Popular Posts

Tuesday, December 8, 2020

CÔ GIÁO MIỀN NAM, HỌC TRÒ MIỀN BẮC

 CÔ GIÁO MIỀN NAM, HỌC TRÒ MIỀN BẮC

Hơn 30 năm sau, họ mới gặp lại nhau trên đất Hợp Chủng Quốc. Cô giáo nay đã già. Học trò cũng không còn trẻ nữa. Cô dĩ nhiên không nhận ra trò, nhưng trò đã nhận ra cô. Và cô giáo Oanh bỗng nhớ lại tất cả những ngày giờ tai hoạ.
...
- Các đằng ấy ơi, cho tớ chơi với!
Con nhỏ cố nở nụ cười thân thiện nhất năn nỉ ba đứa bạn khác cùng lớp đang đánh đũa trước sân. Một đứa đang định tung trái banh lên, bỗng dừng lại, che miệng cười khúc khích.
- Đằng ấy? Hí! Hí!
Đứa kia chanh chua hơn:
- Ậy, tụi “tớ” chơi dở lắm, không dám chơi với “đằng ấy” đâu.
Cả bọn cùng cười xòa sau câu đùa của đồng bọn. Đứa thứ ba có vẻ biết điều hơn một chút:
-Tụi tao chơi gần hết bàn rồi, để mai rồi mày chơi chung nghe.
Con nhỏ buồn rầu quay lại. Nó biết con kia chỉ nói cho có lệ mà thôi. Ngày mai tụi nó sẽ nói những câu tương tự, hay cũng kiếm những cớ khác để từ chối không muốn cho nó chơi chung. Đây không phải là lần đầu tôi chứng kiến những đứa học trò trong lớp đồng lõa nhau cô lập Vân. Nó là đứa học sinh miền Bắc đầu tiên trong lớp tôi của niên khóa 1976/77.
Nhớ lại sau hôm khai giảng niên khóa mới được hai ngày, tôi đã giật mình lo lắng khi bỗng nhiên bị gọi lên phòng Giám Hiệu có chuyện cần! Chuyện gì? Đối với tình hình bây giờ, bị gọi lên văn phòng riêng rẻ như lúc này là một dấu hiệu không tốt. Nhưng sau khi “tự kiểm điểm”, tôi thấy mình không phạm điều gì sai nên cũng yên tâm đôi chút.

Mụ hiệu trưởng đón tôi niềm nở hơn mọi ngày. 


Thấy tôi đi vào, một người đàn ông trong trang phục bộ đội với cái nón cối trên bàn ngừng tay vấn thuốc đứng dậy chào. “Đồng chí” Trần Bình, theo lời giới thiệu, là một cán bộ cao cấp từ Hà Nội đang trong thời gian công tác dài hạn tại thành phố Hồ Chí Minh. Vân là con gái ông ta. Con bé hôm đó mặc áo bà ba trắng, quần satin đen, tóc dài và rậm kẹp lại gọn gàng phía sau … Nhìn Vân lễ phép chào, tôi bỗng nghe một chút xót xa. Quả là một xưởng đúc tuyệt vời! Con nhỏ trông không khác chi một cô cán bộ tí hon. Màu sắc duy nhất trên người con bé là đôi dép rỗ màu vàng nhạt. Đôi dép vẫn còn mới lắm.
Tôi dắt Vân về lớp và xếp ngồi bàn đầu để có thể dễ dàng “chú ý giúp đỡ” như lời cha nó ân cần nhắn nhủ. Bỏ qua những gì bên ngoài, nó cũng khá xinh xắn. Gương mặt bầu bĩnh tuy hơi đen, nói thưa lễ độ. Tuy chán ghét mụ hiệu trưởng đến thậm tệ, không chút cảm tình với người đàn ông trong bộ quân phục chuyên chính màu xanh ấy, tôi vẫn không thấy có lý do gì để ghét bỏ Vân.
Nhưng, bốn mươi mấy học sinh trong lớp tôi lại không nghĩ như vậy. Những ánh mắt kỳ thị ngày càng rõ rệt. Những mái đầu xanh tụm năm tụm ba xì xầm bàn tán. Tôi nghe rõ một lần chúng gọi Vân là “con bộ đội”, kháo nhau “Coi chừng nó cho mày đi học tập cải tạo đó!” v.v và vv…Vì thế mà đã gần tháng, con bé vẫn chưa hội nhập vào chúng bạn, mặc dù nó cũng cố gắng lắm. Tôi tội nghiệp giùm Vân, nhưng cũng không trách được lũ học trò còn lại. Xã hội và hoàn cảnh đã gieo vào đầu óc lũ trẻ thơ ngây những tư tưởng nghi kỵ, oán ghét tất cả những người đã trực tiếp, hay có liên hệ đến sự mất mát trong gia đình chúng. Tôi biết trong lớp có đứa cha là lính Cộng Hòa đã hy sinh đền nợ nước. Một số khác là con em của sĩ quan hay công chức dưới chế độ Sai gon cũ đang bị đi học tập cải tạo tại một vùng hoang vu nào đó, chưa rõ ngày về.
Anh Hai tôi là Đại Úy Biệt Động Quân, cũng khăn gói quả mướp theo lời nửa dụ dỗ nửa đe dọa của chính quyền nay đã hơn một năm. Tin tức duy nhất nhận được là vài lá thư gởi về mà địa chỉ là một hòm thư vô nghĩa. Lá thơ theo một khuôn mẫu nhất định như trăm ngàn cái khác, trấn an và động viên gia đình tham gia lao động, triệt để thi hành chính sách của nhà nước. Chị dâu tôi mòn mỏi trông chờ. Quỹ gia đình thu hẹp, chị phải dấn thân ra chợ trời chụp giựt, tráo trở để kiếm tiền nuôi ba đứa con.. Những lúc tôi sang thăm cháu là dịp chị mở bầu tâm sự. Chị nguyền rủa, oán than không tiếc lời với thời thế đảo điên sâu bọ làm người … ngay trước bọn nhỏ.
Cha mẹ đã vậy, con cái cũng dễ dàng ảnh hưởng. Người lớn oán người lớn, thì trẻ con cũng …ghét trẻ con. Dĩ nhiên những mái đầu thơ chưa đủ trí khôn để hiểu thế nào là độc tài, là đảng trị, là mất mát tự do … Đầu óc lũ trẻ như những trang giấy trắng mà lớp cha anh đã vô tình quệt vào một vết đen thù ghét, tị hiềm.
Tôi không ghét Vân như học trò tôi. Trái lại là khác. Tôi biết nó đang bị cô lập và lạc loài giữa một môi trường xa lạ. Nhưng mỗi lần nhìn Vân, tôi không khỏi liên tưởng tới mụ hiệu trưởng hợm hĩnh, lúc nào cũng rình rập các giáo viên. Mụ cũng đi làm bằng áo bà ba trắng, quần satin đen khuôn mẩu đó, ngồi bắt chân lên ghế salon trong văn phòng say sưa giảng chủ nghĩa Mác-Lê. Tôi cũng thấy qua con bé, cha nó hôm gặp mặt. Mặc dù ông ta vẫn lịch sự và nhũn nhặn, tôi cũng không khỏi mang tư tưởng đây là người đã cướp đi tất cả tự do của toàn miền nam, trong đó có tôi. Không chừng ông ta đã đối diện với anh tôi trong một trận chiến nào đó.
Vân học thua kém chúng bạn rõ ràng. Những môn phải học thuộc lòng, con bé tương đối chu toàn một cách chăm chỉ. Nhưng về toán số thì thật bết bát. Những bài toán đố đơn giản với trình độ học sinh lớp bốn cũng khiến con bé ngồi cắn bút. Tôi cũng không rõ ngoài Bắc nó đã học lớp mấy, nên khi lên gặp mụ hiệu trưởng, tưởng là sẽ tìm hiểu thêm trình độ con bé để xếp lớp cho đúng. Ai ngờ mụ trừng mắt nhìn tôi:
- Chị bảo sao? Vân mà kém toán ư? Vô lý thật. Nó là học sinh tiên tiến, và xong lớp hai ở Hà Nội rồi. Chị cũng biết trung học ở miền Bắc ưu việt chỉ 10 năm thôi là đã tương đương với lớp 12 trong này rồi (mụ hãnh diện). Nếu cứ học ngoài ấy, nó lên lớp ba, là phải bằng… lớp năm trong này cơ đấy. Tôi xếp nó vào lớp bốn của chị để thử, rồi tính sau…
Mụ ngừng một chút lấy hơi, rồi tiếp:
- Chị có theo đúng chương trình không? Tôi muốn xem lại giáo án của chị.
Trời ơi lý luận như mụ thật là độc đáo. Bỏ qua trình độ của hai học sinh tốt nghiệp hệ 10 năm và 12 năm. Nhưng nói một học sinh lớp hai miền Bắc đã tương đương với lớp bốn trong Nam, thì tôi cũng đành chịu. Cơn tức giận trào lên, tôi định cãi. Nhưng câu cuối cùng của mụ làm tôi chột dạ, ngậm bồ hòn nuốt xuống. Nói thêm với người đàn bà này chỉ vô ích. Không chừng mụ lại ghép cho tôi tội phản động, bài bác chế độ … thì mất việc. Đối với hoàn cảnh hiện nay, mất việc là không lao động, là kinh tế mới. Thôi được, mụ là kẻ chiến thắng làm vua, tôi thua phải làm giặc thôi!

