Popular Posts

Sunday, November 16, 2014

Trường hợp quỉ ám gia tăng vì trò chơi Cầu Cơ, theo các chuyên gia từ Vatican.

 
Trường hợp quỉ ám gia tăng vì trò chơi Cầu Cơ, theo các chuyên gia từ Vatican.
Trần Mạnh Trác11/9/2014












Hiệp hội quốc tế của những chuyên gia về quỉ ám (International Association of Exorcists, AIE) báo động rằng các vụ quỉ ám đã đạt đến một mức độ báo động.

"Chúng ta phải dành nhiều nỗ lực hơn vào việc mục vụ khẩn cấp này để giúp đỡ cho những trường hợp bị quỉ ám đang gia tăng một cách phi thường ở khắp mọi nơi," là lời tuyên bố của bác sĩ Valter Cascioli, phát ngôn viên của AIE, sau khi hiệp hội kết thúc phiên họp thuờng niên thứ 12 tại Roma từ ngày 20 đến 25 tháng 10 vừa qua. Phiên họp qui tụ 250 giáo sĩ có năng quyền trừ quỉ và các chuyên gia và bác sĩ tâm bệnh trên khắp thế giới.



Theo ông, thì số các vị Hồng Y và Giám Mục đăng ký tham gia kỳ họp này đã tăng lên nhiều so với các năm trước bởi vì đã có những dấu hiệu cho thấy rằng hoạt động cuả ma quỉ đang gia tăng tại giáo phận nhà.

Hoạt động cuả ma quỷ gia tăng vì một số nguyên do, một là vì đức tin cuả hàng giáo dân bị suy giảm, hai là vì tính hiếu kỳ, nhiều người đã thử tham dự vào những hoạt động huyền bí (occult activity) như cầu cơ hoặc lên đồng (Ouija boards and séances.)







































Cầu Cơ, mà giới trẻ ở Việt Nam thường rủ nhau chơi để so tài gan dạ với nhau, là một biến thể cuả một trò chơi huyền bí ở Mỹ goị là Ouija boards, là một sáng kiến có đăng ký do hãng Parker Brothers sản xuất. Ngày nay tập đoàn Hasbro đã mua bản quyền và Ouija là một thương hiệu độc quyền.

Thực ra việc Cầu Cơ đã có từ rất lâu ở bên Trung Hoa, Ấn Độ và thế giới Cổ Hy La. Những sử liệu thời nhà Nguyên còn ghi chép về việc dùng một bảng gỗ có vẽ nhiều dấu hiệu vô nghĩa để dùng vào công việc bói toán. Một 'con đồng' được 'nhập' sẽ chỉ vào nhiều dấu hiệu với nhau tạo nên những 'bút tự' để giải đáp những vấn nạn cuả thân chủ.

Những cách bói toán như thế đã bị nhà Thanh cấm đoán vì lý do mê tín dị đoan và sự lạm dụng cuả những đám buôn thần bán thánh.

Giới khoa học ngày nay cũng bác bỏ mọi sự huyền bí siêu nhiên cuả các trò Cầu Cơ, những cuộc nghiên cứu Tâm Lý Học đã chứng minh rằng sự chuyển động cuả con 'Cơ' (cái phím hình trái tim hay là đồng xu có lỗ ) chỉ là kết quả cuả một tình trạng gọi là hiệu ứng vô thức (ideomotor effect). Càng nhiều người tham gia thì hiệu ứng càng tăng lên. Có lẽ vì vậy mà những chỉ dẫn về Cầu Cơ thường ghi chú rằng phải có 3 người chơi thì mới nên bắt đầu, nếu không có thể sẽ bị "Tà ma ám hại'.

(Những nghiên cứu cho thấy xác xuất cuả việc Cầu Cơ là khoảng 62%. Trong khi 50% là sự may rủi bình thường, vậy thì hiệu ứng vô thức là 12%, tức là một ảnh hưởng cũng rất nhỏ mà thôi).

