biết là không thể tắm hai lần trên cùng một giòng sông. Cũng có người muốn “ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng” lên tiếng cho rằng, tại sao những món ăn truyền thống của thế giới như Pizza của Ý, Kabob của Ba Tư, Taco của Mễ, Kentucky Chicken Fried của Mỹ, Mì Triều Châu của Tàu… đi đâu cũng nghe cùng một hương vị, mà Bún Bò Huế lại có người nấu Sở kẻ nêm Tần như vậy, sợ một ngày kia “mất giống” tìm đâu!? Có lẽ không ai trả lời được câu hỏi đó vì món ăn là một phần của văn hóa mà gốc của văn hóa là con người. Khi đất nước và con người còn đó thì ngại gì tô bún đổi thay.

                                Những huyền thoại quanh tô Bún Bò Huế

Tuổi già của Huế thích lui về sống ẩn dật với quê hương, gần gũi với bà con làng xóm và mồ mã tổ tiên, nhưng tuổi trẻ lại thích bay xa tới những phương trời mơ ước. Niềm ước mơ của một đứa trẻ lớn lên sau lũy tre làng như tôi là làm sao được lên Huế học. Thành phố Huế cách làng tôi chưa đầy một giờ đi xe đạp nhưng đối với tôi thời nhỏ nó vừa thực vừa mộng như một vùng đất hứa. Có những buổi chiều đứng đầu ngõ nhìn những người lên Huế sắm hàng với các món đồ gói trong giấy, trong hộp đầy màu sắc gọi là “đi Dinh mới về”, tôi ước chi mình sẽ được lên Dinh

Tuy không có quy định thành văn nhưng con đường duy nhất để được lên Dinh ăn học đối với tuổi trẻ ở làng như tôi là phải thi đậu “Càng Cua” (concours) trước đã, đó là kỳ thi tuyển học sinh vào lớp đệ thất trường công mà trong toàn tỉnh Thừa Thiên chỉ có thành phố Huế mới có. Mẹ tôi thường nhắn gởi: “Chuyến ni mà con thi đậu “càng cua”, cực mấy mạ cũng gắng lo cho con lên Dinh học”.
Mẹ tôi dắt tôi lên Huế hai ngày trước khi thi “càng cua”, đi qua đi lại trước trường Hàm Nghi (ngày xưa là Quốc Tử Giám) nhiều lần cho quen đường đi nước bước. Tôi ở lại nhà chị Quyến tôi nơi đường Ô Hồ. 

Buổi sáng ngủ dậy, chị kêu gánh bún vào ăn điểm tâm.. Gánh bún õng ẹo trên đôi vai o gánh bún, có khói và hơi bốc nhè nhẹ xung quanh như một đầu máy xe lửa xuống đèo. Nghe chị đặt hàng, tôi có cảm giác hơi là lạ:
- O múc cho tô “trung”, bún vừa, nước xắp xắp thôi. Cho giò nạc búp, thêm cái ngoéo. Đổi huyết lấy bò bắp xắt vô. Khoát bớt ớt màu, bỏ hành rau răm rươi rươi thôi, ớt tương nước mắm bỏ riêng…
Người bán bún chừng như đã quá quen thuộc với lối đặt hàng rắc rối đó nên làm thinh múc bún. Nồi bún nóng thân tròn, miệng uốn trông như chiếc lư đồng cổ không nắp không chân, đặt trên lò lửa riu riu đỏ. Tay o cầm cái vá cán dài, quây một vòng trong nồi bún với dáng tay nhẹ nhàng và điệu nghệ như cô vũ nữ Thái múa điệu cánh sen. Cái vá dừng ở đâu trong nồi nước bún là “bắt” được ngay miếng thịt, miếng giò đang cần, chính xác như ra-đa tìm thủy lôi.
Một lát sau o mới hỏi:
- Ai ăn rứa?
Chị tôi trả lời một cách hãnh diện:
- Thằng em tôi dưới làng lên ở lại thi “càng cua”.
Tự nhiên o bán bún coi bộ quan tâm:
- Nì, nói chuyện vô duyên chơ học trò đi thi không nên ăn giò búp: búp hoài không nở thì mần ăn chi nữa. Để tui múc cho một cặp giò ngoéo: ngoéo trước, ngoéo sau thì rớt đi mô được, thi đậu chắc nụi!
Chị tôi coi bộ cảm động ra mặt vì gặp được “Thầy”… bún, nên nhiệt liệt ủng hộ ngay:
- May có o nhắc chớ không thì khổ em tui rồi. Rứa! Múc ngoéo vô đi o!