*
Chiến tranh đã qua, Nam Bắc một nhà cùng nhau tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa. Những cái loa thông tin nhai đi nhai lại một điệp khúc cằn cỗi và trơ trẽn. Chỉ một thời gian ngắn, toàn miền Nam đã thấm đòn. Người ta bảo nhau trông thấy Văn Vĩ lái xe Honda dạo mát Sàigòn! Đi đâu tôi cũng nghe bàn tán về những chuyến đi danh từ nói: tàu 3 blocks, máy Yammar đầu xanh, đầu bạc v.v…Chỉ nghe và biết thế thôi, tôi hiểu mình không có diễm phúc tham dự vì gia đình không đủ khả năng tài chánh. Nếu có, ba mẹ tôi cũng phải ưu tiên cho hai đứa em trai đang tuổi sắp đi nghĩa vụ quân sự. Tôi chuẩn bị tinh thần làm cái cột đèn bất đắc dĩ.
Một người bạn tù chung trại vốn là bác sĩ quân y có chuyên môn nên được thả về trong đợt đầu tiên ghé qua báo tin, anh Hai tôi đã ra đi vĩnh viễn. Mấy tháng trước, đúng một năm sau ngày tình nguyện đi học tập cải tạo, anh và một số sĩ quan khác chung cảnh ngộ đã cùng nhau đòi hỏi ban quản giáo nếu họ có tội gì hãy đưa ra tòa xét xử công bằng. Tại sao lừa dối họ nói đi học tập có 10 ngày mà nay đã một năm trôi qua, ai cũng để lại vợ dại con thơ không rõ cuộc sống thế nào, đem thân khổ sai lao động trên những vùng rừng thiêng nước độc mà ngày về tăm tối mù khơi.
Kết quả nhóm sĩ quan đó bị kết tội toan tính chống đối nhà nước, biệt giam với những hình phạt khắc nghiệt. Anh Hai tôi vốn đang bị bệnh, thể chất suy yếu nên không kham nổi, ra đi về miền vĩnh cửu. Anh mất đã mấy tháng rồi nhưng gia đình, cha mẹ, vợ con hoàn toàn không hay…
Tôi lãnh nhiệm vụ qua báo tin dữ cho chị Hai, vì người bạn tù chỉ đến nhà ba mẹ tôi nói vài câu ngắn rồi phải đi ngay. Tối hôm đó, mắt tôi quầng đỏ ấp a ấp úng không thành lời. Chị vẫn bình tĩnh hỏi chuyện gì đã xẩy ra cho anh Hai? Tôi như được mở khóa, khóc òa như đứa trẻ, kể lể. Chị ngồi bất động, không một phản ứng. Nhìn chị, tự nhiên tôi cảm thấy rờn rợn. Người đàn bà trước mặt chỉ hơn tôi hai tuổi mà như xa cách đến hai mươi năm. Chỉ hai năm trời tảo tần nuôi con, nuôi chồng, đã tàn phá dung nhan chị đến độ tàn nhẫn. Nay niềm hy vọng cuối cùng đã tắt. Chị ngồi yên hồi lâu, lẳng lặng đứng dậy bên giường ôm thằng Út lúc đó đang ngủ vùi vào lòng, xua tay ra hiệu cho tôi đi về. Tôi biết mình không thể nói được điều gì thêm. Tất cả những lời an ủi hay khuyên nhủ lúc này chỉ là vô nghĩa. Bước ra cửa, tôi quay lại nhìn và thấy giọt nước mắt đầu tiên của chị rơi trên mặt thằng bé.

*
Hòa bình rồi mà súng vẫn nổ trên khắp mọi miền. Đâu đó vẫn còn có kẻ ngã gục, còn tù tội, chống đối. Suốt hai mươi năm nội chiến, gia đình tôi đã may mắn toàn vẹn. Anh Hai tôi là người duy nhất trong gia đình chính thức cầm súng chiến đấu, nhưng đã trở về với mái ấm gia đình sau lời kêu gọi đầu hàng của cấp lãnh đạo từ tháng tư năm ấy. Nay anh đã nằm xuống, hy sinh trong muộn màng và tức tưởi. Sự ra đi của anh đã tác động vào tâm lý tôi mãnh liệt.
Ngày Sàigòn hoàn toàn rơi vào tay cộng sản, gia đình tôi cũng như tất cả người miền nam dù biết là tương lai bất định, nhưng dù sao cũng còn niềm hy vọng mong manh: hòa bình. Cộng sản hay quốc gia, cũng là người Việt. Giải đất này từ bắc chí nam đã rách nát sau bao năm chịu đựng bom đạn. Đã đến lúc mọi người dẹp hết hận thù, chủ nghĩa, để cùng nhau hàn gắn.
Mọi hy vọng chỉ là cái bánh vẽ to tướng. Dân miền Nam thấm đòn. Đã muộn rồi. Mỹ đã cút và Ngụy cũng đã nhào. Chính phủ mới nắm chặt bao tử người dân qua chính sách hộ khẩu. Hàng ngũ công an dày đặc khắp phố phường làm dân chúng hết đường cục cựa, chỉ còn âm thầm chịu đựng và… nguyền rủa.
Đến bây giờ tôi mới biết thế nào là căm hờn. Thời gian qua, tôi cũng như bao người khác, chán chường một cách thụ động. Nhưng ngoài những mất mát chung, chế độ cũng chưa đụng chạm gì đến gia đình tôi. Nhìn chung quanh, những gia đình với nhiều bất hạnh; những người mất nhà mất cửa từ vùng kinh tế mới trở về thành phố lang thang đói khát không hiện tại không tương lai.. tôi đã thấy thỏa mãn vì hoàn cảnh mình cũng còn sáng sủa hơn bao người khác.
Tôi đã lầm. Sự yên ổn hiện tại của mình chỉ là tạm thời. Chế độ sẽ không chừa một ai khi thời gian cho phép. Cái chết của anh Hai tôi là phát súng khai hỏa đầu tiên. Tôi căm hờn nhìn những cái nón cối, đôi dép râu, khẩu súng AK … những thứ tiểu biểu tượng trưng cho chế độ.
Vân đập vào mắt tôi mỗi ngày qua cách ăn mặc và cái giọng Bắc Kỳ chua chua của nó.. Ôi đối với tôi, con nhỏ này đã được nhào nặn từ lúc mới sinh ra. Đầu óc nó chắc chứa đầy những …Bác, và đương nhiên khi lớn lên sẽ sẵn sàng chết cho Đảng. Trời ơi, nó sẽ là một con nhỏ cộng-sản!
Trước kia tôi còn thông cảm, giúp đỡ Vân, nay tôi lại ngấm ngầm khoái trá nhìn học trò cô lập “con bộ đội” này (?). Tôi biết mình đã nhỏ mọn và sai lầm khi tự nhiên ghét bỏ Vân, nhưng cái chết của anh tôi như đám mây đen kịt che khuất mọi suy nghĩ công bằng mà một người lớn, có học như tôi phải nhận rõ.
Có lẽ Vân cũng thấy sự thay đổi và thắc mắc lắm. Người duy nhất trong lớp đối xử tốt với nó đã về hùa với đám đông để nó một mình. Vân càng mặc cảm hơn khi biết mình thua kém bạn bè trong các môn học. Đôi khi nhìn con bé ở lại trong lớp lơ đãng nhìn các đứa khác chơi đùa ngoài sân trong giờ giải lao, tôi cảm thấy tội nghiệp. Nhưng rồi hình ảnh anh tôi ngã gục nơi trại cải tạo nổi lên, tôi lại ghét nó thêm.