Tới đây, tưởng cũng xin tạm ngưng để ghi chú rằng Việt Nam là nơi duy nhất đã phát triển hình thức Cầu Cơ thành một tôn giáo: đó là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, hay còn được gọi là đạo Cao Đài.

Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng Đế đã dùng hình thức Cơ Bút để giáng truyền kinh sách và tổ chức tôn giáo cho họ.

Những bình luận và phê phán sau đây không có ý nhắm vào đạo Cao Đài, vốn đã chứng tỏ là một tôn giáo đáng tôn kính, mà chỉ nhắm vào những hoạt động bình dân coi việc Cầu Cơ là một trò chơi tiêu khiển như đã nói ở trên.

Nhiều thanh niên thiếu nữ đi tìm hoạt động huyền bí như thế, bắt đầu vì sự tò mò có vẻ như vô tội hoặc vì bản tính thích những sự kinh dị. Nhưng dần dà đã có nhiều người bị ám ảnh và bắt đầu đào xâu hơn vào những hoạt động phù thủy, ma quái.

Các nhà cố vấn về giới trẻ thường coi đó như là một giai đọan 'tăng trưởng bình thường.' "Đừng làm to chuyện," là lời khuyên cuả họ cho các bậc cha mẹ. "Cứ bỏ lơ qua chuyện đó thì sớm hay muộn, cháu nó sẽ lớn lên."

Tuy nhiên, bác sĩ Valter Cascioli không đồng ý như vậy. "Bất kỳ sự tham gia nào vào những điều huyền bí, dù là thụ động, vẫn có thể là một thảm họa và nên phải từ chối và tránh xa," ông nói.

"Cho dù sự khởi đầu là vì thiếu hiểu biết, nông cạn, ngu dốt hoặc tích cực tham gia do ước muốn hoặc chỉ là để xem cho biết thì..."

"Hậu quả luôn luôn là một tai họa."

Ảnh hưởng đến người tham gia bao gồm nhiều hệ lụy về vật lý, tâm lý, tinh thần và đạo đức. Kể ra là những sự lo lắng, những cơn hoảng loạn, những cơn ác mộng, những hành vi tự hủy, những suy nghĩ liên tục về cái chết... Trong một vài trường hợp nặng, hoạt động huyền bí dẫn đến việc bị quỉ ám.

"Cho dù chúng ta có biết hay không, có hiểu được hay không, cho dù việc đó là làm cho vui, một trò giải trí hoặc vì lý do nào khác, thì những tác động tàn phá cũng giống như nhau."

"Mọi người đều bị lừa và tin tưởng sai lầm rằng họ đang liên lạc được với một linh hồn của những người thân, nhưng trong thực tế họ đang đối thoại với quỉ và mời nó vào cuộc sống của họ," bác sĩ Cascioli nói tiếp.

"Cái gọi là 'Thực thể tâm linh' dấu giếm và phản bội chúng ta về danh tính thực sự của nó, nó chỉ cho chúng ta biết về những điều mà chỉ có một phần là dựa trên sự thật; do đó nó dụ dỗ chúng ta, lừa phỉnh và cố gắng xâm nhập vào chúng ta, "ông giải thích.



Cha Stephen Doktorczyk, một linh mục của Giáo Phận Orange, đã chữa lành và cầu nguyện cho nhiều người đang ở trên bờ vực cuả việc bị quỉ ám.

Ngài đề nghị rằng nhiệm vụ của cha mẹ khi có những đứa con bị lôi kéo vào những hoạt động huyền bí như Cầu Cơ là phải cầu nguyện bằng cách lần hạt Mân Côi và phải ngăn cản không cho chúng tham gia bất kỳ loại hoạt động huyền bí nào nữa.