Thật tôi không ngờ bún Huế “linh” như vậy, nên hôm đó ăn tô bún Huế mà cảm thấy trân trọng và ngất ngây như uống rượu thánh.
Về làng, tôi thường ăn bún với nước mắm ớt.. Mẹ tôi có mấy lu ruốc bự bành ky để ở nhà dưới, nước mắm nhĩ trong vắt nằm một lớp trên mặt. Đem lúa đổi lấy bún vắt hay bún lá, rồi múc nước mắm nhĩ từ trong lu ruốc, ra vườn hái ớt xé vào. Bún tươi chấm với nước mắm nhĩ pha thêm ớt trái mùa Xuân ăn ngon “nhức răng”. Thêm vào đó, một năm đôi ba lần được ăn bún với nước xáo lòng gà, thịt bò nên chú bé quê trong tôi cũng đã bằng lòng lắm với cuộc đời đầy đãi ngộ nầy rồi. Nay được ăn tô bún Huế với những thịt thà thơm phức, với cách nấu bún công phu, cách múc bún điệu nghệ… làm cho tôi cảm thấy được “lây” cái văn minh sang cả của người thành phố.

Ngày đi thi, tôi dậy sớm trước khi gà gáy lại, hồi hộp chờ trời sáng để tới trường thi, nhưng trong lòng cũng cảm thấy thinh thích khi nghĩ đến tô bún Huế với cặp giò ngoéo có lớp da mềm mềm bao quanh những thớ gân dòn tan như ăn ổi đỏ ở làng. Hình như mới có hai buổi sáng trôi qua mà tôi nghe như đã bị phố phường cám dỗ. Buổi sớm tôi nghe mẹ tôi bàn bạc to nhỏ với chị tôi, rồi tiếp theo đó có người gánh gánh xôi vào trước hiên. Nhìn dĩa xôi đậu xanh chấm muối mè bày ra trước mặt, tôi bắt đầu hoang mang. Mẹ tôi hối:
- Ráng ăn xôi đậu muối mè đi con!
Khi tôi ngao ngán ngáp dài kêu mệt quá và muốn ăn bún chứ xôi đậu, muối mè khô khan quá nuốt không vô, mẹ tôi dịu dàng an ủi:
- Con thi xong rồi, ưng ăn bún cả gánh mạ cũng cho. Con di thi “càng cua” mà ăn bún vô trơn, nói trời không nghe lỗ miệng, chớ nó truột di thì thi hỏng mất! Lúc trước mấy cậu con thi chi hỏng nấy là vì không nghe lời mệ ngoại, cứ dè ngày thi cử mà ăn bún không kiêng cử nên thi trợt tuốt luốt, phải xếp sách vở về quê đi cày. Chừ con gắng ăn xôi đậu, xôi muối mè dính mô chắc nấy, trời mới cho con đậu.

Tôi rướn cổ nuốt cho hết dĩa xôi mè vì thương mẹ hơn là sợ thi trượt. Tới ngày treo bảng, nghe loa đọc tên nhưng tôi không tin là mình đậu “càng cua” thứ nhì trường Hàm Nghi trong số hơn một nghìn thi sinh dự tuyển và có hai trăm trúng tuyển năm đó.
Suốt một đời, tôi không làm sao quên được hình ảnh mẹ tôi với hai hàng nước mắt sung sướng chảy dài trên đôi má phong trần vì lặn lội gieo neo nuôi con. Mẹ tôi nói như đã nắm được bí mật cuộc đời:
- Chộ chưa! Con nghe lời mạ, ăn xôi đậu nên mới thi đậu. Còn thằng Tý xóm Bàu, thằng Rô xóm Cụt, Thằng Lúi lò rèn to béo xắp hai con, nghe nói mỗi đứa ăn hai tô bún để đi thi nên trượt tuốt luốt.