*
Sau khi vào lớp độ nửa tiếng, tôi được gọi lên phòng Giám Hiệu. Thôi chết! Hậu quả đã đến như tôi lo sợ, nhất là hôm nay Vân vắng mặt.
Sự việc bắt đầu từ tuần trước, khi trong giờ sinh hoạt tôi chọn bài hát “Đêm qua em mơ gặp bác Hồ” cho cả lớp cùng ca. Thay vì câu “râu bác dài tóc bác bạc phơ”, hai ba cái miệng từ cuối lớp gào lên “chân bác dài, bác đạp xích lô” tôi thấy Vân quay lại nhìn thằng Tùng to giọng nhất. Thằng nhỏ không biết tai họa sắp tới, còn làm mặt xấu chọc Vân. Tôi làm ngơ, vội vàng chấm dứt ngay giờ sinh hoạt và để ý Vân. Nhưng con nhỏ không để lộ nét gì khác hơn ra ngoài mặt.
Một tuần qua, tôi hồi hộp sợ Vân lên báo cáo mụ hiệu trưởng. Thằng Tùng chắc chắn bị đuổi học vì tội phản động. Ba mẹ nó ở nhà dĩ nhiên gánh lấy hậu quả. Và tôi cũng bị rắc rối to, nhất là đã lơ qua không xét đến.
Khi lên tới phòng giám hiệu và nhìn vào, tim tôi chùng xuống vì thấy Vân lấp ló trong đó. Niềm lo âu đã thành sự thật! Không còn đường tháo lui, đành đẩy cửa bước vô. Tôi ngạc nhiên vì người đứng dậy chào không phải mụ hiệu trưởng đáng ghét. Người đàn ông là cha của Vân. Ông ta vẫn trong bộ quân phục màu xanh, cái nón cối để bên cạnh như lần đầu gặp gỡ cách đây mấy tháng. Hắn đến đây để bắt tôi ư? Câu hát giễu vô ý thức của một đứa trẻ có thể đưa đến kết quả nghiêm trọng như vậy sao? Tôi thực sự lo sợ.
Cha của Vân không đi ngay vào vấn đề như tôi nghĩ. Ông ta quanh co hỏi thăm tình hình nhà trường học sinh … đủ mọi chuyện. Đôi khi đi vào chuyện cá nhân riêng tôi nữa. Hắn muốn gì đây? Định giở trò mèo vờn chuột ư? Tự ái sùng sục nổi dậy đẩy lui niềm lo sợ lúc ban đầu. Tôi thấy mình đang đối diện với một kẻ thù xảo trá. Hắn đã chiến thắng chúng tôi bằng vũ lực, và nay đang muốn đánh gục tôi bằng tâm lý.Tôi ngang nhiên đối đáp với tất cả niềm ấm ức bấy lâu chất chứa về phương pháp giảng dạy, chương trình, giáo án v.v… và nhất là nhấn mạnh về trường hợp Vân không thể theo nổi các bạn cùng lớp khác. Hắn kiên nhẫn nghe, thỉnh thoảng gật gù. Tôi hăng say bày tỏ tư tưởng không chút e ngại. Tôi cảm thấy sung sướng. Ít ra tôi cũng một lần hiên ngang đối diện với hoàn cảnh.
Khi tôi ngưng nói, người đàn ông nhìn tôi thật lâu, và chậm rãi:
- Cám ơn cô đã cho biết những điều vừa rồi. Quả thực tôi chưa bao giờ nghĩ đến … Dù sao, tôi đến đây hôm nay là để cùng cháu Vân từ giã cô. Tuần tới tôi trở ra công tác tại Hà Nội và Vân sẽ theo tôi ra ngoài ấy.
Câu nói thật bất ngờ làm tôi không tin ở tai mình. Ông ta và Vân gọi tôi lên đây để từ giã, không phải để bắt mình ư? Tôi quay sang nhìn Vân và nghe nó nói:
- Thưa cô, em xin chào cô.
Sự việc xẩy ra làm tôi hơi lúng túng. Thì ra Vân không báo cáo gì về vụ thằng Tùng. Bỗng dưng tôi thấy hổ thẹn. Mình đã ngờ oan, lại thêm đối xử không đẹp với Vân gần tháng qua. Tôi cảm thấy cay cay ở mắt. Bỗng nhiên cái nón cối không còn nằm trên đầu của Vân nữa. Đôi dép râu cũng trở lại nguyên hình đôi dép ny-lông màu vàng nhạt. Trước mặt tôi là một học trò thơ ngây như bao nhiêu đứa trẻ khác. Nhân chi sơ, tính bản thiện. Trong đầu óc của Vân có thể chứa đầy bác và đảng, đoàn và đội, nhưng tất cả cũng chỉ vì nó lỡ sinh ra và lớn lên trong xã hội, trong một chế độ như vậy. Hay đúng ra, Vân cũng như bao kẻ khác, là nạn nhân của chính sách “Vì lợi ích mười năm: trồng cây; vì lợi ích trăm năm: trồng người” mà thôi.
Lần đầu tiên sau cái chết của anh Hai, tôi trở về với bản ngã vô tư của mình. Đành rằng chế độ có nghiệt ngã, đó là chuyện người lớn. Trẻ thơ ở đâu cũng chỉ là những trang giấy trắng. Nếu tôi không thể tô xanh điểm hồng trên những trang giấy ấy, thì ít nhứt cũng không có quyền bôi lọ bằng những giọt mực đen.
Vân đứng khép nép ở góc phòng, sau lưng cha nó, ngượng nghịu cúi gầm mặt, thỉnh thoảng len lén nhìn tôi. Năm năm trời làm nghề giáo, trường hợp học trò nghỉ học giữa niên khóa là chuyện đã xẩy ra. Những lần ấy, tôi thường cảm động nắm tay chúng để nhắn nhủ, cầu chúc em những lời sau cùng. Nhìn đứa học trò bé dại vì hoàn cảnh phải rời ghế nhà trường, tôi thường bâng khuâng khi nghĩ rằng trong lớp từ đây sẽ thiếu vắng một bóng dáng quen thuộc, giọng nói ngây thơ. Nhưng tôi cũng cảm thấy tâm hồn yên ổn vì những ngày tháng qua đã hết lòng thương yêu, dạy dỗ chúng. Đối với Vân lúc này, tôi thấy có sự thiếu sót, một món nợ ân tình với con bé. Tôi muốn chạy lại ôm Vân vào lòng, quên đi tất cả những hận thù, bom đạn, chủ nghĩa…, tất cả những gì đã chia cách hai chúng tôi.
Cha của Vân nhìn đồng hồ và đứng dậy:
- Đến giờ chúng tôi phải lên đường. Xin chào cô.
Ông ta bắt tay tôi từ giã. Vân lẳng lặng theo sau, nó lí nhí:
- Thưa cô em đi.
Cổ tôi nghèn nghẹn, muốn nói vài lời, nhưng không thốt lên được, chỉ gật đầu.
Ra tới cửa, ba của Vân dừng lại, hơi đắn đo một chút rồi nói:
- Tôi muốn thành thực khuyên cô một điều. Những gì cô vừa nói với tôi, đừng nói thế với ai cả. Không thay đổi gì được đâu. Với thời thế bây giờ, cô cũng biết…
Ông bỏ dở câu nói. Tôi gật đầu hiểu ý, và nhìn hai cha con bước mau trên sân trường đầy nắng.
*


Món nợ ân tình của cô giáo Oanh, nhân vật xưng “tôi” từ đầu câu chuyện với cô bé Vân đó, đến hơn ba mươi năm sau mới được trả, trên mảnh đất tự do có tên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này.
Cô học trò từ miền bắc xã hội chủ nghĩa đi lao động xuất khẩu tại Cộng Hoà Dân Chủ Đức. Năm 1989, khi bức tường Bá Linh sụp đổ, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu, Vân đã mau mắn xin ở lại xin tỵ nạn với nước Đức tự do nhân ái, không về Việt Nam nữa. Ba năm sau, cô gặp một người Việt du lịch từ Hoa Kỳ sang, kết hôn, và di dân theo chồng về Mỹ. Cô đang làm phụ tá văn phòng cho một bác sĩ Việt Nam ở Cali
Cô giáo Oanh ở lại Sài Gòn một thời gian, cùng chồng là một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa từng bị đi học tập cải tạo. Hai vợ chồng và gia đình được chương trình HO đưa sang định cư tại Cali 1991.
Cô nay đã già, hồi hưu, và đi khám bác sĩ.
Hai người gặp lại nhau tại phòng mạch. Cô dĩ nhiên không nhận ra trò, nhưng trò đã nhận ra cô. Hai cô trò đã ôm nhau mừng mừng tủi tủi sau hơn ba mươi năm xa cách.
Còn ông cán bộ Trần Bình?
Vân ngậm ngùi cho hay cha của cô đã tử trận trong cuộc chiến biên giới 1979 với Trung Cộng. Mẹ của Vân đã dùng tất cả tài sản dành dụm được chạy chọt cho Vân đi lao động sang Đông Đức, dặn dò con gái tìm cơ hội đi luôn, nếu có thời cơ hãy đào thoát về miền tự do, đừng bao giờ trở lại Việt Nam nữa.
Vân đã thành công. Cô đã là một công dân Mỹ. Các con của Vân đều được sinh ra trên đất nước tự do này.
Về phần tôi, tác giả bài viết, may mắn được cô giáo Oanh kể lại mối duyên gặp gỡ với cô học trò tên Vân.
Cô giáo Oanh đó, là chị của tôi.
TháiNC

__._,_.___


Posted by: Thoai Lien 

Wednesday, December 2, 2020

TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT VÀ TRƯỞNG GIẢ CẤP CÔ ĐỘC 123456

 


===---------------


TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT

VÀ TRƯỞNG GIẢ

CẤP CÔ ĐỘC

Toàn Không

       Khi Đức Phật trở lại du hóa tại nước Xá Vệ trong rừng Đồng Tử Thắng, đạo tràng Kỳ Hoàn, thì Trưởng giả Cấp cô Độc mang bệnh hiểm nghèo; hôm ấy, Trưởng giả Cấp cô Độc bảo một người làm sứ-giả đi đến đảnh lễ và thăm hỏi Đức Phật, rồi sau đó đến đảnh lễ Tôn giả Xá lợi Phất. 