"Ma quỉ là một tên rất thông minh. Nó biết du giỗ người ta bằng những thứ dường như là vô hại. Vì trong thư cuả thánh Phêrô đã viết (1 Peter 5: 8-9:) 'Kẻ thù là ma quỷ thì luôn luôn rình mò xung quanh chúng ta như sư tử rình mồi để mà ăn tươi nuốt sống. Hãy chống lại nó, và hãy kiên trì trong đức tin. "

"Tôi đã giúp cho quá nhiều những tình huống liên quan đến những người, vì ngây thơ, đã bắt đầu tìm hiểu về những điều huyền bí. Bây giờ thì họ ước ao rằng họ có thể quay trở lại quá khứ mà làm khác đi," Cha Doktorczyk nói thêm.

Theo Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, thì mọi người phải xa lánh tất cả các hình thức "bói toán" có liên quan đến việc nhờ ma quỷ, hoặc gọi hồn người chết hoặc tìm việc tiết lộ các sự kiện tương lai.

Sách Giáo Lý Công Giáo dậy về 'Bói toán và ma thuật' rằng:

-Tất cả những hình thức bói toán nhằm biết vận mệnh tương lai, đầu trái nghịch với lòng tôn kính và phó thác cho một mình Thiên Chuá. Những cách thực hành ma thuật hoặc phù thủy nhằm có một quyền hành bí ẩn đối với đồng loại, đều nghịch với đức thờ phượng.

Đoạn 2116 cuả phiên bản tiếng Anh (CCC) còn liệt kê rõ ràng những việc phải tránh là "Xem tử vi, coi chiêm tinh, xem chỉ tay, bói theo điềm hay xin xâm, dùng người ngoại cảm..."

"Một lỗi phổ biến là chúng ta tin tưởng rằng ma quỷ và các lĩnh vực huyền bí là không có thật," bác sĩ Cascioli nói; "nhưng ma quỷ là có thật, và Kinh Thánh đề cập đến nó tới 118 lần dưới những cái tên khác nhau như Satan, Ma quỉ, và hoàng tử của thế gian."



Trừ tà là một nhu cầu mục vụ khẩn cấp
Đặng Tự Do11/8/2014

Các chuyên gia Công Giáo nói sự suy giảm đức tin tại phương Tây, sự gia tăng các hoạt động huyền bí đã dẫn đến nhu cầu cấp thiết ngày càng gia tăng của việc trừ tà. Kết luận này đã được đưa ra sau hội nghị khoáng đại lần thứ 12 của International Association of Exorcists (AIE) – Hiệp hội quốc tế các nhà trừ tà – nhóm tại Rôma từ 20 đến 25 tháng 10 vừa qua.

Phát ngôn viên của AIE là tiến sĩ Valter Cascioli cho biết một số lượng các giám mục và Hồng Y đã yêu cầu tham gia hội nghị do sự gia tăng hoạt động của ma quỷ trong giáo phận của các ngài.

Ông Cascioli nói với thông tấn xã CNA: "Trừ tà đã trở thành một trường hợp mục vụ khẩn cấp. Tại thời điểm này số lượng những hoạt động ngoại thường của ma quỷ đang gia tăng."

Sự gia tăng hoạt động ma quỷ bắt nguồn từ suy giảm đức tin cá nhân, cùng với sự gia tăng quảng bá sự tò mò và sự tham gia vào các hoạt động huyền bí như cầu cơ và những trò liên lạc với linh hồn người chết.

Cha Stephen Doktorczyk, một linh mục của Giáo Phận Orange, đã tham gia hội thảo chữa bệnh và đã nhiều lần cầu nguyện trên những người bị cho là quỷ ám, cho biết người trẻ ngày nay thường bị dụ dỗ dần vào các hoạt động thần bí mà thoạt đầu xem ra vô hại.

Ngài nói: “Các bậc cha mẹ phải cảnh giác vì như Thánh Phêrô nói: ‘Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.’ 1 Pr 5:8-9”.