Tôi muốn nói cho mẹ tôi biết bọn thằng Tý, thằng Rô, thằng Lúi… suốt cả mùa Xuân trốn học, thu sách vở trong bụi tre lá ngà đầu làng đi chơi; trong khi tôi học thuộc cháo sách Sử Ký của Trần Đinh, giải hết 1000 bài toán đố của Một Nhóm Giáo Viên, đọc nhuyễn 50 Bài Luận Mẫu và Tâm Hồn Cao Thượng của Hà Mai Anh… Thế nhưng nghỉ sao tôi lại thôi, vì mẹ cũng có một khung trời riêng của mẹ mà tôi chỉ dám núp sau áo mẹ để lặng im chiêm ngưỡng chứ không dám thả cánh chim lý luận làm huyên náo khung trời đó và làm mẹ buồn lòng.

Từ đó về sau nầy, tôi thường cố “cữ” ăn bún mỗi lần có thi cử. Ngay cả hơn 30 năm sau, khi tóc đã điểm bạc trên bước đường lưu lạc ở quê người, có những lần đi thi chuyên môn, đi phỏng vấn việc làm, đi thi tốt nghiệp trong trường đại học Mỹ, tôi vẫn “kiêng” ăn bún nhưng chỉ tìm cách né tránh âm thầm chứ không dám nói ra vì sợ bị chọc quê. Thật ra, mỗi lần đụng đến thi cử là tôi lại nhớ mẹ đến quặn lòng, nên tôi cử ăn bún để được cái cảm giác ấm áp thiêng liêng như hôm đó mình đang có mẹ thật gần

Đến khi lên Huế học, những huyền thoại về bún bò Huế càng có vẻ mọc cành mọc lá sum sê hơn. Thế giới học trò cũng nhỏ bé và xinh xinh như thành phố. Phía sau trường Hàm Nghi của tôi là Viện Bảo Tàng và nhà thờ Nguyễn Phước Tộc hay là Tôn Nhân Phủ. Bên kia đường là cửa Hiển Nhơn vào Đại Nội. Kế đó, có hai trường văn nghệ nhất Huế, đó là trường Quốc Gia Âm Nhạc và Cao Đẳng Mỹ Thuật mà lũ học sinh nghịch ngợm của chúng tôi thường chọc mấy anh chị sinh viên bằng cách gọi là “Trường Kèn” và “Trường Cọ”. Sinh viên hai trường Kèn Cọ thường la cà ở quán cà phê Tôn, nơi đó, thật ra chỉ là một chiếc xe kiểu xe sinh tố đặt mé trái trước Tôn Nhân Phủ do vợ chồng bác Tôn đứng bán bún bò và cà phê. Giới nghệ sĩ lang thang thường bàn luận một cách công khai rằng, ngày nào vợ chồng bác Tôn không cãi nhau là ngày đó bún bò không ngon vì thiếu đi cái “tinh thần hào sảng” của cặp vợ chồng bác Tôn khi nấu bún.

Giới văn nghệ sĩ cà phê Tôn còn đi xa hơn khi kháo nhau rằng nếu lỡ một mai kia, lịch sử thành thơ đưa họ lên làm lãnh tụ, thì họ sẽ đặt tên con đưòng từ Vỹ Dạ lên Ga Huế là “Đường Cơm Hến” và đường từ cầu An Cựu lên cầu Trường Tiền là “Đại Lộ Bún Bò” vì mỗi buổi sáng tinh sương, dọc trên con đường nầy có cả đoàn bún gánh phát xuất từ An Cựu tỏa ra khắp thành phố Huế. Khói xanh đun nồi bún bay phơ phất trên đường như một sự mời gọi êm đềm: Bún bò An Cựu, cơm hến Đò Cồn, trứng lộn Chợ Dinh, bánh canh Nam Phổ… Cũng may hay cũng buồn, lịch sử không phải là thơ nên tuy Huế có những con đường tình cảm mang tên kỷ niệm và giai nhân bất thành văn như đường Hàng Me, đường Áo Trắng, nhưng vẫn chưa có tên đại lộ Bún Bò.