Người này nói ý nguyện của Trưởng giả muốn được gặp Tôn-giả Xá lợi Phất, nhưng vì Trưởng giả bị bệnh trầm trọng nên không thể đến được, và xin Tôn giả vì lòng từ mẫn mà đến nhà Trưởng giả.

 1). CÁCH CHỮA BỆNH KỲ LẠ: 

       Vào sáng hôm sau, Tôn giả Xá lợi Phất đi đến nhà Trưởng giả Cấp cô Độc. Trưởng giả vừa trông thấy Tôn giả đến cửa, liền từ giường nằm muốn đứng dậy, nhưng Tôn giả cản lại mà bảo:

- Trưởng giả cứ nằm, đừng đứng dậy vì còn đang bệnh, bệnh trạng của Trưởng giả hôm nay thế nào, có thuyên giảm không, ăn uống được không?

       Trưởng giả trả lời:

- Bệnh trạng của con rất nguy hiểm, ăn uống chẳng được, sự đau đớn chỉ tăng thêm mà chẳng giảm bớt chút nào! Không chừng vì vậy mà con có thể chết bất cứ lúc nào.

       Tôn giả Xá lợi Phất bảo:

- Này Trưởng giả,  Ông đừng ngại, chớ nên sợ, vì nếu là kẻ phàm phu ngu si bất tín (không tin Phật Pháp Tăng) thì khi chết sẽ sinh vào cõi xấu; còn Trưởng giả không hề có sự bất tín mà chỉ có chính tín. Nhờ vậy nên sẽ diệt được đau nhức, sinh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do lòng tin ấy nên sẽ chứng qủa Tư đà Hàm (Thiền thứ hai), hay chứng qủa A na Hàm (Thiền thứ ba), vì Trưởng giả đã chứng qủa Tu đà Hoàn (Thiền thứ nhất).

       Nên biết, ông chớ nên ngại, đừng sợ, vì kẻ ngu si có đủ thứ tham lam, có đủ thứ sân hận giận thù, nên khi chết sinh thẳng vào cõi ác; còn ông không hề có tham, sân, mà chỉ có huệ thí (bố thí, cúng dường không vụ lợi). Nhân có huệ thí nên: sẽ tiêu diệt đau đớn thống khổ, và sinh ra thoải mái vô cùng; hoặc nhân có huệ thí ấy mà chứng qủa thứ hai Tư đà Hàm hay qủa thứ ba A na Hàm, vì ông vốn đã chứng quả thứ nhất Tu đà Hoàn.       Ông không nên sợ, chớ lo, vì nếu là kẻ phàm phu ngu si không có đa văn, khi chết sinh vào chỗ không tốt, còn ông có đa văn (học rộng hiểu nhiều, ghi nhớ không quên), nhờ vậy nên sẽ diệt trừ đau đớn phiền hà, và sinh ra vui vẻ vô cùng; hoặc nhân có đa văn nên sẽ chứng quả Tư đà Hàm hay A na Hàm, vì ông vốn đã chứng quả Tu đà Hoàn.

       Điểm nữa: ông đừng ngại, chớ sợ, vì kẻ làm ác có ác giới (làm các việc ác), nên khi chết liền sinh thẳng vào Địa ngục; còn ông không hề làm các điều ác, mà chỉ có thiện giới (làm các việc lành). Ông có thiện giới nên sẽ tiêu diệt sự đau đớn bệnh tật, và sinh ra vui vẻ sung sướng. 

Hoặc nhân có thiện giới ấy nên sẽ chứng qủa thứ nhì hay quả thứ ba, vì ông đã chứng qủa thứ nhất rồi.  Trưởng giả nên nhớ, không nên sợ, đừng sợ, vì sao? 

Tại vì nếu là người phàm phu ngu si có ác ngữ (nói dối, nói đâm thọc, nói lời độc ác, và nói lời thô bỉ nhảm nhí), nên khi chết đi sẽ sinh vào đường ác; còn Trưởng giả không hề có ác ngữ mà chỉ có chính ngữ, có chính ngữ nên sẽ diệt tận sự đau đớn trong thân thể, sinh ra thoải mái nhẹ nhàng. Hoặc nhân có chính ngữ mà chứng qủa Tư đà Hàm hay A na Hàm, vì Trưởng giả đã chứng Tu đà Hoàn.  Ông cũng chẳng phải lo, chẳng phải sợ, tại sao vậy? 

Vì nếu là kẻ có tà nghiệp (hành động nơi thân không chân chính như sát sanh, trộm cướp, tà dâm), nên khi chết sinh vào Địa ngục; còn ông không hề có tà nghiệp, mà chỉ làm các thiện nghiệp, chính nghiệp, nên sẽ tiêu diệt mọi buồn phiền, và sinh ra an ổn nhẹ nhàng. 

Hoặc nhân có chính nghiệp mà chứng qủa Tư đà Hàm hay A na Hàm, vì ông vốn đã chứng qủa Tu đà Hoàn.       Lại nữa, ông đừng sợ, chớ sợ, vì sao thế?

Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si làm tà mạng (sống bằng nghề nghiệp không chính đáng như nghề trộm cắp cướp, nghề giết súc vật, nghề dùng bùa chú v.v. để sinh sống) nên khi chết sẽ sinh vào ba cõi ác; còn ông chỉ có chính mạng, nhân có chính mạng nên sẽ chấm dứt sự thống khổ, sinh ra thoải mái. Hoặc nhân có chính mạng nên sẽ chứng qủa thứ hai hay thứ ba, vì ông đã chứng qủa thứ nhất rồi..

       Trưởng giả, không sợ, đừng lo, vì sao vậy? Vì kẻ ngu-si có tà kiến, nên khi chết đi sinh vào chỗ xấu; còn Trưởng giả chỉ có chính kiến (hiểu biết có thiện nghiệp, ác nghiệp, thiện báo ác báo, có đời này đời khác, có luân hồi nhân quả v.v), nhân có chính kiến nên sẽ tiêu diệt hết đau đớn lo buồn. Hoặc nhân có chính kiến nên sẽ chứng qủa Tư đà Hàm hay A na Hàm, vì Trưởng giả đã chứng qủa Tu đà Hoàn.  Sau nữa, ông lại càng không nên sợ, chớ sợ, vì sao? 

Vì kẻ ngu si có tà giải (tà giải có nghĩa là ý thức, kiến giải, hiểu một cách tà vạy), nên khi chết sẽ sinh vào chỗ dữ; còn ông chỉ có chính giải nên sẽ tiêu diệt được sự thống khổ, sinh ra khoái lạc vô cùng; hoặc nhân có chính giải nên sẽ chứng qủa thứ nhì hay thứ ba, vì ông đã chứng qủa thứ nhất.

      Sau chót, ông đừng sợ, cũng chẳng phải lo tí nào, tại sao vậy?

Tại vì nếu là kẻ phàm phu ngu si có tà trí (hiểu biết sai) nên khi chết đi thẳng đến chỗ không tốt; còn ông không có tà trí mà chỉ có chính trí, nhân có chính trí nên sẽ chấm dứt mọi bệnh tật đau khổ, sinh ra khoan khoái nhẹ nhàng; hoặc nhân có chính trí nên sẽ chứng qủa thứ hai Tư đà Hàm hay qủa thứ ba A na Hàm, vì ông vốn đã chứng qủa thứ nhất Tu đà Hoàn.

       Sau khi nghe Tôn giả Xá lợi Phất thuyết giảng một hồi như thế, tự nhiên bệnh trạng của Trưởng giả Cấp cô Độc biến mất; đang nằm, ông ngồi dậy nhẹ nhàng và khen:

- Hay thay! Hay thay! Tôn giả thuyết pháp cho bệnh nhân thật là kỳ diệu, rất lạ, như có một điểm gì huyền bí; thưa Tôn giả, khi con nghe bài pháp giáo hóa cho bệnh nhân vừa xong, liền chấm dứt bệnh khổ, sinh ra thoải mái vô cùng. Bây giờ bệnh của con dứt hẳn, không còn đau đớn mệt mỏi nữa, và bình phục khỏe mạnh rõ ràng.