Ngài nhắc lại rằng theo Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, các tín hữu Công Giáo phải loại bỏ mọi hình thức bói toán, cậy nhờ Satan hay ma quỉ, gọi hồn người chết hay những cách khác ngỡ rằng sẽ đoán được tương lai.

Ngài nhắc lại rằng đoạn 2116 và 2117 Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo dạy rằng:

Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải điều mộng, xin xăm, bói toán quá khứ vị lai, đồng bóng, là những hình thức che giấu ước muốn có quyền trên thời gian, trên lịch sử và trên cả con người, cũng như ước muốn liên kết với các thế lực huyền bí. Ðiều này nghịch lại với lòng tôn kính và thần phục chỉ dành cho Thiên Chúa.

Ai muốn dùng ma thuật hay pháp thuật để chế ngự các thế lực huyền bí, bắt chúng phục vụ mình và nắm được quyền lực siêu phàm trên người khác dù là để chữa bệnh, cũng lỗi nặng nhân đức thờ phượng. Các việc nầy càng đáng lên án hơn nữa khi có dụng ý hại người, hay nhờ đến sự can thiệp của ma quỉ. Mang bùa cũng là điều đáng trách. Chiêu hồn thường đi kèm cả bói toán hay ma thuật. Hội Thánh cảnh giác các tín hữu phải xa lánh các điều ấy. Khi dùng các phương thuốc gia truyền, không được kêu cầu các thế lực ma quỉ cũng như lợi dụng sự nhẹ dạ của người khác.
__._,_.___

Posted by: Tracy Dong 

Douglas MacArthur - Quân tử gặp Anh hùng


Douglas MacArthur - Quân tử gặp Anh hùng
Trần Quốc Việt















- Lời người dịch
Douglas MacArthur có lẽ là vị tướng tài ba nhất và nổi tiếng nhất trong lịch sử Mỹ. Ông còn được mệnh danh là "Người hùng Thái Bình Dương" trong Thế chiến Thứ hai. Nhưng thành công sáng chói nhất và trường tồn theo thời gian của ông là chỉ trong vài năm ngắn ngủi ông đã tạo ra nền tảng tự do và dân chủ bền vững cho một nước Nhật bại trận, tuyệt vọng, đói rách, và hoàn toàn đổ nát. Chính từ nền tảng thể chế này, Nhật Bản - như chim phượng hoàng huyền thoại hồi sinh từ đống tro tàn- đã bay vút vào tương lai và ngày nay trở thành cường quốc dân chủ thịnh vượng. 

Còn Nhật Hoàng Hirohito kêu gọi nhân dân Nhật hãy can đảm chấp nhận đầu hàng vô điều kiện để "mở đường cho tất cả những thế hệ tương lai bằng cách chịu đựng những gì không thể nào chịu đựng được và đau khổ những gì không thể nào đau khổ được... để theo kịp đà tiến bộ của thế giới." Lời kêu gọi của ông đã khích lệ rất lớn đến tinh thần và nỗ lực kiên trì tái kiến thiết lại đất nước của người Nhật trong hoàn cảnh nhục nhã nhất và tuyệt vọng nhất của họ sau khi bại trận. 


Nhưng Douglas MacArthur đã đối xử với họ rất bao dung, độ lượng, trắc ẩn, và công bằng trong suốt thời gian ông nắm giữ quyền lực tối cao ở Nhật Bản. Ông nhận hàng trăm ngàn lá thư cảm ơn từ các tầng lớp người Nhật. Ngày ông rời Nhật Bản về nước, hàng trăm ngàn người già trẻ nam nữ xếp hàng dài dày dặc ở hai bên đường từ sáng sớm trên suốt hàng chục cây số để tiễn đưa ông lần cuối. Họ kêu to "Sayonara, Sayonara," hay giơ cao biểu ngữ ghi "Chúng tôi thương mến Tướng Quân MacArthur," và "Chúng tôi cảm ơn ông." 