Bản thân tôi từ một vùng quê ruộng đồng lên tỉnh học, sau mấy năm học đòi văn hóa Huế, cũng bị nhiễm bún bò rất nặng.. Tôi đã ưu tư nhiều về sự hiện diện của bún bò giò heo kể từ khi làm quen với một cô hàng xóm nhân dịp cô đi xe đạp, vạt áo dài tung bay phất phới và cuốn theo chiều gió mà quấn vào trong giây “sên”, trong “ổ líp”. Tôi bèn ra tay cứu khổn phò nguy gỡ áo em ra và không quên bôi thêm dầu sên lên tay lên mặt cho ra vẻ lẫm liệt, can trường. Tên cô là Mộng Hoàng, tất nhiên có cái họ đi trước rất chi là thế gia vọng tộc. Chỉ mới cái tên thôi cũng đủ biến tôi thành Trương Chi bên cạnh Mỵ Nương đi xe đạp mất rồi. ễ làng, tôi đi từ xóm trong ra xóm ngoài để sưu tầm những tên giai nhân đẹp nhất thì cũng chỉ có những Nguyễn Thị Gái, Trần Thị Chắt, Lê Thị Dẹp… đào đâu ra có Mộng, có Hoàng.

Những buổi sáng, tôi và Hoàng vẫn đạp xe đạp song song chung đường từ Thành Nội, qua cầu Trường Tiền, rồi Hoàng vào Đồng Khánh và tôi vào Quốc Học. Đôi ba lần Hoàng quay sang phía tôi cười, một phiến ớt màu bún bò tí ti đỏ chói nằm trong góc chiếc răng khểnh trắng nõn nà của Hoàng. Tự nhiên tôi cảm thấy hơi mất đi cái cảm giác thanh thoát khi nhìn sự hiện diện vô duyên của ớt màu nằm trên chiếc răng khểnh duyên dáng đã làm tôi xao xuyến bao lần. Tôi lên tiếng, nhẹ nhàng như nắng, sợ làm vỡ những giọt sương tình cảm long lanh. Rồi cả hai đứa dừng lại, đứng khuất sau gốc cây long não, tôi xé mảnh giấy trắng nhất trong tập vở học trò, vo lại thành cây tăm và nín thở khêu chút ớt màu bún bò vô tình nằm chênh vênh không đúng chỗ. Hai đứa nói nhỏ như ngại hàng long não đứng nghe.. Hoàng vùng vằng sợ tôi nhìn sâu hơn đáy mắt:
- Ngó dữ chưa tề, dị chết!
Tôi thanh minh như Vương Tử Trực:
- Coi tề, không ngó chộ mô mà khêu!
Khi lên xe đạp đi tiếp, Hoàng phàn nàn, cái phàn nàn mà tôi cho rằng đáng lẽ ra là một sự biết ơn:
- Me phiền dễ sợ! Sáng mô cũng bắt Hoàng ăn bún bò ớn phát sợ luôn.
Cái “ớn phát sợ” của Hoàng lại là cái ước mơ ngoài tầm tay của đám học trò nghèo như tôi. Cứ tưởng tượng mỗi buổi sáng, khi trời Huế còn lành lạnh mà được ăn một tô bún bò giò heo, có váng mỡ vàng mơ ngã hồng trên mặt, nêm thêm một “múi đũa” ớt tương màu huyết dụ chắc sẽ sáng mắt sáng lòng mà học một nhớ mười. So với một chén cháo gạo với muối trắng của tôi hay một chén cơm chan chút nước mắm ớt của tụi bạn cùng hoàn cảnh ăn điểm tâm trước khi đi học, tự nhiên một cảm giác hơi buồn buồn pha chút tủi thân lặng lẽ dâng lên trong lòng. Bún bò tự nó không có giai cấp, nhưng giai cấp tự nó có bún bò: Phận nghèo bấm bụng nằm co. Giàu thời nem chả, bún bò giò heo!

