Popular Posts

Friday, May 10, 2013

Những mẩu chuyện rất ngắn, rất hay


 

 

 

Những mẩu chuyện rất ngắn, rất hay

 


Quà sinh nhật
Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất. Chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn xem nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mời bao nhiêu người. Chị lặng lẽ đến bên má: "Má ơi, má thèm gì, để con nấu má ăn?" Chưa tan tiệc, Má xin phép về sớm vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi: "Sao má chẳng ăn gì?" Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn cơm với tô canh chua lá me và dĩa cá bống kho tiêu chị mang đến... (ST)



Sầu Riêng


 

- Mẹ, sầu riêng rộ. Mẹ mua cho Nội một trái đi Mẹ. Nội nói cả chục năm rồi Nội chưa ăn múi nào hết.
- Bên đây sầu riêng mắc như vàng, của đâu mà cho Nội mày ăn cho đủ. Tao hầu Ba mày mệt rồi, thêm Nội mày nữa có nước đem chôn tao sớm.
Thằng Tí như bị hụt hẫng trước câu trả lời của Mẹ nó. ... Mùa sầu riêng năm sau, Nội nó mất. hôm giỗ đầu, Mẹ nó mua một trái sầu riêng thật to để trên bàn thờ.
Mẹ nó nói với mọi người:
- Má chồng tôi hảo sầu riêng lắm. Mắc cách mấy tôi cũng ráng mua để cúng Má tôi.
Mọi người khen Mẹ nó là dâu thảo. Chỉ có thằng Tí biết. Nó lặng lẽ đến cạnh bàn thờ thì thầm:
- Xin Nội tha lỗi cho Mẹ con

Lời Con Trẻ
Sau khi ly hôn, người chồng dọn đồ đạt ra khỏi nhà. Đứa con gái nhỏ hỏi mẹ:
-Sao mẹ đuổi bố?
-Tại bố hư!
Để nó khỏi vặn vẹo hỏi lôi thôi, người mẹ mua cho cái bánh. Thằng anh từ đâu phóng tới bẻ của em miếng bánh, bỏ ngay vào mồm. Con bé khóc ré bắt đền. Người mẹ dỗ dành:
-Anh này hư quá! Thôi con nín đi, bỏ qua cho anh một lần.
Đứa con phụng phịu:
-Thế mẹ có bỏ qua cho bố đâu!
Người mẹ nhìn xa xăm:
-Ừ, ra mẹ cũng hư!



BÔNG ĐIÊN ĐIỂN


Xưa, em sống ở quê. Mùa lũ, em ngâm mình mò củ ấu, hái bông điên điển . Tuổi mười lăm ngai ngái mùi bùn.
Em tìm về thành phố. Học đi, học nhảy, học liếc mắt cười tình. Tuổi thiếu nữ đôi mươi vành vạnh, thơm phức và kiêu hãnh.
Một bữa, em chạy ra từ trong khách sạn. Chiếc giày cao gót lật quai lăn tõm xuống cống đen ngòm để lộ đôi chân phèn tứa máu. Em khóc tức tưởi. Nước mắt ân hận làm trôi những thứ bôi trét giả tạo. Khuôn mặt lộ dần những nét quê xưa.
Em chợt nhớ những cánh hoa điên điển sắp tàn còn kịp ửng vàng trước lúc hoàng hôn.
Nguyễn San


EM TÔI
Bám đất Sài Gòn sau 3 năm ra trường, tôi vẫn không xin được việc. Đôi cua dạy kèm, khi chẳng đủ trang trãi lại phải nhờ nguồn “trợ cấp”ở quê. Vừa rồi, đau ruột thừa, nằm viện. Mẹ vượt ngàn cây số vào thăm. Ngày về, dúi vào tay tôi chỉ vàng, bảo: “Của cái Lan, nó dặn con dùng để hồi sức, viện phí và tiền gởi vào cho con trước đây cũng một tay nó cả. Tội nghiệp! Dạy thêm tít mù, còn nuôi thêm cả lợn”.
…Nhớ ngày Lan trượt đại học, thư về tôi mắng chẳng tiếc lời…
Cầm món quà của em, tôi chỉ còn biết nuốt nước mắt vào trong.

Ngày xưa
- Huỳnh Văn Dân -
Thuở nhỏ, nhà tôi nghèo lắm. Mỗi chiều, anh em tôi thường tụ lại bên nồi cơm độn khoai sắn, ríu rít như đàn chim về tổ. Thiếu thốn nhưng chúng tôi nhường nhau phần thức ăn ngon nhất, mẹ tôi rất vui lòng.
Khi chúng tôi khôn lớn, có gia đình riêng, ai cũng khá giả. Hôm giỗ ba, có mặt đông đủ, anh Hai tôi phàn nàn với mẹ cây xoài của anh Ba mọc chồm qua sân nhà anh. Chị Ba trách anh Tư đào ao lấn qua phần đất của chị hai tấc. Mẹ tôi trầm ngâm: "Mẹ ước gì được trở lại thời nghèo khó ngày xưa."



Ca dao thương mẹ
- Trung Dung -

 Ba bị tai nạn mất khi mẹ chưa bước vào tuổi bốn mươi. Mẹ ở vậy nuôi con.
Con lêu lổng chơi bời, mẹ khóc.
Con ngoan, học giỏi... Mẹ cũng khóc khi đốt nhang cho ba.
Hồi đó, con đâu hiểu sao ít thấy mẹ cười.
Lớn lên, nghe câu hát "... Mẹ đi lấy chồng con ở với ai..." Con lại khóc vì thương mẹ.
 

 

Tính Cách

Mẹ tôi buôn bán, chai lỳ trước cái cân cơm áo nhưng mẫn cảm trong nghệ thuật. Những nước mắt tình buồn phim ảnh, những sụt sùi số phận cải lương, bà đều hồn nhiên "ăn theo" một cách ngon lành. Có lần, cha tôi giỡn:
- Coi chừng trôi ti vi....
- Còn sách ông chưa viết ra đã hóa đá - Mẹ tôi trả miếng - Thế cũng mang danh nhà này, nhà nọ.
Một hôm, đang bữa ăn, bỗng nhiên mẹ tôi chạy vụt ra đường chận đường con bé bán trứng vịt lộn.
- Mày biến đâu tài thế. Hì! có chui xuống đất rồi cũng gặp tao - Bà vừa nói vừa giằng mủng trứng, đếm lấy trừ nợ.
- Dì ơi, cho con khất, mẹ con còn ốm!
- Nhà này cũng đang ốm đây - Mẹ tôi cười bù - Khỏi bẻm mép.
Con bé chưng hửng, lã chã nước mắt nhìn cải mủng không, rồi bưng lên, xiêu vẹo bước đi....
Cha tôi cám cảnh, quay mặt, rút mùi soa chấm mắt.
Lâu sau, ti vi phát vở kịch "Cô bé nghèo bán trứng bị xiết nợ". Lúc ấy, mẹ tôi lại khóc, còn cha tôi thì cười.
(tác giả Nguyễn Thị Hoài Thanh)

 

 

 

 

 
Mh

Điềm Trời Cảnh Cáo: Ác Báo Nhãn Tiền


 

 

Điềm Trời Cảnh Cáo: Ác Báo Nhãn Tiền

 

Nguyệt Quỳnh

Ngày xưa các cụ ta làm quan, luôn cố gắng giữ đức thanh liêm vì muốn noi theo gương sáng của tổ tiên và cũng vì tin vào đất trời, vào thuyết nhân quả. Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Đăng Huân là một điển hình. Giòng họ cụ nhiều đời làm quan đều giữ theo nếp nhà, nổi tiếng nhân hậu, liêm khiết. Cụ sống dưới thời Minh Mạng, có tiếng là vị quan đầy lòng nhân ái bao dung. Cụ luôn lo cho đời sống của người dân. Ngay cả với tội phạm, khi xử án cụ cũng tìm đường cho họ sống và làm lại cuộc đời. Từ truyền thống đó của tổ tiên, nhiều bài học quý báu về việc làm lành lánh ác, về thuyết nhân quả đã được truyền lại cho người đời sau qua cách sống, qua ca dao tục ngữ: Nhân nào thì quả đó, ác lai thì ác báo…

Vì vậy, có thể nói thuyết nhân quả của nhà Phật -- tiềm tàng trong mọi sự vật, không một vật thể nào thoát khỏi nhân quả, khi gieo ác thì chắc chắn sẽ gặt quả ác – đã trở thành một phần của văn hóa Việt Nam.

Và đó cũng là đề tài đang được bà con tại Nghệ An bàn tán sôi nổi trong mấy tuần qua, xoay quanh cái thông báo bất ngờ về việc hoãn xử phúc thẩm 14 thanh niên yêu nước dự tính diễn ra vào ngày 24/04/2013. Văn thư của thẩm phán toà án tối cao Nguyễn Văn Khôi chỉ cho biết lý do hoãn lại là vì một thành viên của Hội đồng xét xử không thể tham gia phiên toà theo dự kiến. Tuy nhiên, những người biết chuyện tại Nghệ An đang truyền tai nhau rằng sở dĩ phiên toà bị hoãn lại là vì ông bố của chánh án bị tai nạn xe cộ trầm trọng chỉ 1 tuần trước ngày xử nói trên. Nhiều người dân trong vùng khi nghe tin đã khẳng định đó là chuyện ác báo nhãn tiền. Tuy ông chánh án là người ác nhưng những người cùng gia đình với kẻ làm ác đều hưởng chung những lợi lộc từ các việc ác đó thì cũng bị Trời phạt chung.