Hai người đã gặp nhau sau khi lực lượng đồng minh chiếm đóng dưới sự lãnh đạo của tướng Douglas MacArthur đến Nhật Bản vào tháng Chín, 1945 và buổi gặp nhau ban đầu của hai người mà tiêu biểu cho hai chiến tuyến thù nghịch mới ngày nào đã mở cánh cửa tương lai tươi sáng cho nhiều thế hệ người Nhật. 

*

Chẳng bao lâu sau khi tôi đến Tokyo, những người trong bộ tham mưu của tôi thúc giục tôi triệu Nhật Hoàng đến tổng hành dinh của tôi để biểu lộ quyền lực. Tôi bỏ qua những lời đề nghị của họ. "Làm như thế," tôi giải thích, "sẽ xúc phạm đến tình cảm của nhân dân Nhật và biến Nhật Hoàng thành người tuẫn đạo trong mắt họ. Không, tôi sẽ đợi rồi từ từ Nhật Hoàng sẽ tự đến gặp tôi. Trong trường hợp này, sự kiên nhẫn của Phương Đông sẽ phục vụ tốt nhất mục đích của chúng ta hơn sự vội vàng của Phương Tây." 

Quả nhiên chẳng bao lâu sau Nhật Hoàng yêu cầu cuộc hội kiến. Mặc áo ghi lê và quần kẻ sọc, đội mũ cao, đi trên chiếc Daimler với quan tổng thị vệ triều đình ngồi đối diện ở ghế phụ, Hirohito đến tòa đại sứ. Ngay từ đầu cuộc chiếm đóng, tôi đã chỉ thị không nên đối xử bất kính với ông. Phải dành cho ông tất cả những danh dự thích hợp với bậc quân vương. Tôi tiếp đón ông chân tình, và kể lại dịp tôi được cha ông đón tiếp vào lúc kết thúc cuộc chiến tranh Nga-Nhật. Nhật Hoàng trông hồi hộp và bao căng thẳng trong suốt mấy tháng qua hiện ra rõ ràng. Tôi yêu cầu tất cả mọi người đi ra ngoài chỉ ngoại trừ người thông dịch cho ông, và chúng tôi ngồi xuống trước lò sưởi ở cuối phòng tiếp khách dài. Tôi mời ông thuốc lá Mỹ, ông cầm lấy và cảm ơn. Khi tôi châm thuốc lá cho ông tôi nhận thấy hai tay ông run. Tôi gắng hết sức mình để tạo cho ông sự thoải mái và tự nhiên, nhưng tôi biết niềm đau tủi nhục ở ông ắt hẳn sâu thẳm và khủng khiếp biết chừng nào. Tôi có cảm giác khó chịu là ông có thể sẽ kể lể ra những lý do để khẩn cầu đừng truy tố ông như tội phạm chiến tranh. 

Trước đấy nhiều đồng minh, đặc biệt người Nga và người Anh, đã lên tiếng mạnh mẽ đòi đặt ông vào loại tội phạm ấy. Quả thật, tên của Nhật Hoàng đứng đầu danh sách tội phạm đầu tiên do họ đề nghị. Nhận thức những hậu quả bi kịch sẽ theo sau hành động bất công như thế, tôi cực lực chống lại những ý định ấy. Khi Washington dường như nghiêng về quan điểm của người Anh, tôi đề nghị rằng tôi sẽ cần thêm ít nhất một triệu quân tiếp viện nữa nếu họ làm như thế. Tôi tin rằng nếu Nhật Hoàng bị buộc tội, và có lẽ bị treo cổ như tội phạm chiến tranh, chính quyền quân sự phải được thiết lập trên toàn cõi Nhật Bản, và chiến tranh du kích có lẽ sẽ bùng phát. Tên của Nhật Hoàng sau đó bị gạch ra khỏi danh sách tội phạm chiến tranh. Nhưng ông chẳng hề biết gì về tất cả điều này. 