 

(Còn tiếp)

 

 

 

TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT

VÀ TRƯỞNG GIẢ

CẤP CÔ ĐỘC

Toàn Không

(Tiếp theo)

2). NHÂN DUYÊN TRƯỞNG GIẢ CẤP CÔ ĐỘC ĐỐI VỚI ĐỨC PHẬT: 

      Thưa Tôn giả, nhân tiện đây con xin kể về nhân duyên của con đối với Đức Thế Tôn và đối với Tôn giả như sau:

        Một hôm, nhân có chút việc cần làm, con đi đến thành Vương Xá, và tạm trú ngụ tại nhà Trưởng giả, một người bà con.. Con thấy vị Trưởng giả sai bảo con cháu và người giúp việc dọn dẹp trang hoàng nhà cửa, sắp xếp bàn ghế; vị Trưởng giả ấy đích thân sắp đặt một chỗ ngồi cao, trông trang nghiêm vô cùng.

       Thưa Tôn giả, sau khi thấy vậy, con liền hỏi vị ấy rằng: “Ông vì việc hôn nhân cưới hỏi, hay thỉnh Quốc Vương, hay mời Đại thần mà sửa soạn lớn lao như thế này?”

       Lúc ấy, vị ấy trả lời con rằng: “Tôi không phải vì việc hôn nhân, cũng chẳng phải thỉnh Quốc Vương hay mời Đại thần; nhưng tôi sửa soạn bữa cơm tiệc chay, vì trưa ngày mai tôi sẽ cúng dường Đức Phật và đại chúng Tỳ kheo”.

       Từ thuở nhỏ cho đến lúc ấy, con chưa từng được nghe đến danh hiệu Đức Phật, nên khi nghe rồi, rất là ngạc nhiên, toàn thân con lông dựng ngược, con liền hỏi rằng: “Ông nói Phật, vậy thế nào là Phật?”

      Vị Trưởng giả trả lời con rằng: “Ông chưa được nghe sao? Có một vị dòng dõi họ Thích, từ giã vua cha giàu sang quyền quý, bỏ hết cung vàng điện ngọc, thể tần mỹ nữ. Vị ấy xa lià vợ đẹp con khôn và đại gia đình Hoàng tộc, cắt bỏ râu tóc, khoác áo Cà Sa, với lòng sắt đá sống nơi rừng hoang để tìm đạo; vị ấy đã chứng quả vô thượng Chính Đẳng Chính Giác, vị ấy gọi là Phật”.

       Con lại hỏi rằng: “Ông đã nói: “Đức Phật và đại chúng Tỳ kheo”, nay tôi đã hiểu Phật, nhưng còn thế nào là đại chúng Tỳ kheo?”.

       Vị ấy trả lời con: “Ông nên biết, còn có rất nhiều vị có dòng họ và danh hiệu khác nhau, cũng cạo bỏ râu tóc, mặc áo Cà Sa, những vị này cũng rời bỏ gia đình sống không nhà, với lòng chí thiết đi theo Đức Phật để học đạo, những vị đó gọi là đại chúng Tỳ kheo (Ngày nay gọi là chư Tăng). Đức Phật và đại chúng Tỳ kheo ấy là những bậc tôi sẽ thỉnh đến vào trưa ngày mai, hiện nay Đức Phật và đại chúng Tỳ kheo đang trú ngụ tại vườn Ca lan Đà, trong rừng Trúc, thuộc thành Vương Xá này. Nếu ông muốn có thể đến đó hay ở lại đây đến ngày mai cũng có thể gặp được, tuỳ ý”.

       Thưa Tôn giả, nghe vị ấy nói xong, lòng con háo hức mong mỏi muốn được gặp Đức Phật; nhưng con tự nhủ rằng hôm sau sẽ được cơ hội gặp Phật, nên con lấy làm vui mừng và yên tâm đi ngủ. Con đi ngủ, chẳng biết đã ngủ được bao lâu, khi thức tỉnh, trong lòng con lại nhớ ngay đến việc gặp Phật và không còn ngủ lại được nữa. Con ngồi dậy nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy trời sáng, vì lòng chí thành của con mong muốn được yết kiến Đức Phật, nên lúc đang đêm ấy mà con tưởng đã gần sáng rồi.

     Con liền từ nhà vị Trưởng giả ấy đi ra, đến trạm kiểm soát nơi cổng thành, trời vẫn còn chưa sáng hẳn. Con vượt cổng thành để đi ra bên ngoài, chẳng bao lâu con đi ngang qua một nghĩa địa, tự nhiên trời tối hẳn lại, ánh sáng biến mất, con cảm thấy sợ hãi, toàn thân nổi gai ốc. Lúc ấy con nghĩ: “Mong sao đừng có người hay ma quỷ đến xúc nhiễu (xúc phạm quấy nhiễu)”.

       Đột nhiên, con thấy có ánh sáng tỏa chiếu khắp và có tiếng nói: “Này Trưởng giả đừng sợ, này Trưởng giả chớ sợ, vì sao vậy? Vì kiếp trước tôi vốn là bạn của ông tên là Mật Khí, vào lúc còn trẻ chúng ta rất qúy mến nhau; này Trưởng giả, thuở xa xưa ấy, tôi đến chỗ Mục kiền Liên được Ngài thuyết pháp cho tôi và khuyến khích tôi, ban cho tôi tam tự quy y Phật, Pháp, Tăng, và trao cho tôi năm giới (Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu). Này Trưởng giả, vì tôi đã thọ trì năm giới một cách kiên cố, nên sau khi chết tôi được sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, và ở trong trạm dừng tại cổng thành Vương Xá; Trưởng giả hãy đi mau lên, hãy đi nhanh lên, đi tốt hơn là đừng lại”.

       Rồi vị Trời ấy nói bài tụng khuyên con như sau:

Được trăm ngựa, tỳ nữ,

Trăm xe đầy châu báu,

Không bằng phần mười sáu,

Một bước đi đến Phật.

Trăm voi trắng tối thượng,

Với yên cương bằng vàng,

Không bằng phần mười sáu,

Một bước đi đến Phật.

Trăm nữ nhân tuyệt đẹp,

Đeo chuỗi ngọc, tràng hoa,

Không bằng phần mười sáu,

Một bước đi đến Phật.

Chuyển luân Vương đệ nhất,

Ngọc nữ báu yêu mến,

Không bằng phần mười sáu,

Một bước đi đến Phật.

       Vị Trời tụng xong, tiếp tục khuyên con rằng: “Này Trưởng giả đi mau lên, này Trưởng giả đi nhanh lên, qủa thật, đi tốt hơn là dừng lại”.

        Bấy giờ con nghĩ: “Đức Phật có ân đức rộng lớn che chở bao trùm, đại chúng Tỳ kheo cũng có ân đức che chở bao trùm, vì vị Trời cũng muốn khiến ta đi đến yết kiến”. Thưa Tôn giả, con do ánh sáng của vị Trời ấy hướng dẫn mà đi đến Trúc lâm, vườn Ca lan Đà, thì ánh sáng ấy biến mất.

       Lúc ấy, trời còn chưa sáng tỏ, con thấy …

 (Còn tiếp)

 

TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT

VÀ TRƯỞNG GIẢ

CẤP CÔ ĐỘC

Toàn Không

(Tiếp theo)

       Lúc ấy, trời còn chưa sáng tỏ, con thấy Đức Thế Tôn từ thiền thất đi ra kinh hành ở khu đất trống. Từ xa con trông thấy Đức Phật có ánh hào quang rực rỡ tỏa ra chung quanh, đi gần hơn nữa, con thấy Ngài đẹp đẽ trang nghiêm, như mặt trăng giữa các vì tinh tú. Con thấy rồi, liền hân hoan đi đến trước Phật, đảnh lễ rồi đứng lên theo Ngài kinh hành. 

       Bấy giờ Đức Phật vừa đi đến cuối đường kinh hành, Ngài trải Ni sư Đàn (tọa cụ của Phật) rồi ngồi kiết già; lúc ấy con lại đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn bắt đầu thuyết pháp cho con nghe, Ngài dùng đủ thứ phương tiện thuyết pháp làm cho con được vui thích; rồi Ngài theo thông lệ của chư Phật, trước hết nói về pháp đoan chính để người nghe vui vẻ, đó là nói về bố thí, trì giới và về pháp sinh lên cõi Trời; sau Ngài nói về tai họa của tham dục, sân hận, tà kiến v.v... 

       Khi Đức Thế Tôn biết con đã có tâm kham nhiễm nhu nhuyễn, có tâm hoan hỷ vươn lên, và có tâm tín chuyên nhất, Ngài liền nói về Khổ, Tập (nguyên nhân gây ra khổ), Diệt (cách diệt trừ khổ), Đạo (con đường dẫn đến đạo) cho con nghe. Ngay khi ấy, con đã thấy bốn Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) thật rõ ràng, giống như tấm vải trắng nhuộm thành màu sắc, con cũng như vậy. 