Sở dĩ bà con trong vùng xem việc làm của ông chánh án là quá ác là vì họ biết gia đình và việc làm hết sức nhân bản của 14 thanh niên (đúng ra là 17 người) vừa bị kết án sơ thẩm quá nặng nề vào tháng 1 vừa qua. Đây là những người trẻ đã bỏ công sức đi thu lượm các thai nhi bị giết về chôn cất, đến giúp đỡ người dân tộc thiểu số, người già neo đơn, đi vận động bảo vệ môi sinh, đi phản đối Trung Quốc xâm lấn quê hương, … Những trái tim trẻ đầy tình yêu nước, yêu người này đã và đang được nhiều người tại Nghệ An, Vinh, và khắp nơi cảm phục. Nhưng tòa án tại Nghệ An lại đại diện cho nhà cầm quyền giáng lên họ tổng cộng 83 năm tù tội chỉ vì không muốn những việc họ làm sẽ có nhiều người huởng ứng làm theo và vuột khỏi vòng kiểm soát của nhà nước. Rất nhiều người đã nguyền rủa bản án độc ác đó và cho rằng những lời nguyền rủa của dân đã ứng nghiệm nhãn tiền lên bố ông chánh án.

Nhưng cũng có người lại bảo rằng đó chưa phải là chuyện "ác báo" mà chỉ mới là lời cảnh cáo của Trời Đất thôi. Vì nếu để trả lại cho bằng với cái ác mà những kẻ ngồi các ghế thẩm phán, ghế kiểm sát đã gây ra cho biết bao nạn nhân thì hình phạt dành cho kẻ ác và cho mọi thành viên trong gia đình kẻ ác phải nặng gấp vài chục lần cũng chưa xứng với các việc họ làm.

Không ai có thể lý giải về sự huyền bí của nhân quả, nhưng ngay tại Hà Nội đã có những câu chuyện quả báo mà nhiều người truyền tai nhau. Khi Hà Nội được giải phóng năm 1954, một số người thừa cơ đã nhân danh cách mạng xông vào đập phá chùa chiền, những nơi tôn nghiêm thờ phượng, rồi chiếm luôn đất chùa làm của riêng. Năm tháng trôi qua, hầu hết những người đó đều bị chết trong những tai nạn thật khủng khiếp. Riêng một cặp vợ chồng từng chiếm đất của chùa rồi bán lại trong thời kinh tế thị trường khoảng 10 năm trước, họ kiếm được rất nhiều tiền, và sống cực kỳ xa hoa. Nhưng một hôm đang đứng trên vỉa hè, đột nhiên một chiếc xe tải lao lên hè phố cán đứt đôi cả hai người. Sau đó, gia đình họ lại gánh chịu thêm một bi kịch nữa. Tang lễ bố mẹ chưa xong thì con cái tranh giành tài sản, đánh nhau dữ dội ngay khi quan tài chưa được an táng.

Hiển nhiên, những kẻ làm các việc ác xưa nay thường biện hộ với chính mình và với cả thần thánh là họ chỉ làm theo lệnh trên. Nhưng thực tế cho thấy chính nhờ bàn tay thi hành của những kẻ ác này mà các cấp trên của họ càng làm ác dễ hơn và nhiều hơn gấp trăm lần. Nếu chính ông Hồ, ông Trường Chinh phải đến tận nơi và phải tận tay đấu tố một số "địa chủ" thì con số các nạn nhân đã không cao đến như vậy. Nếu chính các cấp bí thư, chính ủy tại Huế phải tự tay đào đất chôn sống các nạn nhân tại Huế năm Mậu Thân thì con số các nạn nhân cũng không nhiều đến như vậy... Chính sự mù loà, tuân thủ của kẻ thừa hành đã giúp những kẻ ác ở thượng tầng chỉ việc ngồi phòng lạnh, thảnh thơi ký giấy, ra lệnh miệng một cách dễ dàng và sạch sẽ ở rất xa nơi xảy ra các hành vi ác độc. Những việc nhơ nhớp, tàn độc đã có những kẻ khác thi hành. Vì thế mà việc tuân thủ chăm chỉ của những kẻ ác bên dưới góp phần và có khi thúc đẩy kẻ ác ở bên trên được thể giết người, hại người dễ hơn và nhiều hơn.

Hầu hết những cán bộ trong guồng máy của chế độ hiện nay, đặc biệt trong ngành công an, an ninh, tận đáy lòng đều biết cái nghiệp ác tích tụ quá lớn của họ, dù ở vị trí ra lệnh hay thi hành. Chắc chắn đã có những quả báo xảy đến cho bản thân và gia đình họ mà người chung quanh không hề hay biết, chỉ những kẻ trực tiếp nhận lãnh mới biết những gì đang ứng nghiệm. Chính vì thế mà hiện nay mới đang có cả một cơn sóng cán bộ đổ xô đi ném tiền vào các nơi thờ cúng tâm linh, đền đài, để mong được xoá tội, được "xí xóa huề" cho tương lai của họ, và cho đời con đời cháu họ.

Nhưng nếu đã tin vào nghiệp chướng thì mọi việc làm trên đều vô ích. Vì thần thánh đâu phải là người phàm mắt thịt mà nhận hối lộ -- còn nếu vẫn thèm nhận hối lộ thì đã không thành thần thánh. Hơn nữa, thần thánh cũng không phải là kẻ bị hại. Gia đình các nạn nhân của họ mới là những người đã bị hại, bị cướp, bị đẩy vào cảnh lầm than. Vì vậy bù đắp lại cho thần thánh là sai chỗ nên có xóa được gì đâu? Và thần thánh nào có thể tha thứ hay chấp nhận được những kẻ vừa mới làm điều ác trước khi bước vào đền lễ bái, và sau khi ra khỏi đền lại tiếp tục làm ác? Do đó, nếu không ngưng ngay các việc ác đức đang làm; nếu không quay lại đền bồi cho các nạn nhân của mình; nếu không góp phần chận đứng cái ác của các đồng nghiệp, của guồng máy mà mình phục vụ, thì những chuyện “ác báo” sẽ vẫn tiếp tục chờ đợi để phủ xuống, không chỉ trên kẻ ác mà cả những người thân trong gia đình họ.

Kinh sách nhà Phật viết rằng: muốn biết đời trước của mình như thế nào, thì hãy nhìn kỹ cái quả báo mà mình đang lãnh thọ của đời hiện tại nầy. Muốn biết cái quả báo của mình đời sau ra sao, thì hãy nhìn vào cái tác nhân mà mình đang gây tạo trong hiện đời. Tiền bạc, tài sản cũng chỉ là hư vô. Khi rời bỏ cuộc sống này, con người chỉ còn lại hai bàn tay trắng, nhưng nợ máu, ác nghiệp sẽ đẫn đến đời sau, kiếp sau, và cả đời con, đời cháu mình cũng cùng phải trả nghiệp.

Và trả nghiệp có khi không chờ đến đời sau. Cuộc đời của hàng ngàn những hung thần thời Pol Pot và gia đình họ trên đất Miên hiện nay là bằng chứng ngay trước mắt. Không cần chờ đến kiếp sau, hiện nay hàng đêm họ phải đối diện với những khuôn mặt đầy máu của những người bị giết, đối diện với nỗi ám ảnh ghê rợn liên tục trong suốt những năm tháng tuổi già của cuộc đời. Càng già càng sống trong run sợ, hãi hùng.

Đúng là QUẢ BÁO RẤT NHÃN TIỀN.
Nguyệt Quỳnh

 

Thursday, May 9, 2013

CHUYỆN THUỞ GIAO THỜI Tiểu Tử


 

CHUYỆN THUỞ GIAO THỜI

                                                                                                                                   Tiểu Tử

 

         Tháng 3, rồi tháng 4 năm 1975, thiên hạ chạy di tản rần rần từ miền trung vào trong nam, rồi từ đất liền « chạy » ra biển, nhốn nháo hỗn loạn chẳng biết « trời trăng » gì hết, chỉ có một ý nghĩ rõ rệt ở trong đầu là « Ở lại với tụi nó là chết ! ». Vậy rồi giai đoạn di tản đó chấm dứt vào ngày 30 tháng 4…

    …Giữa tháng 4, một thằng bạn gọi điện thoại cho tôi, nói : « Mầy đừng đi di tản. Ở lại đi ! Không có sao hết ! Tao bảo đảm ». Thằng nầy làm lớn trong « Tổng Nha », nó nói « chắc như bắp » ! Lại một thằng bạn khác - thằng này người Pháp, làm việc ở sứ quán Pháp - nói trong điện thoại, giọng rất bình thản : « Mầy đừng đi đâu hết ! Mọi việc đều đã thoả thuận trước rồi ! Yên tâm ! ». Riêng tôi, tôi nghĩ : « Mình làm việc cho hãng dầu ngoại quốc trực thuộc hãng quốc tế SIPC ( Shell International Petroleum Company – Anh Quốc ) chắc không sao ! ». Vậy là tôi quyết định ở lại…

    …Ngày 30 tháng tư năm 1975 ! Việt cộng vào « đớp » hết, công tư gì cũng đớp hết, thượng vàng hạ cám gì cũng đớp hết. Họ gọi hành động đó bằng một danh từ nghe cũng…văn chương :« Tiếp Quản ». Không biết hai thằng bạn tôi kể ở trên có…tức hộc máu hay không khi thấy mình bị gạt dễ dàng như con nít ? Riêng tôi, tôi thấy như tôi từ trên trời rơi xuống, thấy những gì xưa nay mình học, mình hỏi, mình hiểu biết, mình suy luận v.v…đều sai bét đối với « cái gọi là cách mạng » ! 

       Hãng dầu tôi làm việc bị tiếp thu bởi…«ê-kíp » có bí số K7. Những người nầy mặc đồ đen đội mũ tai bèo đen. Mấy tay có vẻ « xếp » mang túi dết ngang hông và bao súng lục nằm…sau đít ! Họ chiếm kho dầu Nhà Bè và văn phòng trung ương ở đường Thống Nhứt. Hai hôm sau, có tin bộ đội vào kho Nhà Bè « vít » K7 ra ngoài, vì kho dầu không thuộc quyền quản lý của mấy cha K7. Vậy là trong cái tổ chức rất là…« cách mạng » nầy, cái « đầu não » của công ty không còn dính với cái thân mình là kho dầu nữa ! Phải nói thiệt : tôi làm việc cho hãng dầu hơn 19 năm, đã đi thăm viếng nhiều hãng dầu ở các quốc gia khác, nhưng chưa thấy một tổ chức hãng dầu nào…khùng như vậy !