Nhưng mối lo sợ của tôi không có căn cứ. Nhật Hoàng nói như thế này: "Thưa Tướng Quân MacArthur, là người chịu trách nhiệm duy nhất cho mọi quyết định chính trị và quân sự và mọi hành động của nhân dân tôi khi tiến hành chiến tranh, tôi đến đây gặp ông để chịu sự phán xét của các cường quốc mà ông đại diện." Lòng tôi chợt dâng trào lên cảm xúc phi thường khó tả. Sự gánh vác can đảm trách nhiệm này mà đồng nghĩa với cái chết, một trách nhiệm rõ ràng không đúng với những sự thật tôi hoàn toàn biết rõ, khiến tôi xúc động đến tận cả cõi lòng. Ông là hoàng đế cha truyền con nối, nhưng trong khoảnh khắc ấy tôi biết tôi đang đối diện với Đệ Nhất Quân Tử Nhật Bản đích thực. 

Sau lần ấy Nhật Hoàng đến thăm tôi thường xuyên, chúng tôi bàn về hầu hết các vấn đề quốc tế. Tôi luôn luôn giải thích kỹ càng những lý do quan trọng nhất về chính sách chiếm đóng,và tôi nhận thấy ông hiểu biết uyên thâm về khái niệm dân chủ hơn hầu hết những người Nhật tôi có dịp trò chuyện. Ông đóng vai trò rất lớn trong sự hồi sinh tinh thần của Nhật Bản, và sự hợp tác trung thành và ảnh hưởng của ông đã tác động rất nhiều đến sự thành công của công cuộc chiếm đóng. 

Nguồn: 

Trích dịch từ tác phẩm "Reminiscences" của Douglas MacArthur, nhà xuất bản McGraw-Hill, 1964, trang 287-288. Tựa đề của người dịch.

Bản tiếng Việt:



__._,_.___

Posted by: truc nguyen

Wednesday, November 12, 2014

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY ...


---------- Forwarded message ----------
From: giao tran


                                      TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY ...







     Duyên và nợ                     


Trong thế gian người ta thường nói có nợ mới có duyên, đúng như vậy, duyên của thế gian đến như một sự nhân quả, đến để trả nợ cho nhau ở kiếp trước.

Trong sự tái sinh luân hồi, duyên sẽ tồn tại, nhân - quả ân oán đời trước sẽ theo duyên này đến đời sau. Thời đức Phật còn tại thế có câu chuyện, hai mẹ con nhà nọ thất lạc nhau lúc đứa con còn rất bé vì chiến tranh nên họ lưu lạc nhau, đến khi họ gặp nhau thì họ không còn nhận ra nhau là mẹ - con nữa mà họ đem lòng yêu nhau vì họ thấy có cái gì đó quyến luyến giữa hai người?!

Đến ngày họ làm lễ thành hôn, lúc đó Phật đi qua và đức Phật khuyên ngăn cuộc tình đó, đức Phật gọi đó là Nghiệp Duyên. Nhưng bị họ chống đối quyết liệt, họ phải đến với nhau cho bằng được. Cuối cùng Ngài sử dụng Thiên nhãn thông giúp cho họ thấy quá khứ của chính mình, hai mẹ con đã nhận ra nhau.

Trong đạo Phật thì kiếp trước và kiếp này hay quá khứ của kiếp này không hoàn toàn khác nhau mà là một, một sự chuyển đổi, hoán đổi và liên tục từ cảnh giới này sang cảnh giới khác nhưng nghiệp lực không thay đổi.

Lấy ví dụ: Hai vợ chồng thương nhau sống với nhau hạnh phúc, nhưng bỗng nhiên người vợ hay người chồng lại có thêm người khác bên ngoài. Đó là nhân quả của duyên và nợ. Điều này bị xã hội vô cùng lên án đó là vi phạm đạo lý làm người, là tội lỗi nặng nề. Phật giáo thì xem đó như là món nợ mà người đó phải trả, hoặc chính họ tạo ra một nghiệp mới (nợ).