       Thưa Tôn giả, con đã thấy Pháp, đắc Pháp; con đã đoạn nghi trừ hoặc, không còn tôn sùng ai, cũng chẳng tin theo người khác. Con không còn một chút do dự, đã trụ nơi qủa chứng, và được sự không sợ hãi đối với giáo pháp của Đức Thế Tôn, lúc ấy con liền đứng dậy đảnh lễ Đức Phật và nói: “Thưa Đức Thế Tôn, con hôm nay tự quy y Phật, Pháp, và chúng Tỳ kheo; cúi mong Đức Thế Tôn chấp nhận cho con làm Ưu bà Tắc (Nam Cư sĩ) bắt đầu từ giờ này cho đến trọn đời con”. 

       Thưa Tôn giả, con chắp tay thưa tiếp rằng: “Thưa Thế Tôn, ngưỡng mong Ngài nhận lời mời của con, cùng đại chúng Tỳ kheo đến thành Xá Vệ (về phương Bắc) thuộc nước Xá Vệ để an cư mùa mưa”. 

       Lúc ấy Đức Thế Tôn hỏi con: “Ông tên là gì, người dân nước Xá Vệ gọi ông bằng gì?”         Con liền thưa: “Con tên là Tu đạt Đa, vì con thường cung cấp cho người nghèo cô độc nên người dân trong nước Xá Vệ gọi con là Cấp cô Độc”.

       Đức Thế Tôn lại hỏi: “Tại nước Xá Vệ ông có phòng ốc gì chưa, nếu có phòng ốc thì các thầy Tỳ kheo mới có thể vãng lai, mới có thể trú ngụ được”.

       Con trả lời rằng: “Thưa Thế Tôn, tại nước Xá Vệ, con chưa có phòng ốc, nhưng con có thể cho xây cất, để các thầy Tỳ kheo vãng lai cư ngụ. Mong Đức Thế Tôn cử một vị Tỳ kheo đến nước Xá Vệ giúp con trong việc kiến lập phòng ốc”.

        Bấy giờ Đức Thế Tôn liền cử Tôn giả (Xá lợi Phất) đi giúp đỡ con, khi công việc tại thành Vương Xá xong xuôi, con cùng Tôn giả đi đến nước Xá Vệ; nhưng không vào thành ngay, cũng chẳng về nhà, mà lập tức đi dạo khắp nơi bên ngoài thành. Quan sát xem chỗ nào có thể đi lại tiện lợi, ban ngày không ồn ào, và ban đêm tịch tĩnh; chỗ không có muỗi mòng, cũng chẳng ruồi bọ, không nóng cũng chẳng lạnh, có thể xây cất phòng ốc cúng dàng Đức Phật và đại chúng Tỳ kheo.

       Thưa Tôn giả, khi ấy con chỉ thấy vườn của hoàng thân Đồng Tử Thắng là đủ tiêu chuẩn đã định, con quan sát kỹ rồi liền nghĩ: “Chỉ có chỗ này là thích hợp nhất, là tốt nhất, không còn chỗ nào khác tốt hơn”.

       Nghĩ như vậy, con liền đi thẳng đến nhà Đồng Tử Thắng mà nói rằng: “Thưa Hoàng thân, Ngài có thể bán khu vườn kia lại cho tôi được không?”

       Đồng Tử liền bảo con: “Trưởng giả nên biết, tôi không bán vườn đâu”.

       Cứ như vậy, lần thứ hai, rồi lần thứ ba con nói như thế; Đồng Tử cũng lần thứ hai từ chối, rồi lần thứ ba bảo con rằng: “Này Trưởng giả, tôi đã nói tôi không bán vườn. Ông cứ hỏi lôi thôi mãi, ngoại trừ chỉ khi nào tiền ức triệu ông trải đầy mặt đất”.

       Lúc ấy con liền nói: “Này Hoàng thân, Ngài đã quyết định giá cả, chỉ còn việc trao tiền nữa thôi”.

       Thưa Tôn giả, con và Đồng Tử Thắng, người thì nói đã quyết định giá cả rồi, người thì nói chưa có quyết định giá cả. Cùng nhau tranh cãi lớn, rồi dắt nhau đến vị Phán Quan xử án của nước Xá Vệ để xin phán quyết về việc ấy. Bấy giờ vị Phán Quan sau khi nghe đôi bên trình bày, liền bảo Đồng Tử Thắng rằng: “Này Đồng Tử Thắng, thế là ông đã tự quyết định giá cả rồi, chỉ còn việc nhận tiền của Trưởng giả mà thôi, không còn tranh cãi gì nữa”.

       Thế là con liền trở về nhà lấy tiền, và dùng voi, xe ngựa để chuyên chở các kho bạc đem đến. Con đã xuất ra tới ức triệu tiền bạc để trải khắp mặt đất, nhưng còn một chỗ chưa khắp đến. Con còn đang suy nghĩ nên lấy bạc ở kho nào để trải chỗ đất còn dư ấy để cho đủ; bấy giờ Đồng Tử Thắng bảo con rằng: “Này Trưởng giả, nếu có ăn năn về số tiền ấy thì hãy mang trở về, trả lại khu vườn cho tôi”.

       Con bảo Đồng Tử Thắng: “Tôi không có ăn năn, tôi chỉ suy nghĩ xem nên lấy tiền ở kho nào để mang đến trải chỗ đất còn lại cho vừa đủ, không thừa cũng không thiếu”.

       Bấy giờ Đồng Tử Thắng tự nghĩ: “Đức Phật hẳn là một người cao cả, vĩ đại, và có oai đức lớn; đại chúng Tỳ kheo hẳn cũng rất cao cả, và cũng có oai đức lớn. Do đó mới làm cho Trưởng giả này thiết bày sự cúng dàng vĩ đại, coi của cải rẻ đến như thế; có lẽ ta nên xây cổng ngõ tại miếng đất còn lại để cúng dàng”, rồi Đồng Tử Thắng bảo con: “Này Trưởng giả, hãy thôi đi, đừng xuất tiền để trải chỗ đất còn lại nữa, vì ngay chỗ đất ấy tôi sẽ xây cổng ngõ để cúng dàng Phật và đại chúng Tỳ kheo”.

       Thưa Tôn giả, vì lòng từ mẫn, nên con đồng ý để chỗ đất ấy lại cho Đồng Tử Thắng xây cổng ngõ.

 3). NGOẠI ĐẠO QUY PHỤC TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT:

(Con tiep) 

 

 

 

 

TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT

VÀ TRƯỞNG GIẢ

CẤP CÔ ĐỘC

Toàn Không

(Tiếp theo)

3). NGOẠI ĐẠO QUY PHỤC TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT: 

       Khi vừa khởi công xây cất, lại xảy ra việc ngoại đạo ngăn cản, nhiều nhóm Bà la môn (Ấn Độ Giáo) đến gặp con yêu cầu hủy bỏ xây cất Tịnh xá, nhưng tín tâm đối với Đức Phật của con rất kiên cố nên họ không thể nào lay chuyển nổi; họ bèn xoay qua việc đòi tranh luận với đệ tử Phật là Tôn giả để đánh bại lý thuyết Phật giáo, hầu dẹp trừ sự phát triển của Phật giáo tại vùng Bắc (Ấn Độ) này. 

       Thưa Tôn giả, con nghe tin như thế thì đâm ra hoang mang lo sợ, vì họ huy động một lực lượng hùng hậu gồm 10 Luận Biện Sư nổi tiếng nhất xứ (Ấn Độ) đến, trong khi đó chỉ có một mình Tôn giả. Con rất lo ngại báo tin ấy với Tôn giả, nhưng Tôn giả trái lại không hề lo lắng, mà tỏ ra hoan hỷ, vì Tôn giả cho rằng đây là cơ hội tốt để thể hiện và tuyên dương lý thuyết của Phật giáo tại miền Bắc này, rồi họ hẹn ngày và địa điểm tranh biện.

        Ngày tranh luận, dù họ đông, dương oai thế lực, nhưng từ nhỏ Tôn giả đã thừa hưởng một kiến thức siêu quần về Bà la môn của cha ông, và đặc biệt hơn là Tôn giả đã đắc qủa A La Hán (qủa Thánh) với giáo lý của Phật. Kết qủa cuối cùng là Tôn giả thắng lợi, khiến một số ngoại đạo tiếp thu chân lý và xin Tôn-giả hướng dẫn quy y Phật Pháp. Từ đó đến nay vô số người tại miền Bắc này trở thành con Phật. 

       Việc xây cất Tịnh xá chủng viện bởi thế trở nên rất thuận lợi và nhanh chóng, rồi suốt trong mùa hè ấy, con đã cấp tốc cho xây cất hoàn tất mười sáu dãy nhà làm các giảng đường và đại giảng đường, và mười nhà lớn biệt lập, mỗi nhà đều có ngăn nhiều phòng riêng biệt làm nơi trú ngụ. Lại có nhà tắm, nơi chứa nước, ao hồ, suối, đường để đi kinh hành v.v...