       Qua sáng ngày thứ ba, tôi được chở xuống kho Nhà Bè để hướng dẫn một ông tướng VC đi viếng kho ( Có lẽ mấy tên « nằm vùng » đã cho bọn « cách mạng » biết rằng tôi…rành kho dầu này lắm ! ) Đến kho, tôi được « ông » bộ đội xếp kho cho biết ông tướng là « xếp » cục hậu cần. Tôi tưởng tượng sẽ gặp lão ta với bộ quân phục thẳng nếp và một ngực mề đai như thường thấy ở mấy tướng các nước cộng sản !

    …Xe ông tướng đến. Bước xuống là một người cao lớn mặc bộ đồ « xá xẩu » tàu bằng lụa màu ngà, đội nón Panama trắng, miệng ngậm ống đót có điếu thuốc đang cháy dở. Được giới thiệu, ông ta không bắt tay tôi, chỉ gật nhẹ đầu, nói :« Ta đi thôi ! ». Tôi lưu ý ông ta đừng hút thuốc trước khi vào kho. Ổng gạt bỏ mẫu thuốc nhưng vẫn ngậm ống đót trên môi…

       Kho Nhà Bè lớn lắm. Ngoài bốn cầu tàu chiếm hết mặt sông, trên bờ có khu bồn chứa và các khu nhà máy trộn nhớt, nhà máy trộn hoá chất, xưởng sản xuất thùng thiếc 20 lít đựng dầu hôi, kho châm dầu vào thùng 200 lít, nhà máy nhựa đường.v.v…

       « Phái đoàn » đi viếng gồm có ông tướng, hai người hộ vệ và xếp kho. Vì kho dầu không làm việc, nên tôi chỉ đưa họ đi…phớt phớt vòng ngoài các khu nhà máy. Tôi có ý đợi họ đặt câu hỏi, nhưng không nghe cha nào nói một tiếng. Sau nầy, tôi mới biết rằng ngoài bắc không có những gì chúng tôi có ở trong nam, cho nên họ không biết…khỉ gì để mà hỏi !

       Đến khu bồn chứa, bỗng ông tướng chỉ một cái bồn, hỏi : « Cái bể nầy bao nhiêu khối ? ». Tôi trả lời : « Mười lăm ngàn m3 ». Hỏi : « Mỹ nó làm cho các anh đấy à ? ». Trả lời : « Không có thằng Mỹ nào vô đây hết ! Toàn là dân Việt Nam thực hiện ».

       Nghe vậy, lão ta cười khẫy : « Làm gì có ! Ở ngoài ta, trên 2000 khối là phải ông Liên Xô hay ông Trung Quốc thực hiện cơ ! ». Cái cách thằng chả nghi ngờ lời tôi nói đã chạm mạnh tự ái của tôi, đồng thời cũng cho tôi thấy rằng miền bắc của mấy chả nó dở ẹc hà ! Tôi nhấn mạnh : « Tất cả ba mươi mấy cái bồn nầy, lớn nhỏ gì cũng do nhà thầu thực hiện với thầy thợ hoàn toàn người Việt ». Tôi đưa mấy người đến xem cái bồn mới làm xong cách đây mươi hôm.  Đó là cái bồn lớn nhứt kho Nhà Bè, 30000 m3, do nhà thầu Việt Nam EVS thực hiện, nó lớn bằng nửa cái sân banh ! . Từ đó, mấy chả làm thinh luôn cho đến về văn phòng để họp với mấy anh em cấp chỉ huy cũ theo ý muốn của ông tướng !

       Sau khi nghe mấy anh em lần lượt trình bày lý lịch, cấp bậc, phần việc và lương bổng của mình, ông tướng nói : « Các anh yên tâm : Đảng và Nhà Nước sẽ trả lương các anh y như cũ. Cứ yên chí phục vụ ! ». Nghe giọng ông ta rất tin tưởng vào những gì ổng nói, mình cũng thấy tin tưởng theo…

      …Thời gian sau, hãng dầu đường Thống Nhứt được mang tên « Công Ty Xăng Dầu Khu Vực Hai ». Hỏi « Khu Vực Một » ở đâu thì được trả lời « Chưa có, nhưng đã có Tổng Công Ty ở Hà Nội » ! Cách mạng có khác !

       Rồi là « xếp thang lương », nghĩa là mỗi ngành mỗi nghề đều được xếp cấp bậc trên từng thang lương, từ đó lãnh lương mổi tháng 2 kỳ, mổi kỳ nửa lương. Tôi được xếp « kỹ sư bậc 2 trên 6 », nghe…khoẻ re. Thang lương có 6 bậc mà mình nằm gần trên đĩnh rồi, họ cũng biết…chấm điểm đó chớ ! Ai dè khi lãnh lương mới…té ngửa : mấy chả xếp thang lương ngược, hạng nhứt là bậc 6 nằm trên hết, rồi tuột lần xuống dưới chót là hạng một. Tôi bậc 2 trên 6, là hạng…áp chót ! Mẹ !...

       Tôi lãnh 80 đồng tiền mới (Vậy là thằng cha tướng Tổng Cục Hậu Cần đã nói láo ! ). Bực mình, chạy đi gặp thủ trưởng, ảnh nói : « Trời đất ! Bác Hồ chủ tịch nước mà chỉ lãnh có 200 đồng. Còn anh, anh lãnh tới 80 đồng còn muốn gì nữa ? ». Thấy thằng chả đem « Bác Hồ » ra…làm chứng, tôi biết có cãi cũng vô ích. Rồi tôi nhớ ra là anh tài xế cũ của tôi bây giờ lãnh 90 đồng, tôi…đánh đòn chót : « Vậy thôi anh cho tôi làm tài xế, đi ! ». Thằng chả cười, thấy như tôi sao quá khùng, nên vừa lắc đầu vừa trả lời : « Đâu được ! Anh là Kỹ Sư đâu làm tài xế được ! ». Tôi làm thinh, bước ra khỏi văn phòng thủ trưởng mà thấy như mình từ trên trời rơi xuống !

 

                                             *         *         *

 

       …Tôi « chịu trận » với cái gọi là « cách mạng » hết ba năm. Vượt biên thất bại hết ba lần, qua lần thứ tư đi thoát, để bây giờ - ba mươi mấy năm sau - ngồi viết mấy dòng nầy nhân ngày 30 tháng tư thứ 37…mà thấy không phải tôi đã từ trên trời rơi xuống, chính mấy thằng cha « cách mạng » mới là từ trên trời rơi xuống !

 

                                                                                                                                  Tiểu Tử

       

Wednesday, May 8, 2013

Chính Danh


From: Huong Le <
To: "
Sent: Monday, 6 May 2013 7:09 PM
Subject: Goi la TAU hay TRUNG QUOC?

 

 

 

 

 

Chính Danh

______________________________________________

 

 

Giải bày

            Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh giải nghĩa danh từ “Chính Danh” như sau: Một nguyên tắc về chính trị, gốc ở Khổng tử, ví như gọi là vua thì phải đúng đạo vua, gọi là quan, thì phải đúng đạo quan, trái lại như hàn-lâm mà không biết chữ, làm thừa phái mà không biết việc quan, là bất chính danh. Ghi chú thêm của tác giả: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”

            Mới đây, trên Việt Thức, ông luật sư tiến sĩ Lưu Nguyễn Đạt có bài viết Chính Danh, bàn về ý nghĩa đích thực của ngày 30 tháng Tư. Và trên SBTN, ông luật sư Đinh Thạch Bích cũng tỏ ý than phiền về việc các ông trí thức, nhà báo ở hải ngoại, cũng giống như người Việt ở trong nước, cứ gọi nước Tàu là Trung Quốc. Người trong nước vì bị chính quyền bắt buộc, hay theo thói quen, gọi như thế cũng không có gì đáng than phiền lắm. Còn như ở hải ngoại nầy, cứ rang rảng mà gọi Tàu là Trung Quốc thì điều ấy là không nên, là không Chính Danh.

            Đó là lý do khiến tôi phải viết bài nầy, mặc dù, đây là điều tôi suy nghĩ từ lâu nhưng chưa có dịp viết ra. Nay, nhờ động cơ của hai vị nói trên, tôi không thể chần chừ được nữa.

Trân trọng.

 

Bài 1:  “Chung Cuốc”

Tên gọi: Tàu hay Trung Quốc?

Người Tàu, tức người Hán, là một bộ tộc sinh sống ở thượng lưu sông Hoàng Hà, bắt đầu hình thành “nhà nước” kể từ nhà Hạ, tiếp nối là các nhà Thương, Chu và trở thành một đế quốc sau khi Tần Thủy Hoàng “tóm thâu lục quốc” (chữ thường dùng trong các sách cũ khi nói về nhà Tần). Đế quốc Tầu, khi thịnh khi suy, kéo dài cho tới ngày nay. Bản chất đế quốc Tàu là bành trướng, bản chất ấy không bao giờ thay đổi.

Đầu tiên, đế quốc Tàu, sau khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi, cũng chỉ ở vùng phía bắc sông Trường Giang. Năm 221 trước Tây lịch, cướp nước Nam Việt của con cháu Triệu Đà, bành trướng về phương nam, đồng hóa các dân tộc ở đó, đông nhất là 99 giống dân Việt, ngoại trừ dân Lạc Việt đã di cư về phương nam, định cư ở lưu vực sông Nhị Hà. (1).