Đến với đạo Phật, phải biến chuyển đổi tình cảm và nợ duyên đó thành phước lành giúp cho mình tinh tấn trong việc phụng sự đạo Pháp mới mong được giải thoát được nợ duyên đó. Để hướng đến cuộc sống an lạc, hạnh phúc ngay tại đời này.

Còn đối với những người không thấm nhuần giáo lý cao siêu nhiệm mầu của đức Phật thì xem nó như là một trò chơi tình ái và dục vọng, vì vậy mà nghiệp vẫn còn, và tự chuốc lấy khổ đau, khi gia đình ly tán, ghen tuông, kiện tụng đeo đẳng đời sống của ta....Và do vậy, luân hồi duyên và nợ.

Trong cuộc sống thường ngày có rất nhiều thắc mắc khó lý giải như:

“Vì sao ở thế gian có đôi vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc nhưng chỉ một thời gian ngắn ngủi rồi chia tay? Vì sao có đôi bạn trẻ yêu nhau rất lâu khi sắp thành hôn lại bỏ nhau?
- Đó là duyên, nợ đã hết.

Vì sao hai người vừa gặp nhau trong giây lát đã tin tưởng và yêu say đắm?

Vì sao có đôi vợ chồng người vợ bị đánh đập, mắng chửi tàn nhẫn nhưng vẫn tận tâm chăm sóc chồng không bỏ được?

Vì sao có người luôn quan tâm lo lắng và hết mực yêu thương người bạn ngoài đời hơn cả chính mình?

Tất cả là vì nợ - duyên vẫn còn, đó là nghiệp của mình tạo ra ở kiếp trước nên mình phải trả. Là người con Phật phải biết tu tập lấy tâm từ bi hóa giải nghiệp chướng đó mới mong thoát khỏi luân hồi duyên nợ, đó mới là trách nhiệm của người có hiểu đạo Phật!

Và cứ như thế ta tu tập từ đời kiếp này sang đời kiếp khác thì chúng ta tìm đến cái Duyên với Phật Pháp. Chúng ta sẽ hưởng Phước lành nếu biết tạo cái duyên nợ của thế gian đến với Phật Pháp.

Có thể duyên đó đến trong giây lát rồi biến mất và cũng có thể duyên đó tồn tại mãi mãi đến kiếp sau vì trong duyên đó còn có nợ. Nhưng còn nợ của duyên thì phải trả, không trả thì còn nghiệp mà còn nghiệp thì không thể giải thoát.

Như vậy chúng ta phải tu tập ngay từ kiếp này, giây phút này đừng để chậm hơn, để chúng ta có cuộc sống an lạc tương ứng.

Đừng trách Mẹ
Đừng trách Cha
Đừng trách người ta sao thay lòng đổi dạ
Đừng trách cuộc đời không đủ rộng bao la
Đừng trách gió mùa xa
Đừng trách lá nơi này sao cứ hoài rớt vội
Đừng trách những con người đã một lần lầm lỗi
Hãy tự trách mình sao không đủ thứ tha

(Thiện Tâm)
Hiển thị bớt
Trả đũa
Lão hành khất vào ngồi trong hiên chùa, bắt đầu bữa ăn xin được trong ngày: ít vắt cơm, muối và... một con cá rô cây.

Người gác chùa quan sát bữa ăn, thấy con cá rô cây được đẽo gọt khá cẩn thận, dọn ra giống y con cá thật đã được nấu nướng đàng hoàng. Ông hỏi người hành khất với giọng châm biếm:

- Này ông lão, ông làm gì với con cá gỗ ấy hay cuối cùng cũng chỉ cơm với muối?