Tuổi trẻ của Huế êm đềm và dễ hòa diệu sống như giòng sông Hương. Tôi đã quên rất nhanh hình ảnh tô bún bò của Hoàng và chén cháo gạo của tôi. Hai đứa chưa bao giờ dám nói thương nhau mà chỉ lửng lơ nói chuyện đã cùng “thương con đường đi học”.. Mỗi cô gái Huế đều có một bà chúa trong hồn và mỗi cậu con trai Huế đều có một ông hoàng trong bụng. Bà chúa thì thích sang mà ông hoàng thì thích ngọt, cho nên tôi đã nhẹ dạ nghe Hoàng dỗ ngọt mà hẹn hò lần đầu lên chùa Thiên Mụ và về ăn bún bò Kim Long. 

Chúng tôi đã phạm vào hai điều tối kỵ làm tan vỡ bao nhiêu mối tình đầu đẹp như mơ của Huế: Đó là hẹn hò lần đầu không được lên chùa Thiên Mụ và không được ăn bún. Đồi Linh Mụ là đất thần kinh, nơi để chiêm bái chứ không phải là nơi tính chuyện ân tình hò hẹn. Tình cảm trai gái chớm mầm trên đất thánh thì sẽ không bén rễ trong tim người. Còn ăn bún là trơn tru, không níu kéo như gừng cay muối mặn, nên cuộc tình rồi cũng theo bún mà trôi đi! Rất có thể bà Linh Mụ đã nhìn thấy tôi và Hoàng hò hẹn, cho nên mới “xui” về Kim Long ăn bún. Bởi vậy, nên tới Hè, Hoàng giã từ Đồng Khánh, chuyển qua Jeanne d’Arc để chuẩn bị đi Tây.

Kỷ niệm chia tay cũng êm đềm mà nhức buốt như những cơn mưa phùn tháng Giêng của Huế. Hoàng gởi cho tôi cuốn sổ lưu bút có giấy pơ-luya màu xanh, màu trắng, màu hồng; có thắt nơ tím với câu thơ tiếng Tây quá quen thuộc với tuổi học trò của Huế ghi nắn nót ở trang đầu: “Partir, c’est mourir un peu!… Ra đi là chết trong lòng một ít. Biết nói sao bây giờ?!”. Tôi là học trò ban B (Toán – Lý Hóa toàn ròn) nên trong đầu lúc nào cũng lùng bùng ròng những đạo hàm và ẩn số của thầy Trần Tuệ và thầy Hồng Giũ Lưu. Huế lại là vùng đất ưa hò vay trả. Đào đâu cho ra chút văn chương man mác nòi tình mà đáp lại cho Hoàng đây. 

Tôi bỏ cả việc đi trại Hè để cố đào cho ra dăm câu thơ nếu không “ác liệt” thì ít ra cũng có vẻ môn đăng hộ đối với Hoàng. Bên tê dẫn thơ Tây thì bên ni phải trích thơ Mỹ. Tôi vô thư viện, tìm mục thơ tình lãng mạn để kiếm vài câu làm thuốc. Thơ tình chết tiệt rủ nhau trốn đâu mất cả. Bí quá, bỗng vớ được vài câu thơ đề tựa cuốn sách của Helen Steiner Rice, tôi thấy như mở cờ trong bụng: “Somebody loves you than you know. And will always be with you wherever you go!” (Ai nào thấu hết tình ai.. Chân mây góc biển thương hoài ngàn năm). Và, để phụ đề Việt ngữ tôi chọn hai câu thơ của Hàn Mặc Tử, đọc đi đọc lại đắc ý nổi da gà: “Người đi một nửa hồn tôi mất, Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!”.

Kèm với thơ thẩn là cái lược bằng gỗ trầm hương, vật kỷ niệm của mẹ, tôi xin và tặng lại cho Hoàng mà bỗng tự cảm thấy mình sâu sắc như một người tình trong chuyện thần thoại;Năm 1992 về lại con đường cũ, đọc thơ Xuân Hoàng mà nhớ bâng khuâng đốm ớt bún bò và nét cười răng khểnh:
Tôi đi trên đường Lê Lợi dọc sông Hương
Nắng trong suốt lọc qua hai hàng long não
Đất nước đổi thay qua bao mùa giông bão
Con đường xưa vẫn dáng dấp diệu kỳ…

Hơn mười năm, tôi mới có dịp trở lại chen chân trên đường phố Huế vào một buổi chiều 29 Tết. Đi trong nắng cuối Đông dìu dịu thương quen của Huế mà cứ ngỡ như mình mới xa Huế hôm qua. Nghĩ đến mai xa Huế tự nhiên tôi có cảm gíác như mình là kẻ phụ tình với Huế. Huế vẫn lặng lẽ chờ đợi như người tình trăm năm mà tôi thì cứ dứt áo ra đi lang bạt kỳ hồ.