Trong ngôn ngữ, danh từ Hán được phổ biến từ thời nhà Hán, phiên âm là Cin, người Tây phương gọi là Chine, từ đó mà thành ra Chinoise, Chinese, China, và cả Chinato (2)

Theo cách gọi đó, người Việt Nam, đôi khi, trang trọng một chút, gọi người Tàu là người Hoa, tức là người của nước Trung Hoa, dịch từ tiếng Chine. Tòa đại sứ Tàu (Đài Loan) ở Saigon trước 1975 theo nghi lễ, gọi là tòa đại sứ Trung Hoa, dân chúng thì gọi là đại sứ Tàu, không ai gọi đại sứ Trung Quốc.

Theo luật sư Đinh Thạch Bích, thì tiếng Trung Quốc là “gọi tắt từ danh xưng Trung Hoa Dân Quốc”, là tên nước Tàu do ông Tưởng Giới Thạch đặt ra sau cách mạng Tân Hợi. Tàu Cộng, thường tự gọi nước họ là Trung Quốc, (Chung Cuốc). Đó là cách gọi rất xách mé, tự tôn. Trung là ở giữa, Quốc là nước, có nghĩa rằng nước Tàu ở giữa, to lớn hơn hết, văn minh hơn hết, giỏi giang, tài bộ hơn hết. Các nước chung quanh, một là lãnh thổ của Tàu, hai là nước phụ, là rào dậu, phiên ly của Tàu, kém văn minh, lạc hậu, có khi bị Tàu cho là ngu dốt, phải tùy thuộc, triều cống, tuân lệnh “thiên tử”. Thiên tử là “con Trời”, là ông vua Tàu tự gọi mình như thế.

 

Người Tàu

            Trong suốt cuốn “Việt Nam Sử Lược” của cụ Trần Trọng Kim, khi nói về người Tàu hay nước Tàu, cụ thường dùng chữ “Tàu”, không gọi nó là Trung Hoa chứ đừng nói là Trung Quốc. Chữ Tàu hay tiếng Tàu là cách nói thông thường của người Việt Nam từ hồi nào tới giờ, cũng có khi theo triều đại bên Tàu mà gọi, như có khi gọi là “quân Nam Hán”, là nói về việc thái tử Hoàng Tháo bị quân Ngô Quyền giết trên sông Bạch Đằng, hoặc gọi là “quân Mông Cổ, quân Nguyên”, khi nói về công cuộc chống quân Mông sang xâm lăng nước ta, hoặc gọi là “quân Minh” khi nhà Minh xâm lược, hoặc “người nhà Minh” như bọn Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch, Mặc Cửu trốn “nhà Thanh” sang xin lánh nạn ở nước ta. Những người nầy được cho vào Nam để mở mang đất Sai-Côn (Saigon) Đồng Nai bây giờ, hoặc cho xuống định cư ở Hà Tiên Rạch Giá như Mặc Cửu. Những người Tàu đến miền Trung và được ở lại, thời kỳ ấy cũng gọi là “người Minh Hương”. Họ lập làng gọi là “làng Minh Hương”, lo buôn bán làm ăn, học hành, làm quan lần hồi bị “Việt hóa” như dòng dõi các ông Trần Tiễn Thành, Lý Văn Phức, Ngụy Khắc Đản, Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản (3). Chiến công của vua Quang Trung thì gọi là “đại phá quân Thanh”.

            Tại sao gọi là người Tàu?

            Quân Tàu, khi đến xâm lăng nước ta, phần nhiều bằng đường bộ, qua ngã biên giới giữa ta với Tàu, như Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh… Còn người Tàu đến nước ta để buôn bán hay định cư, thường đi bằng tàu, ghe nên người nước ta gọi họ là người Tàu (đến bằng tàu). Ban đầu, khi mới đến, họ ở các vùng gần bờ biển, cửa biển, sau mới di cư sâu vào phía trong. Chẳng hạn, theo tôi nghe vài người Tàu già ở xứ tôi kể lại, ban đầu, họ “đổ bộ” lên vùng phá Tam Giang, lần hồi di cư lên các quận lỵ, tỉnh lỵ, lên Huế. Người Tàu giỏi về buôn bán, mở sòng bài, sinh sống ở các nơi đô hội, dễ làm ăn hơn.

            Người Việt gọi bọn cướp biển người Tàu là “Tàu ô”, “giặc Tàu ô”. Ô là con quạ đen. Gọi Tàu ô vì thuyền cướp biển của bọn Tàu thường giương cờ đen. Cũng gọi theo màu cờ nên bọn Tàu Lưu Vĩnh Phúc, ở bên tàu qua giúp người Việt chống lại Tây đánh chiếm đất Bắc Hà, sử cũng gọi là “giặc Cờ Đen” hay “giặc Cờ Vàng”.

            Tàu là tiếng rất thường gọi. Trong bài hát “Gia Tài của Mẹ”, ông Trịnh Công Sơn viết môt cách tự nhiên, theo cách nói thông thường của dân chúng: “Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu”. “Một ngàn nàm đô hộ”. Người Việt ai cũng nói như thế. Sau 1975, bài hát nầy bị dấu biệt, có lẽ Việt Cộng sợ bị Tàu Cộng “la rầy”.

            Năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng, “quân Tàu Tưởng” (quân của Tưởng Giới Thạch) sang “tước khí giới quân đội Nhựt”, thấy họ lôi thôi, rách rưới, đói ăn, ghẻ lở, nên trong dân chúng Việt Nam có câu hát đùa: “Đoàn quân Tàu ô qua, sao mà gớm thế, đem ghẻ hờm qua lây cho người Việt Nam.” Mà người Việt Nam ta bị lây thiệt. Hồi ấy có trận “ghẻ ruồi”, như tên gọi hồi trước, thì nhiều người không gọi là ghẻ ruồi, mà gọi là “ghẻ Tàu”. Ghẻ hờm cũng gọi là ghẻ Tàu.  

            Có khi người Việt gọi người Tàu là “Ngô”. Quân Tàu là “quân Ngô”. Trần Tế Xương có bài thơ:

 

                                    Ba mươi tết, tết lại ba mươi,

Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú khách,

Một tay cầm cái dù rách

Một tay xách cái chăn bông

Em đứng bờ sông

Em trông sang nước người:

“Hỡi chú chiệc ơi là chú chiệc ơi”

Một tay em cầm quan tiền,

Một tay em xách thằng bù nhìn

Quan tiền nặng thì quan tiền chìm

Bù nhìn nhẹ thì bù nhìn nổi,

Ới ai ơi, của nặng hơn người …  

                   

                Chỉ có mấy câu mà Trần Tế Xương gọi người Tàu theo nhiều tên khác nhau: Khi thì Thằng Ngô, khi thì Chú Khách, khi thì Chú Chiệc, - xứ tôi gọi là chú “Chệt”. Người miền Nam, thường gọi người Tàu là “chú Ba”, “chú Ba Tầu”, “Ba Tàu Chợ-Lớn”. “Chú Ba” khác với “chú Bảy”, là người Ấn Độ, cũng có khi gọi là “Ma-ní”, có phải để gọi người Ấn Độ từ Manille qua?

Ngô là tên nước “Đông Ngô” bên Tàu. Người Việt cũng dùng chữ Ngô để gọi người Tàu, như “Bình Ngô Đại cáo” của Nguyễn Trãi chẳng hạn. Theo tự điển của Khai Trí Tiến Đức thì “Chệt” là tiếng người Nam Kỳ dung để gọi người Tàu. Tôi không rõ gốc chữ “Chệt”, có khi là “Chiệc”. Ai biết, chỉ giùm.

Người Việt Nam là chủ (của đất nước nầy), người Tàu đến buôn bán nên gọi là “Khách” hay “Khách trú”.

Người Tàu đến nước ta buôn bán, thường thì đã có vợ bên Tàu, khi giàu có lên thì cưới thêm một người đàn bà Việt Nam làm vợ. Những cuộc hôn nhân nầy, theo Trần Tế Xương, mà cũng là nhận xét chung của số đông người Việt là: “Của nặng hơn người”

 

Kỵ húy

            Ông Hồ Chí Minh, và dĩ nhiên, cả đảng Cộng Sản Việt Nam nữa, rất kỵ húy đối với Tàu. Có nghĩa rằng họ không dám gọi người Tàu là Tàu, mà theo luật sư Đinh Thạch Bích giải thích, năm 1945, sau khi cầm quyền, Hồ Chí Minh cấm không cho gọi “Người Tàu” mà phải gọi là Trung Quốc (nước), người Trung Quốc. Bọn Tàu, bọn Ngô xâm lăng nước ta thì gọi là “Phong kiến phương Bắc” mà không gọi là “quân Tàu xâm lược” như sử sách đã viết trước kia. Ông Hồ Chí Minh có rất nhiều cái sợ: Sợ mất lòng Tăng Tuyết Minh, là người vợ Tàu của ông, do Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Lai đứng ra cưới cho. Dĩ nhiên cũng sợ Chu Ân Lai, sợ hơn hết là sợ Mao Xếnh Xáng, sợ đảng Cộng Sản Tàu, sợ người Tàu, nói chung, sợ đủ thứ bên Tàu, và dĩ nhiên cũng sợ luôn cả “ghẻ Tàu”.

            Tuy nhiên, người Tàu nói chung, cũng khá chung thủy và biết ơn. Họ “đến đây, rồi lại ở đây”, “xin nhận nơi nầy làm quê hương”, và phục vụ cho đất nước nầy. Thời còn chúa Nguyễn, trong Nam có ông Nguyễn Huỳnh Đức, có lăng ở Long An. (tên Đức, họ Huỳnh, vì có công nên được đổi sang Quốc tính: họ Nguyễn, giữ lại họ cũ thành ra là Nguyễn Huỳnh). Các ông Minh Hương như tôi nói ở trên, làm quan ở triều đình nhà Nguyễn, phục vụ nhà nước Việt Nam, như một người Việt Nam chính cống, “tận trung báo quốc”, như ông Pham Thanh Giản (chánh sứ), Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản (cả hai đều là phó sứ), trong sứ bộ Phan Thanh Giản qua Pháp để xin chuộc lại ba tỉnh miền đông Nam Phần. Ông Mạc Cửu, sau khi ổn định vùng Hà Tiên, không đem đất ấy mà dâng cho vua Tàu, mà lại dâng cho chúa Nguyễn nên được phong là “khai quốc công thần”.