       Con còn nhớ rõ, lúc Tịnh xá sắp hoàn tất, hôm ấy đang khi đi thăm công việc xây cất, Tôn giả bỗng nhiên nói với con: “Này Trưởng giả, ông hãy nhìn lên Trời xem có gì lạ kià.” Con vội nhìn lên nhưng chẳng thấy gì cả nên đã trả lời rằng: “Con chẳng thấy gì trên Trời cả”. Tôn giả nói: “À phải rồi, mắt thường của con người không thấy được, Trưởng giả hãy đến gần tôi và nương theo Thiên nhãn của tôi mà nhìn lại xem sao”. Con liền đến đứng sát Tôn giả mà nương nhìn liền thấy rất nhiều cung điện trang nghiêm đẹp đẽ vô cùng. Tôn giả giải thích rằng: “Những cung điện ấy dành cho Trưởng giả vì ông đã phát đại tâm xây cất Tịnh xá cúng dường Phật.”

      Thưa Tôn giả, lúc ấy con đâm ra hoang mang, và nói: “Sao nhiều cung điên quá, con biết ở cung điên nào?” Tôn giả bảo: “Trưởng giả nên chọn cung điên ở cung Trời Đao Lợi, có thọ mạng khá lâu dài, lại biết tu hành, và khó đọa lạc”. Con ưng ý ngay và buột miệng nói: “Con ước mong sau này được sinh đến cõi Trời Đao Lợi”, con vừa nghĩ vừa nói xong, lạ thay các cung điện đều biến mất, chỉ còn một cung điện mà thôi, khi ấy Tôn giả bảo: “Chỉ còn cung điện của cõi Trời Đao Lợi theo ý nguyện của Trưởng giả đó”. Lúc ấy con vui mừng biết mấy.

        Thời ấy Tôn giả đã giúp đỡ con rất nhiều trong việc dựng lập Tịnh xá chủng viện, hôm nay Tôn giả thuyết pháp để giáo hóa người bệnh rất là kỳ lạ. Con nghe bài giáo hóa người bệnh vừa rồi, bệnh khổ nặng nề liền biến mất, lại sinh ra vui vẻ nhẹ nhàng vô cùng.

       Thưa Tôn giả, bây giờ con không còn bệnh nữa, và được yên ổn hoàn toàn, kính mong Tôn giả ở lại thọ trai; Tôn giả Xá lợi Phất im lặng nhận lời mời, sau khi thọ trai xong, Tôn giả thuyết pháp cho Trưởng giả nghe, xong Tôn giả ra về.

       Khi ấy Đức Thế Tôn đang thuyết pháp cho đại chúng nghe, từ đằng xa, Đức Thế Tôn thấy Tôn giả Xá lợi Phất đi lại, Ngài bảo đại chúng: “Tỳ kheo Xá lợi Phất là bậc thông tuệ, tốc huệ, tiệp huệ, quảng huệ, xuất yếu huệ, minh đạt huệ, và biện tài huệ; Tỳ kheo Xá lợi Phất đã thành tựu thật huệ, vì sao vậy? Vì về bốn hạng Tu đà Hoàn mà Ta đã nói sơ lược, thì Tỳ kheo Xá lợi Phất triển khai thành mười hạng để nói cho Trưởng giả Cấp cô Độc nghe và khỏi bệnh”.

 4). TRƯỞNG GIẢ CẤP CÔ ĐỘC 

          SINH LÊN CÕI TRỜI.

       Về sau, lúc đã lớn tuổi già yếu bệnh hoạn nhiều, và cảm thấy không còn sống được bao lâu nữa; Trưởng giả Cấp cô Độc sai sứ giả đến đảnh lễ, thăm hỏi Đức Thế Tôn và thưa rằng bệnh tình của Trưởng giả đã đến hồi trầm trọng, nhưng ông vẫn từ giường bệnh kính cẩn đảnh lễ Đức Thế Tôn.  Sau đó sứ giả cũng đến thăm hỏi Tôn giả Xá lợi Phất, và nói ý nguyện của Trưởng giả là muốn được gặp Tôn giả trước khi nhắm mắt qua đời.

       Theo lời thỉnh, Tôn giả Xá lợi Phất đi cùng với Tôn giả A nan Đà đến nhà Trưởng giả Cấp cô Độc và thăm hỏi bệnh tình; Trưởng giả Cấp cô Độc thưa rằng bệnh của ông không có dấu hiệu giảm bớt, mà chỉ có tăng thêm, càng ngày càng trầm trọng hơn, và có thể chết bất cứ lúc nào.

       Tôn giả Xá lợi Phất liền thuyết cho ông một bài pháp rất chi tiết mạch lạc, Tôn giả bảo ông ráng thực hành.       Khi hai vị Tôn giả đệ tử Phật ra về Trưởng giả Cấp Cô Độc tiếp tục quán niệm giáo pháp vi diệu ấy, mấy ngày sau Trưởng giả thở hơi cuối cùng, qua đời, và tức khắc, sinh lên cõi trời Đao Lợi.

       Sau đó ít lâu, một đêm, vị Trời Cấp cô Độc từ cung trời Đao Lợi trở về Tịnh xá, hào quang sáng ngời, chiếu cả một khu rộng lớn. Vị Trời Cấp cô Độc đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, Thiên tử Cấp cô Độc bày tỏ niềm hân hoan được gặp lại Đức Thế Tôn và chư vị đệ tử của Ngài trong Tịnh xá do ông đã kiến tạo. Vị Trời Cấp cô Độc cũng hết mực ca tụng phẩm hạnh và tài đức của Tôn giả Xá lợi Phất. Sau khi ngỏ lời từ giã, vị Trời Cấp cô độc đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi biến mất chỉ trong chớp mắt.

 

 5). QỦY GIÀ LA ĐẤM TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT.

 (Còn tiếp)

  

TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT

VÀ TRƯỞNG GIẢ

CẤP CÔ ĐỘC

Toàn Không

(Tiếp theo)

5). QỦY GIÀ LA ĐẤM TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT. 

       Một lần, Tôn giả Xá Lợi Phất nhập Kim Cang Định ở bên một gốc cây ngay chân núi Kỳ Xà Quật, trên núi có hai con Quỷ một con Quỷ thiện tên Ưu Bà Ca La, một con Quỷ ác tên Già La, chúng nhìn thấy Tôn giả đang ngồi thiền dưới một lùm cây cổ thụ, Quỷ ác liền nói:

- Ta sẽ đánh bể cái đầu trọc của lão Sa môn kia.      

Quỷ thiện nói cản lại:- Đừng làm thế, vị ấy có thần lực, nguy hiểm lắm..- Ngươi sợ lão Sa môn này sao? Ta chỉ đấm một cái là cái đầu trọc kia bể nát ra cho mà xem. 

       Nói vừa dứt, nhanh như chớp, liền vung tay đánh xuống đầu Tôn giả như sấm nổ, trong lúc ấy Quỷ thiện sợ qúa biến mất. Quỷ ác đánh tới mà Tôn giả chỉ cảm thấy như có một chiếc lá rơi trên đầu, rồi Tôn giả thấy một con Quỷ máu từ miệng, mũi, tai, mắt chảy ra, và đang sa vào Địa ngục.    Khi Tôn giả đến vườn Ca lan Đà, Đức Phật hỏi:

- Xá Lợi Phất, hôm nay ông có sao không?- Thưa Thế Tôn, con không sao, chỉ hơi ê đầu một chút thôi.

- Xá Lợi Phất, hôm nay ông nhập Kim Cang Định rất tốt, quỷ Già La mà đấm núi Tu Di cũng phải vỡ nát. Sức mạnh của Định Kim Cang vững mạnh đến như thế đó, ngay khi đánh, quỷ Già La bị sức phản lại của Kim Cang Định nên thất khiếu bị chảy máu mà chết và bị đọa địa ngục vì làm ác, các ông cần phải tu trì như thế. 

 

6). XÁ LỢI PHẤT RỐNG TIẾNG RỐNG SƯ TỬ: 

       Sau này, khi Tôn giả Xá lợi Phất muốn đi giáo hóa trong nhân gian, Ngài đi đến chỗ Đức Phật đảnh lễ và thưa:- Bạch Thế Tôn, con an cư ba tháng ở tại nước Xá Vệ này vừa xong, bây giờ con muốn đi du hành trong nhân gian. 

       Đức Phật bảo:- Ông hãy đến đâu tùy ý, người nào chưa được hóa độ hãy khiến họ được hóa độ, những người nào chưa được giải thoát hãy khiến họ được giải thoát. Sau khi nghe Đức Phật dạy xong, Tôn-giả đảnh lễ, đi quanh Phật ba vòng, rồi lui ra về phòng riêng lấy y bát, rồi ra đi; Tôn giả vừa ra đi, có một vị Tỳ Kheo đến thưa với Phật rằng:

- Thưa Thế Tôn, hôm nay Tỳ kheo Xá lợi Phất sau khi khinh mạn con rồi đi du hành trong nhân gian.  