Rồi quả đất cũng tròn và thế giới nầy cũng nhỏ nên “những kẻ phụ tình với Huế” vẫn có lúc gặp nhau ở quê người như một sự tình cờ của định mệnh. Hơn 30 năm sau, rất tình cờ, tôi gặp lại Mộng Hoàng ở Little Sàigòn, Quận Cam Ca-li. Tôi nhận ra Hoàng, bà chủ tiệm ăn có tên vừa Tây vừa Huế, nhờ chiếc răng khểnh “thương bắt chết” vẫn tô điểm cho nụ cười duyên dáng ngày xưa. Tất nhiên, tôi từ phương xa ghé vào đây cũng vì món “bún bò Huế chính gốc”. Nhắc chuyện cũ, cả hai đứa cùng cười ngặt nghẽo. Giọng Hoàng tuy phảng phất một chút âm vang trời Tây nhưng vẫn chưa phai màu Huế:
- Thời nớ, răng tụi mình dễ thương dễ sợ hí!
Tôi cười cười nhắc lại:
-Sau nớ, còn ai khêu ớt trên răng cho Hoàng nữa không?
Mắt Hoàng bỗng thoáng một chút trầm tư “nhắc làm chi sương khói thuở xa xăm” và ánh lên màu kỷ niệm:
- Lạ chưa tề. Nhắc chi nữa, dị chết!
Tôi nhìn Hoàng. Mắt bâng quơ đậu trên vài ba sợi tóc loà xòa điểm bạc. Hoàng biết và ngúng nguẩy che đi. Hoàng nói thật bất ngờ, giọng trang đài như đọc câu thơ tình thời cổ:
- Chải lược trầm hương nên sớm thành tóc bạc!
Tôi hiểu Hoàng nói gì nhưng phản ứng như anh học trò cả ngố:
- Thơ của ai rứa Hoàng?
Hoàng trả lời “mần đày”:
-Thơ ai? Thơ ông cai bến đò!
Đàn bà Huế mà đã “mần đày” thì Tần Thủy Hoàng cũng phải biết rằng mình đã lỡ vô tình, cần lẳng lặng chui vào ổ rơm nằm ngủ qua đêm.
Rứa đó! Dân Huế suốt đời vẫn là những đứa trẻ thơ mỗi lần nhớ Huế, nhớ những kỷ niệm đã thiu thiu ngủ trong ký ức và trên quê mẹ của mình.

Xa quê, rủ nhau ăn một tô bún bò Huế nấu bằng heo Mỹ, bò Anh, ruốc Tàu, bún Nhật… Miếng ăn có thể khác nhau vì ngon hay dở, nhưng nỗi nhớ quê nhà thì vẫn hiu hắt giống nhau trong cùng thẳm của mỗi tấm lòng. Bún bò Huế đã vượt sông Mỹ Chánh ra Bắc, vượt đèo Hải Vân vô Nam, vượt trùng dương sang Âu tới Mỹ. Giữa những phố phường xa lạ quê người, đọc trên một tấm biển của một tiệm ăn nào đó có ghi “Bún Bò Huế”, người Việt tha hương nào mà khỏi thấy lòng mình ấm lại. Bún Bò Huế không còn là riêng của Huế mà hương sả nồng, vị ớt cay, mùi ruốc mặn đã thấm vào mạch đất quê hương và lòng dân tộc Việt đầy yêu thương nhưng cũng lắm đoạn trường chưa có ngày sum họp.

Trần Kiêm Đoàn
Bun-bo

  

__._,_.___


Posted by: <vneagle_1

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List