            Người Tàu, khi đã định cư lâu đời ở xứ ta, gốc tích, quê uqán cũng mờ nhạt, có muốn về thăm quê cũ, chỉ về thăm thôi cũng đã khó, huống chi muốn được như cô Kiều “Dàn dà rồi sẽ liệu về cố hương” là chuyện không tưởng. Trong “Hơn nửa Đời Hư”, ông Vương Hồng Sển, nói về tình cảnh ấy như sau:

            “Bây giờ thử hỏi: Một người như tôi, máu Hoa pha máu Việt đã bốn đời, không nói được tiếng Phước Kiến, giá thử có dịp qua bên ấy, vậy chớ có nhìn đồng tông đồng tánh với người bên ấy được chăng? Giấy tờ chứng minh không có, nói miệng tài ai tin vả lại nhìn bà con ở xa mút bên Tàu để làm gì? Khi đã xa cách nhau suốt nhiều đời, dẫu tình đậm cũng hoá lợt; thêm vấn đề ngôn ngữ bất đồng, phong tục cách ăn thói ở không giống, “y ăn xì-dầu, tôi húp nước mắm”, lại nữa tỉnh Phước Kiến là đất tiêm nhiễm lâu năm chủ nghĩa khác với tôi. Vương nầy Vương kia, tôi tưởng gặp nhau e không dám ngó ngay mặt chớ đừng nói chi chuyện bất tay nhau nhìn một họ một dòng. Gặp nhau, câu thi Học Lạc ngâm suông: “Hoá An-nam, lữ khách trú”... rồi huề. Không nói thêm được nửa lời.

Họ tự mình“Việt Nam hóa”. Đó cũng là ý trong câu thơ:  “Hóa An Nam, lữ khách trú” của Học Lạc. (4)

 

_____________________________________________________________________________

(1)   Năm 1904, khi cụ Phan Bội Châu quan Nhật Bổn để cầu viện, sau khi nói chuyện với cụ  Phan xong rồi, thủ tướng Nhật là Khuyển Dưỡng Nghị, gặp Tôn Văn, hỏi ý có nên giúp đỡ  Việt Nam hay không. Tôn Văn nói dân tộc Việt nhỏ bé, kém cỏi, không có tinh thần chi, không nên giúp đỡ. Nghe thế, ông Khuyển bèn nói: “Nhưng người Việt Nam thuộc giống Lạc Việt còn giữa được dòng giống của họ, trong khi 99 giống Việt kia đã bị người Hán đồng hóa”. Trong 99 tộc Việt kia, có tổ tiên của ông Tôn Văn. Nghe ông Khuyển nói vậy, ông Tôn Văn chỉ còn có “ngậm bồ hòn”.

(2)   Chinato có nghĩa là “Chú Tàu nhỏ”. Danh từ nầy xuất hiện vào thời kỳ “Westward” của dân Mỹ. Hồi ấy cũng đã có một số ít người Tàu di cư sang Mỹ, làm công nhân trong việc xây dựng đường xe lửa đi về phía Tây cùng với người Xì (Tây Ban Nha).

(3)   Phan Thanh Giản được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản) sang nước Pháp để điều đình một lần nữa về việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông (1863), nhưng cũng không đạt được kết quả.(theo Wikipedia)

(4)   Nguyễn Văn Lạc, thường gọi là Học Lạc.

Cùng nhau bị bắt

Nhân khi coi đánh bông vụ, bị bắt cùng người Tàu chủ song.

 

Hóa An Nam lứ khách trú

Trăng trói lằng nhằng chung một lũ

Ngoài mặt ngỡ ngàng lạ Bắc Nam

Trong tay cắc cớ xui đoàn tụ

Bợm làng chẳng vị sĩ năm kinh

Ông bổn không thương người bảy phủ

Phạt vạ xong rồi trở lộn về

Hóa thì hốt thuốc lứ bông vụ. 

                                    (trích lại trong “Văn Đàn Bảo Giám”)

 

(Kỳ tới:

Bài 2

Chính phủ Việt Nam)

 

__._,_.___


1 of 1 File(s)

TÌNH MẸ CON (1)


From: But Xuan <

To: Kebat Binh <
Sent: Wednesday, 8 May 2013 10:16 AM
Subject: Tình Mẹ Con Truyện ngắn Bút Xuân

 

Xin anh Bình vui lòng post. Đa tạ.

 

TRUYỆN NGẮN


TÌNH MẸ CON (1)


* Bút Xuân TRẦN ÐÌNH NGỌC

 

        Cụ Tấn nhìn qua khung cửa sổ nhỏ của căn chúng cư Fairview. Cụ cứ nhấp nhổm nãy giờ. Ðói nhưng cụ không muốn ăn một mình mà chờ con về cùng ăn cho vui mặc dù nồi cơm điện với cái nút  hồng sáng rỡ trong căn phòng tranh tối tranh sáng có vẻ như mời mọc. Thức ăn gồm rau cải luộc, dưa leo và cá kho cũng đã sắp sẵn tại cái bàn tròn.

 

        “Quái sao hôm nay con bé về trễ vậy?” Cụ Tấn lẩm bẩm.

 

         Thức ăn và chén bát đã sẵn sàng trên bàn làm cụ  phải nhìn. Cụ vẫn thường nghĩ cụ đã cao tuổi, ăn sao cũng được; ăn thanh đạm thế này là tốt, nhưng cái con bé nó còn trẻ, còn đang hoạt động mà ăn theo cụ thì nó yếu sức đi hay không đủ sức làm việc. Cụ ngần ngừ nhìn cái tủ lạnh rồi mở cửa tủ nhìn vào chỗ để rau, trái.

 

        Nhìn đi nhìn lại thấy hai quả mướp hương, cụ Tấn lấy ra ngồi ở bàn gọt vỏ. Rau, dưa đã có nhưng cụ nghĩ, con gái cụ lại thích mướp xào thịt gà, tại sao không làm cho nó ăn cho ngon miệng, nhất là mình còn ngồi đây đợi nó về.

 

Cái tính thích mướp hương là từ ông chồng cụ ngày xưa, bây giờ chuyền sang cô con gái. Ăn gì thì ăn mà hễ có đĩa mướp xào là bữa ăn thịnh soạn, ngon lành lên ngay. Hồi xưa, mướp hay xào lòng gà; đôi khi xào với ếch hay thịt lợn, thứ nào cũng ngon. Ở Mỹ, lòng gà không thiếu nhưng ếch tươi không sẵn, cứ ức gà là giản tiện mà ít mỡ.

 

        Hồi còn tinh nhanh, cụ Tấn chỉ gọt một tí là xong trái mướp, bây giờ mắt kém, tay run, cụ phải dùng gấp ba, gấp bốn thì giờ. Gọt xong hai trái mướp, cụ Tấn chẻ dọc rồi cắt khúc. Xong cụ lấy cái ức gà ở ngăn dưới, đặt trên thớt thái mỏng. Cụ phi hành, tỏi cho thơm lên bỏ thịt gà vào xào cho chín, rồi bỏ mướp, miệng cụ cứ nhắc đi nhắc lại:”Con bé hôm nay được ăn mướp xào gà là thích lắm đấy.”

 

 Cụ mỉm cười khi nghĩ đến con cụ có niềm vui.

 

Hình như lúc nào trong đầu cụ cũng có “con bé”, cả trong giấc ăn, giấc ngủ.

 

        Cụ Tấn cảm thấy đói. Mùi mướp xào bay lên làm cụ càng thấy cái đói rõ rệt hơn.

 

Cụ chỉ cần mở nồi cơm, xới lưng bát và ngồi bàn ăn với các thức ăn đã có sẵn là đỡ đói  ngay, êm bụng ngay nhưng cụ không làm. Cụ đợi cô con gái yêu của cụ về cùng ăn cho vui vì cả ngày chỉ có bữa ăn tối là thuận tiện nhất để hai mẹ con trò chuyện...

 

Như mọi buổi chiều, giờ này hai mẹ con cụ đã ăn cơm xong, đang ngồi coi TV một chút rồi đi ngủ, chứ đâu có trễ dữ như hôm nay.

 

        Sốt ruột quá, cụ Tấn lấy vung, đĩa lớn đậy các đĩa thức ăn lại rồi ra phía  cửa sổ vạch màn gió, nhìn ra bên ngoài.

 

Nắng đã nhạt, bóng mấy thân cây ô-liu xum xuê và mấy cây dừa cao nhòng trên bãi cỏ và trên khoảng sân cư xá phía trước đã ngả dài, có nghĩa chiều đã muộn muộn, chẳng còn bao lâu nữa là tối. Một đàn chim sẻ có lẽ cả trăm con bu vào một lùm cây ô-liu, tiếng kêu chiếp chiếp rộn cả một khoảng sân. Dăm con quạ đen vẫn nhởn nhơ bay qua bay lại, há mỏ kêu “quạ quạ”. Người Việt Nam ít người thích cái giống ác điểu này. Đi đến đâu nó chỉ mang xui xẻo đến đó. Bỗng dưng có tiếng quạ kêu là người nông thôn khi xưa lại nghĩ có lẽ có ai chết vì có tiếng báo tử của quạ. 

 

Xe cộ và người đi bộ ra vào tấp nập. Dăm đứa trẻ vừa Việt Nam, vừa Mễ, vừa Mỹ đang nô đùa ầm ĩ ngay cạnh cái “bót” gác nhỏ xíu của anh gác dan lo giữ trật tự trong cư xá, ở gần cổng ra vào. Một cái máy cassette đang tuôn ra những bản nhạc Mễ rậm rịch nghe điếc cả tai.

 

        “Quái sao con bé này hôm nay về muộn thế?”