Khi nghe lời ấy, Đức Thế Tôn liền bảo một Tỳ Kheo khác đi gọi Tôn giả Xá lợi Phất trở lại; lúc ấy, Tôn-giả A Nan Đà đang đứng phiá sau Đức Phật nghe những lời ấy, liền cầm chùm chià khóa đi đến khắp các phòng, mời các Tỳ Kheo đến đại giảng đường để nghe Tôn giả Xá lợi Phất sẽ ở trước Phật mà rống tiếng rống Sư-tử. Tôn giả A Nan Đà còn căn dặn: “Nếu Tôn giả Xá lợi Phất nói ra những điều sâu xa, tịch tịnh, vi diệu, mọi người phải khéo ghi nhớ và thọ trì”.

       Khi Tôn giả Xá lợi Phất được vị Tỳ Kheo đi kịp nói lại sự việc xẩy ra và lời Đức Phật bảo, Tôn-giả liền quay trở lại chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ, rồi ngồi qua một bên. Đức Phật bảo:- Xá lợi Phất, sau khi ông rời khỏi đây, có một Tỳ Kheo đến đây nói: “Thưa Thế Tôn, hôm nay Tỳ kheo Xá Lợi Phất sau khi khinh mạn con rồi đi du hành trong nhân gian”, có thật sau khi khinh mạn một Tỳ Kheo phạm hạnh rồi ông đi du hành trong nhân gian chăng?

       Tôn giả Xá Lợi Phất thưa:- Bạch Thế Tôn, nếu người nào không thực hành niệm thân trên thân, thì người ấy mới khinh mạn một vị Tỳ Kheo phạm hạnh; còn con luôn luôn không quên thực hành niệm thân trên thân, thì sao con lại có thể khinh mạn một vị phạm hạnh?

       Thưa Thế Tôn,  Cũng như một con trâu gãy cả hai sừng, rất nhường nhịn, hiền lành, dễ chế ngự, không gây gỗ; nó từ xóm thôn này đến xóm làng khác, những nơi nó đi qua không gì bị nó xâm phạm. Con cũng như vậy, tâm con như trâu gãy cả hai sừng, không não hại, con đã tu tập thuần thục như thế.

       Như con của người trọng tội, nên nó phải bị chặt hai tay, tâm ý nó rất thấp kém, nó từ xóm này đếm xóm khác, những nơi nó đi ngang qua, không có gì bị xâm phạm. Tâm con cũng giống như con của người trọng tội kia, không nhìn ngó người khác, không sân hận, con khéo tu tập tâm ý như thế.       Lại như mặt đất …

Còn tiếp

 

  

TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT

VÀ TRƯỞNG GIẢ

CẤP CÔ ĐỘC

Toàn Không

(Tiếp theo)

       Lại như mặt đất dung nạp tất cả thứ sạch, đồ dơ, nước mũi, nước miếng, nước tiểu, cho đến đủ thứ phân người và phân các loài súc vật v.v.. Mặt đất không phải vì thế mà có sự thương ghét giận hờn, không lấy thế làm xấu xa, cũng chẳng thẹn thùng; tâm con cũng như mặt đất, không phân biệt dơ sạch, không oán kết, khéo hành trì, biến mãn tất cả thế gian.

       Cũng lại như ngọn lửa đốt cháy tất cả, không phân biệt thứ sạch đồ dơ, ngọn lửa không có sự yêu ghét, không kiêu hãnh, cũng chẳng hổ thẹn. Tâm con cũng như ngọn lửa, khéo điều phục, rộng lớn vô biên, thành tựu an trụ đầy đủ.

        Lại nữa, như gió thổi bay những thứ nhẹ, không phân biệt là thứ gì, không phân biệt là sạch sẽ hay dơ bẩn, gió không vì thế mà có sự yêu thương hay ghét bỏ; gió thổi đến mọi chỗ, từ đồng bằng đến biển cả cho tới đồi hoang, chỗ nào cũng có gió, không e lệ, không kiêu căng, cũng chẳng thẹn thùng. Tâm con cũng vậy, luôn luôn bình đẳng như gió, khắp tất cả thế gian.

        Cũng như cây chổi, quét khắp tất cả bụi, rác, nước miếng, nước mũi, không phân biệt sạch dơ; cây chổi không vì thế mà có yêu ghét, không lấy làm xấu xa, không xấu hổ, cũng chẳng ngại ngùng. Tâm con cũng như cây chổi, không oán không kết, khéo tu tập đầy đủ.

       Như cái chậu đựng nước lau sàn nhà, khăn lau chùi tất cả chỗ sạch chỗ dơ, rồi khăn lau được giặt vào cái chậu nước ấy; cái chậu không vì thế mà có sự thích hay không thích, cũng không lấy làm xấu xa hổ thẹn; con cũng như vậy, tâm con như cái chậu nước lau sàn nhà kia, không chọn lựa, không chê bai, cũng chẳng giận hờn.

        Sau nữa, cũng như bình mỡ nứt nẻ đựng đầy mỡ rồi để dưới ánh nắng mặt trời, mỡ chảy rỉ thấm ướt khắp cả; con cũng thế, con thường quán sát thân này có chín lỗ thường chảy ra, thoát ra, rỉ ra, thấm khắp cả những đồ bất tịnh, dơ bẩn, khó coi, khó ngửi, ghê tởm, nên con không coi trọng, không qúi, không ham, không đề cao thân này.

        Sau chót, cũng như con một Trưởng-giả ưa thích tuổi niên thiếu của mình, thường tắm gội sạch sẽ, xông thân thể bằng hương thơm, mặc áo trắng thêu hoa đeo vòng ngọc, đầu đội tràng hoa.

Nếu đem ba xác chết: Rắn chết, chó chết và người chết, máu ứ bầm xanh, sình trương to lớn, rữa ra, rất khó chịu vì mùi hôi thối, nước dơ rỉ chảy ra dính khắp. Người niên thiếu ấy thấy thế sẽ rất sợ hãi, rất khủng khiếp, ghét vô cùng cảnh ô uế đó; con cũng như thế, thường quán sát những chỗ thối tha dơ bẩn của thân này giống như các xác chết ấy, tâm ôm lòng sợ hãi, và rất chán ghét thân này. 

       Thưa Thế Tôn, nếu ai không thực hành niệm thân trên thân, có thể sẽ khinh mạn một vị phạm hạnh. Còn con không oán không kết, không sân hận, không não hại, rộng lớn vô biên, đã khéo thực hành, tu tập, hành trì niệm thân trên thân, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ, tại sao con lại khinh mạn một vị phạm hạnh, rồi đi du hành trong nhân gian?

       Bỗng nhiên lúc ấy Tỳ Kheo kia liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật và nói:

- Thưa Thế Tôn, con xin sám hối, con xin sám hối, con thành thật xin hối lỗi; con như người ngu si, con như người bất định, con như người bất thiện, con như người mù quáng; con đã đem lời dối trá để vu khống cho Tỳ kheo Xá lợi Phất, là bậc phạm hạnh thanh tịnh. Thưa Thế Tôn, con nay xin sám hối tội lỗi đã tạo ra, mong Ngài chấp nhận cho con; sau khi sám hối, con quyết sẽ không còn tạo tội nữa, xin Ngài chấp nhận lời sám hối của con. 

       Đức Phật dạy:

- Này Tỳ Kheo, ông qủa thật là người ngu si, như người bất định, như người bất thiện, như người vô trí; Ông đã đem lời dối trá hoàn toàn không chân thật để vu báng Tỳ kheo Xá lợi Phất là bậc phạm hạnh thanh tịnh. Ông có thể sám hối tội lỗi, đã sám hối rồi sau này sẽ không còn tạo tội nữa; nếu có người nào sám hối tội lỗi đã phát lồ rồi, sau này không còn tạo tội nữa, như thế sẽ được trưởng thành trong Thánh pháp luật mà chẳng suy giảm.      

Nói rồi, Đức Phật bảo:- Tỳ kheo Xá lợi Phất, ông nên sớm nhận lời sám hối của người ngu si kia, chớ để Tỳ Kheo kia lập tức ở trước ông mà đầu bị vỡ tung ra.        Bấy giờ Tôn giả Xá lợi Phất vì thương xót Tỳ Kheo kia nên liền nói:

- Tôi nhận lời sám hối tội lỗi của ông, từ nay về sau ông không còn phạm tội tương tự như thế nữa đối với tất cả mọi người.

        Nhận sự sám hối của Tỳ kheo kia xong, Tôn giả Xá lợi Phất đứng dậy đảnh lễ Phật, đi quanh ba vòng, lui bước ra khỏi đại giảng đường rồi đi du hành trong nhân gian..,.

 

__._,_.___


Posted by: Tien Do 

=======

 -----------------------------------


Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List