 

        Cụ Tấn lại lẩm bẩm. “Hay xe  hư?”  Cụ nói cho mình nghe để bớt nóng ruột.

 

Ðứng nhìn ra một lúc đã hơi mỏi chân, cụ Tấn lại ngồi trên ghế sofa  một lúc nữa, chịu hết nổi, cụ lại đứng lên lại bên cửa sổ. Lần này cụ với tay mở cái cửa ra vào, lò dò ra khoảng sân phía trước.

 

Như mọi lần chờ con, cụ Tấn đứng tựa vào gốc một cây ô-liu già mà tuổi đời của cây có lẽ cũng xấp xỉ tuổi cụ. Ðứng một lát mỏi quá, cụ lại ngồi trên một cái bệ gạch. Trí óc đưa cụ Tấn trở lại những năm xưa.

 

        Cụ Tấn được đi Hoa kỳ nhờ diện đoàn tụ. Cụ làm quen với Cộng đồng này gần năm năm nay, lúc đến Hoa kỳ, tuổi đời  của cụ mới chẵn  tám mươi.

 

        Vì lý do nhân đạo, Chính phủ Hoa kỳ cho phép cụ đi theo người con gái duy nhất sang đây - người mà cụ vẫn quen miệng gọi là con bé - vì cụ có nhờ anh thông dịch viên nói với phái đoàn Mỹ ở Sàigòn hồi đó là, nếu người con gái độc nhất bỏ cụ lại một mình ở Việt Nam thì “nó đi tuần trước, tuần sau  tôi chết.”

 

        Cái con bé của cụ năm nay đã  hơn sáu mươi, cũng góa chồng như cụ từ lâu, có 6 người con đã trưởng thành đang ở Mỹ, xin bảo lãnh cho hai mẹ con cụ. Cái con bé ấy mà nếu gọi bằng nhũ danh, cụ vẫn gọi là cái Lụa,  như  hồi  nào  Lụa chưa đi lấy chồng.

 

        Bà Lụa mất ông chồng đúng vào dịp 30-4-75 lúc ông đang là sĩ quan Tâm lý chiến Trung đoàn 3 Bộ binh đóng ở Lăng Cô, ngoại vi Ðà nẵng.

 

        Gia đình bà Lụa lúc đó cả thảy 9 người, ngụ trong cư xá Sĩ quan tại Ðà nẵng. Cụ Tấn đã ở với con gái và con  rể  ngay từ hồi di cư vào Nam năm 1954. Chồng cụ Tấn xưa kia đã ra làm việc hàng xã nhưng chẳng được bao lâu, ông bị bệnh từ trần để lại cho cụ Tấn hai người con gái và một người con trai, Lụa là  bé  nhất.

 

Cuộc đời dâu bể, bể dâu, hai người kia, một tử trận khi chiến đấu trong hàng ngũ Quốc gia, một chết vì ung thư, chỉ còn lại bà Lụa. Kể từ đó, cuộc đời cụ Tấn gắn liền với người con gái còn lại duy nhất.

 

        Cuộc sống của gia đình bà Lụa sau ngày 30-4-75 vô cùng khó khăn.

 

Chồng bỗng nhiên biệt tích, không biết sống chết ra sao. Một mẹ già, 6 đứa con còn nhỏ, đứa lớn nhất mới 19 tuổi, đã đậu Tú tài 2, nhưng chưa có công ăn việc làm. Vốn liếng hạt cải, bà Lụa cùng hai cô con gái lớn mở một quán cà-phê ngay trong chợ Cồn làm kế sinh sống qua  ngày.

 

        Cũng may lúc đó hàng cà-phê chưa nhiều, mẹ con bà Lụa bán mỗi ngày trăm tách cà-phê cũng tạm đủ để chi dụng hai thứ cần thiết: hai bữa cơm mỗi ngày và một căn phòng nhỏ trú mưa đụt nắng cho cả 8 người. Đám cán bộ Cộng sản từ Bắc được điều vào Nam, trước đây nào có biết cà phê cà pháo là cái gì, ngay cơm độn ngô khoai không đủ ăn phải nhai lá cây rừng mà sống, nay tiền bạc rủng rỉnh vì đào xới khắp mảnh đất miền Nam, có quyền nạt nộ dân lành nhất là những gia đình có ngưòi làm việc với chính phủ Cộng hòa trước kia nên tiền bạc rủng rỉnh, tha hồ ăn nhậu. Quán cà phê bà Lụa là nơi chúng đến tụ họp, vài ba tên lại để ý hai cô con gái lớn của bà Lụa, tưởng rằng với quyền thế này, tiền bạc này làm gì mà chả được nên đã tranh nhau lấy lòng các cô gái và bà Lụa chờ dịp tấn công. Nhưng bà Lụa rất tinh ý, chỉ nhìn qua là thấy ngay “tim đen” của đám cán ngố nên dặn hai đứa con cứ ừ hữ, ngọt ngào cho qua ngày nhưng chỉ đứng xa xa không cho chúng sáp tới, đợi có chuyến tầu vượt biên là tếch, chớ làm chúng mất lòng, bị để ý mà hư việc. Kế hoạch ấy xem ra hữu hiệu. Được là vua thua là giặc, xưa nay thời nào câu thành ngữ ấy cũng đúng. Những đứa con của một kẻ chiến bại sẽ không có giá trị gì trong xã hội của kẻ thắng! Cách hay nhất là ép mình mà sống cho qua, chờ thời, miễn không làm gì hại đến danh dự con người là được.  

 

        Cụ Tấn lúc đó còn làm việc được. Cụ giúp con và cháu đun nước sôi, rửa chén đĩa, làm sạch gian hàng cà-phê. Cụ cũng biết làm vài thứ bánh như bánh đậu xanh, bánh trôi nước, bánh cuốn Thanh trì. Những khách hàng đã thưởng thức bánh cuốn cụ Tấn tráng ngay tại cửa hàng cà-phê một lần thì không còn muốn ăn bánh cuốn ở nơi nào khác nữa.

 

Bánh cuốn cụ Tấn tráng thật mỏng, mềm và dẻo; nhân mộc nhĩ, thịt heo xào hành thơm phức, nước mắm tỏi chua ngọt có vài giọt cà cuống đúng điệu bánh cuốn Thanh trì Hà nội khi xưa; dân sành ăn không thể bỏ qua.

 

        Bữa cụ Tấn bảo với con, cháu cụ muốn tráng bánh cuốn cho cửa hàng cà-phê có thêm đồng ra đồng vào, bà Lụa nói ngay:

 

        “Thôi mẹ ạ. Hồi còn trẻ mẹ làm gì cũng được chứ bây giờ mẹ yếu rồi. Ðể con và các cháu bán mấy tách cà-phê, bánh ngọt, nếu trời thương may ra cũng kiếm được ngày hai bữa. Tráng bánh cuốn không phải ít việc đâu, rồi mẹ bệnh ra thì khổ cả.”

 

        “Không, tao biết tao làm được.” Cụ Tấn chắc giọng trả lời,” Ðể tao đi chợ mua một cái nồi nhôm  lớn, có vung đậy đàng hoàng và một vuông vải phin trắng mới rồi tao làm cho tụi bay coi.”

 

        Nói là làm, ba hôm sau cụ Tấn đã có đủ đồ nghề cho việc tráng bánh cuốn Thanh Trì.

 

        Mảnh vải trắng căng trên mặt nồi. Cụ bảo thằng Yêm, thằng cháu trai, đi chặt một cây tre tươi. Lấy một thanh tre, cụ làm thành cái vòng để giữ cho vuông vải căng thẳng trên mặt nồi. Một thanh tre khác cụ làm cây que dài để nhấc bánh ra khi bánh đã chín.

 

Cụ Tấn chuẩn bị xong hết rồi chụm củi. Bếp củi cháy thành than đượm làm nồi nước sôi đều. Cụ Tấn ngồi trên cái ghế đẩu chỉ cao chừng hơn gang tay. Cụ dùng muôi múc bột trải đều trên mặt vải, xong đậy vung lại. Cụ đếm trong miệng cho bột đủ chín xong mở vung ra, cầm thanh  tre dài, cụ uốn cái que cho chui xuống cái bánh, nhấc bánh ra đặt vào cái đĩa lớn bên cạnh, xong lại dùng muôi múc bột làm cái bánh khác.

 

        Chẳng bao lâu, cụ Tấn đã tráng ra vài chục cái bánh nóng hổi. Bà Lụa múc nhân đã xào sẵn cho vào giữa cái bánh, gói lại như cái chả giò rồi xếp vào đĩa, trên lại phủ thêm tôm chà bông và tỏi phi dòn.

 

Hai mẹ con tạm ngưng tay, mỗi người ăn nếm một cái bánh xem ngon dở ra sao. Cụ Tấn nói:

 

        “Nhân hơi mặn phải bớt nước mắm đi. Bánh chưa được dẻo lắm, phải pha thêm bột nếp.”

 

        Bà Lụa và cụ Tấn điều chỉnh nhân và bột cho đến khi cái bánh vừa miệng và thật ngon, nhớ lấy tỉ lệ bột, nước và các thứ gia vị để pha chế cho những mẻ bánh sau.

 

Ngày đầu tiên, cụ Tấn không cho bán mà để cả nhà ăn một bữa bánh cuốn thỏa thuê. Các đứa cháu cụ Tấn đứa nào cũng khen hết lời và chắc mẩm thế nào người đến ăn cũng đông. Chúng còn đề nghị để cái bảng nhỏ phía ngoài:”Bánh cuốn Thanh Trì bà Lụa”; thế là từ đó, tiệm bánh cuốn khách ra vào nườm nượp.

 

Có nhiều người đặt cọc từ mấy hôm trước mới có bánh. Có người đến ngồi lì uống cà-phê chờ cụ Tấn tráng xong đưa về. Cụ Tấn làm tối tăm mặt mày cũng không đủ bánh bán. Khổ nỗi chỉ cụ tráng mới ra bánh, mấy đứa con gái bà Lụa vừa phần không ngồi lâu được, vừa phần hai bàn tay không khéo, bánh dầy quá ăn không ngon hoặc mỏng quá, gẫy nát hết không gói lại được. Bà Lụa tráng cũng tạm được dù không bằng cụ Tấn nhưng bà là cái chân chạy, quản lý mọi thứ thì cửa hàng cà-phê và bánh cuốn mới mở cửa đều đặn được.

 

        Bà Lụa phải chọn thịt ngon, tươi làm nhân mới ngon. Thịt heo lúc đó đắt và lúc có lúc không, bà phải đặt hàng từ những nhà giết heo, đưa tiền trước cả nửa tháng, người ta mới dành cho thịt đúng ý.

 

        Ðến cái vụ bột mới là phiền. Bột tẻ, bột nếp lúc đó chưa có bán sẵn như sau này, bà Lụa phải mua một cái cối xay bột, mướn một chị người làm ngồi xay cả ngày xuống một cái nồi lớn để chứa, bột tẻ riêng, bột nếp riêng, hôm sau cụ Tấn mới pha trước khi tráng.

 

        Ngày bán khoảng dăm trăm cái bánh cuốn Thanh Trì và ít tách cà-phê, bà cháu, mẹ con cũng có đủ tiền để sinh sống, trang trải. Dần dần, vì quá bận với bánh cuốn, cụ Tấn không làm bánh trôi, bánh đậu xanh nữa mà những thứ này có người bỏ mối đưa đến mỗi ngày. Mấy đứa trẻ chỉ chuyên lo dịch vụ cà-phê.

 

        Tạm lo đủ kế sinh nhai cho gia đình nhưng người ta ít thấy nụ cười trên môi bà Lụa. Giữa năm 1975, rồi cuối năm, tin tức về ông chồng vẫn bằn bặt. Bà Lụa đau đớn nghĩ có lẽ chồng đã chết hoặc bị mất tích trong những ngày lộn xộn cuối tháng 3 và đầu tháng 4 ở miền Trung.

 

        Ngày chót ông về thăm nhà là giữa tháng 3. Ông bảo vợ tình hình khẩn trương lắm. Ông muốn cho vợ con vào Sàigòn trước vì ông nghĩ có bề gì, một thân ông đi theo Trung đoàn cũng dễ dàng hơn. Ông nghi ngờ miền Trung sẽ mất sớm. Sau đó không bao giờ ông về nữa. Bà Lụa đi dò hỏi thì hình như đơn vị ông đi tăng phái cho một đại đơn vị ở Nha Trang rồi sau đó không ai biết ra sao nữa.

 

        Giờ này bà là cột trụ của gia đình. Mẹ bà, các con bà trông vào sự xoay xở, lanh lợi của bà để sống còn trong cơn phong ba. Chỉ sau dăm năm, bà Lụa già đi trông thấy.

 

        Mỗi năm đến ngày 30-4, bà Lụa vẫn đặt hương hoa nhang đèn giỗ chồng. Bà lấy ngày đó làm ngày kị của chồng để các con chúng nhớ đến cha chúng.

 

        Ngoài nhiệm vụ với người đã khuất, bà còn một trọng trách nặng nề với những người còn sống. Bà phải lo cho 6 đứa con có chút tương lai. Và bà kiên quyết thực hiện.

       

        Bà Lụa tần tiện, chắt mót từng đồng để gửi con vượt biên. Cho đến 1985, bà đã gửi được cả 6 đứa con sang Mỹ theo diện đi chui “boat people”. Ðứa ba “cây” (lạng vàng), đứa năm “cây”, có đứa lại cả 15 “cây”, có đứa bị bắt trở lại bà phải chạy chữa đưa ra, nhưng rốt cuộc “hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân” các con bà an toàn đến Hoa kỳ.

 

Tám năm sau khi đến Mỹ, hai cô con gái lớn của bà đã có việc làm, một cô học ra Dược sĩ, một cô Quản trị kinh doanh, xin bảo lãnh diện đoàn tụ cho mẹ và bà ngoại.

 

        Bà Lụa đến Mỹ ở tuổi 57 nhưng bà không chịu ngồi yên để con nuôi. Bà đi thi lấy bằng lái xe, bảo lũ con mua cho bà một chiếc xe cũ làm chân. Bà đi học ESL (English as a second language), đi làm những công tác thiện nguyện. Thứ bảy, chủ nhật, bà Lụa chở mẹ đi lễ chùa, đến những lớp dạy Tài Chi, hoặc đi thăm bạn bè. Cụ Tấn nhờ vậy cũng khuây khỏa tuổi già.

 

        Trước kia, hai mẹ con sống với vợ chồng cô con gái lớn nhưng phòng ốc ở Mỹ có hạn mà cặp vợ chồng này cứ “quen dạ đẻ cách năm đôi” nên hai mẹ con bàn với nhau đi xin housing Chính phủ và tách ra ở trong chúng cư, vừa tự do cho mình, vừa đỡ cho con, cho cháu phải lo lắng.

 

        Mấy người con nhỏ của bà Lụa, gọi là nhỏ nhưng chúng cũng đã quá cái tuổi 18, chúng đi ở “dorm” trong Ðại học, chúng có công việc ở các tiểu bang khác, chúng không muốn vướng bận với người lớn. Thành ra cuối cùng chỉ còn hai mẹ con gái, một căn chúng cư làm cái tổ và những bữa cơm rau dưa thanh đạm có mẹ có con.

 

        Từ khi cụ Tấn qua Mỹ, bà Lụa đã chở mẹ lên Sở Xã hội để xin cho cụ Phiếu Y tế mỗi tháng. Với tuổi cao như cụ Tấn, sở Xã hội đã thỏa mãn nguyện vọng vì chi phí y tế ở Mỹ rất cao, gia đình bà Lụa không cách gì có thể trang trải được.

 

        Sở Xã hội còn đề nghị cho cụ Tấn vào “Viện dưỡng lão”, chính phủ lo cho mọi thứ từ ba bữa cơm mỗi ngày đến thuốc men, bác sĩ, y tá và các thứ sinh hoạt thường ngày như các cụ cao niên trong Viện dưỡng lão, nhưng bà Lụa từ chối mà cụ Tấn cũng không chịu đi một mình. “Mày có vào đây ở thì mẹ mới ở.” Cụ Tấn bảo bà Lụa. Rốt cuộc, một căn “housing” cho hai mẹ con là cụ Tấn và bà Lụa thấy thoải mái, dễ  sống  nhất.

 

        Vả lại, nếu cụ Tấn chịu ở một mình trong Viện Dưỡng lão, bà Lụa ắt phải về ở với con gái. Căn nhà chỉ có 3 phòng, hai vợ chồng và 3 đứa con của nó lại nhét thêm bà vào, một điều vạn bất đắc dĩ mới phải làm.

 

        Sau ba năm như trong “giao kèo”, người bảo lãnh phải lo mọi chi phí ăn, ở, thuốc men cho người được bảo lãnh, cụ Tấn, lúc đó đã 83, được Sở Xã hội chu cấp tiền già và phiếu Y tế. Tiền già Cali cao nhất Hoa kỳ, đủ cho một người cao niên ăn, ở, tiền túi và chi tiêu những việc thường thường như đình đám, đi chơi trong vùng v.v...Khi bệnh hoạn, phiếu Y tế giúp trả tiền bác sĩ, tiền mua thuốc và khi cần vào nhà thương hoặc mổ xẻ. Ðược cái an ủi là dịch vụ y tế tuy “cho không” nhưng mọi tiện nghi đều được hưởng y như những người có tiền mua bảo hiểm, chỉ trừ những bảo hiểm cực đắt như của các tài tử Hollywood hay những tay tỉ phú.

 

Cụ Tấn đã phải vào bệnh viện một vài bận. Cụ không ngờ không tốn tiền mà cụ được hưởng những tiện nghi sang trọng đó. Cụ chỉ nằm một lần ba ngày, một lần có hai ngày vì bị chóng mặt, ăn không ngon, cảm thấy mất thăng bằng khi đi đứng. Ðêm cũng như ngày, các cô y tá thay phiên cho cụ uống thuốc, đo máu, đo nhiệt độ, hỏi han xem trong người cụ ra sao, có đỡ không v.v...Ngày ba lần, cụ Tấn được cho ăn theo kiểu Mỹ, có cá, thịt, rau cải, bánh mì, sữa, trái hoặc kem. Nhưng cái miệng và cái bao tử của cụ chỉ thích rau dưa Việt Nam nên chỉ vài ngày, bà Lụa phải nói với bác sĩ Mỹ cho cụ ăn cơm đưa từ nhà vào. Ông bác sĩ thông cảm, đồng ý liền.

 

Mỗi buổi sáng, bác sĩ đến tận phòng đo, xem và dặn y tá những điều cần thiết để trị bệnh cho cụ. Bà Lụa đi theo thì có thêm một giường bên cạnh, đêm có thể ngủ lại để coi cụ, vô cùng chu đáo.

 

**********

 

         Cụ Tấn cứ hóng mắt ra phía cổng, cố nhận diện cái xe Camry cũ, mầu đỏ của con gái. Với tuổi này, cụ cảm thấy cái khổ khi phải chờ một người.

 

        Chị Lương, ở cùng chúng cư,  dẫn hai đứa con đi qua, thấy cụ Tấn đứng xớ rớ cạnh gốc ô-liu, chị nhanh miệng hỏi:

 

        “Chào cụ, cụ đứng đây chờ ai vậy?”

 

        “Chị Lương đấy hả? Tôi chờ con gái tôi đấy mà!”

 

        “Cô Lụa hôm nay về trễ hả cụ? Cụ lại nhà cháu chơi một lát rồi cô ấy về. Ði, cụ đi cùng với cháu.”

 

        “Không được đâu chị Lương. Tôi phải đợi nó về mới đi đâu được.”

 

        Chị Lương dẫn hai đứa con đi rồi, cụ Tấn lại ngồi hóng mắt ra phía cổng. Bóng tối như cái cọ khổng lồ của nhà họa sĩ, quét ngang quét dọc vài đường là không gian chìm trong mầu đen. Ðèn trong cư xá đồng loạt bật.

 

        Cụ Tấn nhìn những chiếc xe bật đèn sáng vào trong cổng nhưng cụ không thể nhìn ra chiếc xe của cô con gái. Cụ lặng lẽ thở dài đứng lên toan vào nhà vì sương xuống, đã hơi lạnh, người già như cụ không quen chịu. Ðúng lúc đó, một giọng nói thân quen vang lên phía sau:

 

        “Mẹ đấy hả? Mẹ lò mò làm gì ở ngoài này?”

 

Bà Lụa còn cách cụ Tấn mươi bước.

 

        Cụ Tấn nhìn sững con. Nước mắt cụ tự nhiên ứa ra. Bà Lụa đến cầm tay cụ dắt vào nhà.

 

        “Mẹ đứng ngoài sương rồi ho cho mà coi. Con đã dặn mẹ cứ ngồi ở trong phòng rồi con về mà!”

 

        Cụ Tấn nấc lên:

 

        “Mày đi lâu quá tao bồn chồn lắm. Tao lại sợ xe hư.”

 

        Bà Lụa đi lấy khăn mặt xả qua nước nóng, đem đến lau mặt cho cụ Tấn:

 

        “Con quên không nói với mẹ. Lớp học Anh văn hôm nay người ta tổ chức tiễn bà giáo, có liên hoan nên con về hơi trễ. Ðể con sắp cơm mẹ ăn nhé!”

 

        Cụ Tấn gật đầu. Bà Lụa dìu mẹ lại bàn, bà biết rõ rằng dù bà có về trễ đến đâu, cụ Tấn vẫn chờ về cùng ăn. Hình như ở nơi đất khách này, mẹ càng cần con, con càng cần mẹ nhiều hơn là hồi còn ở Việt Nam.

 

Ở cái xứ mà ra khỏi nhà là phải giao tiếp bằng tiếng Anh, ra khỏi nhà là phải lái xe như người ta, đi học, đi làm, đi chơi, đi chợ búa, chùa chiền, nhà thờ nhất nhất cái gì cũng phải hòa nhập với đời sống của dân địa phương thì mới dễ sống, mới không bị lạc lõng, không bị cô lập. Mà ở tuổi cụ Tấn, làm thế nào để cụ nói tiếng Anh và lái xe? Cụ không làm được nhưng có cái may là con cụ còn làm được; đó cũng là điều yên ủi cho cụ. Chứ nếu cả hai mẹ con cùng phải chờ cho người ta giúp thì hoàn cảnh còn khổ hơn nhiều.

 

        Cụ Tấn bảo con hâm lại món mướp. Bà Lụa vừa hâm vừa nói:

 

        “Mướp non và thơm quá hả mẹ.”

 

        Cụ Tấn giơ một ngón tay ra trước:

 

        “Mắt mẹ lẻm kẻm, xuýt nữa đứt tay, chỉ hơi đau.”

 

        Bà Lụa nâng bàn tay mẹ lên nhìn:

 

        “Sướt da ra đây. Ðể con lấy an-côn con bôi cho mẹ.”

 

        Rồi bà lại tủ thuốc nhỏ lấy chai cồn và dúm bông với cái “band aid”.

 

        “May là chưa chảy máu. Từ nay mẹ đừng gọt mướp nữa.”

 

        “Nhưng mẹ thấy mày thích ăn.”

 

        “Ðể con về con làm.”

 

Cụ Tấn đói quá ăn không biết ngon. Vừa ăn bà  Lụa vừa nói chuyện liên hoan tại lớp cho mẹ nghe.

 

“Mẹ biết không? Người Mỹ mà họ cũng tình cảm lắm. Bà giáo dạy tụi con hai niên khóa, hôm nay phải đổi đi, bà cũng bịn rịn khi chia tay, nói gì người Việt.”

 

Cuối cùng là những lời khuyên:

 

        “Mẹ phải để ý khi mặt trời lặn rồi chớ có đứng ở ngoài cửa đợi con. Bệnh cảm cúm, ho, sốt v.v...nó rình mẹ, hễ mẹ yếu là nó làm tới. Me ăn cơm xong, con lấy cho mẹ viên Tylenol để mẹ uống phòng ngừa.”  

 

        Bà Lụa lo xa rất đúng. Ðêm hôm đó, cụ Tấn húng hắng ho làm cả hai mẹ con cùng không ngủ được. Bà Lụa ra khỏi giường, lấy thuốc ho còn lại lần trước, lấy muỗng đong vào cái li nhỏ, pha thêm chút nước ấm mang lại cho mẹ:

 

        “Con đỡ mẹ dậy mẹ uống chút thuốc ho.”

 

        Bà Lụa đi lấy dầu khuynh diệp lại thoa vào trán và thái dương cho mẹ, thoa bóp hai bàn chân, bàn tay:

 

        “Bây giờ mẹ cố ngủ đi một giấc, nha mẹ!”

 

        Sáng hôm sau, bà Lụa gọi điện thoại đến văn phòng nhà trường. Bà đã học nằm lòng câu tiếng Anh thông dụng:

 

        “Tên tôi là...Xin nói chậm chậm, hôm nay mẹ tôi bệnh, tôi không đi học được. Cám ơn.”

 

        Từ hồi bắt đầu học, bà Lụa không bỏ một giờ học vì bà muốn hai ước vọng tha thiết của bà phải được thực hiện. Lái xe, thì bà đã lái  từ ngày đến Mỹ chỉ sau vài tháng. Còn Anh ngữ, bà đã dạn nói hơn xưa và nếu có đi lạc đường, bà đã có thể hỏi thăm Cảnh sát hoặc người đi đường để tìm về nhà. Sự quan trọng nhất đối với bà là phải đi học đều đặn, đi qua những bài dễ mới lên được những bài khó. Chỉ khi mẹ bệnh,  bà Lụa mới xin nghỉ để lo cho mẹ mà thôi.

 

        Kì hè vừa rồi, vợ chồng cô con gái lớn của bà Lụa, Sương và Quỳ, muốn mời bà Lụa cùng đi du lịch Âu châu với họ nhưng sau khi hỏi ý kiến cụ Tấn, bà Lụa đành cám ơn nhã ý của vợ chồng cô con gái.

 

        Ở tuổi này, cụ Tấn không thể ngồi máy bay cả hai mươi giờ, cũng không thể đi giầy bata sắp hàng cả giờ đi vào các khu di tích cổ để coi. Miếng ăn, miếng uống ở các tiệm ăn, các khách sạn ê hề ra nhưng cụ Tấn không thể ăn. Món ăn Âu - Mỹ, cụ không ăn được một bữa, mà dù cho ăn được thì sau đó thức ăn lâu tiêu, choáng váng nhức đầu vì nhiều bơ,mỡcũng làm cụ bệnh.(Mời đọc:vietnamexodus.org Trang Văn học)

 

        Quỳ và Sương muốn mẹ đi nên bảo bà Lụa:

 

        “Mẹ cứ để bà ngoại ở nhà. Tụi con mướn một người đàn bà đến săn sóc và lo cho ăn cho uống y như khi mẹ ở nhà cho bà ngoại. Dịp này mẹ không đi được với tụi con và các cháu thì còn lâu lắm tụi con mới đi nữa, có khi không đi nữa mà lại đi nơi khác.”

 

        Bà Lụa nghe con nói mềm lòng, muốn đi, nhưng khi nghĩ đến phải để mẹ lại cho một người xa lạ, bà lại ngần ngừ, nhất là khi thấy mẹ không được khoẻ, bà cương quyết gạt bỏ ý nghĩ đi du lịch.

 

        “Thôi các con và mấy đứa nhỏ đi đi. Mẹ cám ơn các con lo lắng cho mẹ mướn cả người săn sóc bà ngoại nhưng mẹ không yên chí vui chơi khi bà ngoại ở lại nhà với người lạ. Rồi lỡ trong khi mẹ đi, bà ngoại bệnh thì làm sao?”

 

        Quỳ sốt sắng:

 

        “Thế thì  mời bà ngoại cùng đi. Tụi con lo hết.”

 

        “Không được đâu con. Bà ngoại yếu lắm không thể đi xa nhà lâu ngày như thế. Bà bệnh ra đó còn khổ cho các con nữa. Bà đi được hay không mẹ biết.”

 

        Chính vì cụ Tấn, đã hai chuyến du lịch đáng lẽ bà Lụa đi với các con, các cháu nhưng đều phải tạ từ.

        Khi hỏi cụ có muốn về Việt Nam thăm lại quê hương không, cụ nói:

        “Muốn thì muốn lắm nhưng sức không ngồi tầu, xe được. Về e chết bên đó, con cháu chẳng có, lại làm phiền hàng xóm, những người quen khi xưa. Chẳng có gì giúp đỡ họ lại mang gánh nặng cho họ sao yên tâm?”

        Mỗi năm đến Ngày Hiền Mẫu tại Hoa kỳ, bà Lụa lái xe đưa mẹ đi dự các cuộc vui trong thành phố. Người ta tặng cụ hoa, đồ kỉ niệm và đám trẻ bằng tuổi các cháu cụ, thay nhau hát những bài ca về tình mẹ con, về tình tự quê hương cho cụ nghe.

        Nhờ bà Lụa, nhờ “cái con bé” của cụ Tấn, người ta nhìn thấy cụ rất yêu đời, rất thanh thản an nhiên tự tại và tự tin - những yếu tố cần cho cuộc sống dù già hay trẻ - với nụ cười móm mém nhưng luôn luôn nở trên môi.

(còn tiếp)

 

Bút  Xuân TRẦN ÐÌNH NGỌC

(Trích Tuyển Tập Tình Mẹ Con Xb 2009 Nhà XB Đông A)

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List