Lão hành khất bình tĩnh đưa tay chỉ tượng Phật bằng đá trên tòa sen giữa chánh điện trả đũa:

- Này ông bạn, còn ông làm gì với tượng Phật đá kia hay cuối cũng cũng chỉ vô minh với ái dục?

Lời góp ý:

Thờ cúng chỉ mang tính cách tượng trưng, thế rồi những tôn giáo cổ xưa đã biến thành những nghi lễ huyền bí và những buổi hiến tế phức tạp..., tưởng qua đó họ có thể được cứu rỗi. Nhưng Đức Phật xem đó chỉ là giới cấm thủ (mê tín, dị đoan, hình thức ràng buộc), và Ngài dạy rằng chỉ có sống đúng pháp (Dhammànudhammà patipanno vihàrati)mới là tôn kính,  cúng  dường,  lễ   bái  Như Lai   một   cách   cao thượng.

Xưa có một người xuất gia theo Phật chỉ mong hàng ngày được lễ bái và chiêm ngưỡng 32 tướng tốt của Ngài. Đức Phật trách:“Dẫu cho hàng ngày con có nắm chéo y Như Lai và bước theo từng dấu chân  của Như Lai thì cũng vẫn xa Như Lai vời vợi. Người nào sống đúng Pháp mới gọi là gần gũi, cung kính, lễ bái, chiêm ngưỡng Như Lai một cách chân chính”.

Hàng ngày sống bên Đức Phật, lễ bái, chiêm ngưỡng và đặt trọn niềm tin ở Ngài vẫn còn bị Ngài khiển trách, huống nữa chỉ biết lễ lạy, tụng đọc trước tượng Phật bằng đá để cầu xin cứu độ thì muôn đời cũng không bao giờ nếm được chút hương vị giác ngộ giải thoát.

Tin tưởng, lễ bái, cung kính, chân thành, tri ân, tinh khiết,... là những nhân tố của phương tiện thờ cúng, nhờ đó đem lại hạnh phúc, hân hoan, thái hòa, an lạc,... cho những kẻ sơ cơ. Nhưng cho đến một lúc nào đó phải biết thoát ra khỏi phương tiện, vì dù tin Phật dưới bất cứ hình thức nào cũng đều phải tự mình sống đúng chân lý, nếu không thì muôn đời vẫn như lão ăn xin với con cá rô cây vô vị.





       Buông xả phiền não theo lời Phật dạy

     Buông xả mọi phiền não trong cuộc sống để tâm bình an là niềm hạnh phúc lớn nhất của mỗi người...
Khả Anh

Ai cũng biết hạnh phúc được xây dựng trên nền tảng sự bình an và tự tại. Đây là ước mơ của cuộc đời mà con người chúng ta ai cũng mong mỏi đạt tới.

Theo vòng quay thời gian khiến cho nhịp sống càng trở nên hối hả và gấp gáp hơn. Con người luôn lo toan và tất bật với miếng cơm manh áo để sinh tồn thì việc tìm được sự thanh thản trong tâm hồn không phải điều dễ dàng. 

Bởi vậy, tại sao có rất nhiều người giàu sang, đạt được những gì mình mong muốn nhưng vẫn không cảm nhận được hạnh phúc. Bởi họ luôn gặp phải căng thẳng, đấu tranh để giữ vững những gì mà mình đang có.

Trong cuộc sống, khi cảm thấy quá mệt mỏi và căng thẳng thì có rất nhiều người tìm tới nguồn cội tâm linh như đi chùa lễ Phật để cầu may, cầu an hoặc đọc những cuốn sách Phật Pháp với mong muốn tìm về sự bình an và giải tỏa những bế tắc.

Khi đức Phật còn tại thế, Ngài có đặt một câu hỏi cho một vị Sa môn là: "Tuổi thọ của con người dài trong bao lâu?" và vị Sa môn đã trả lời là: "Chỉ dài bằng một hơi thở". Đức Phật nói: "Đúng vậy. Ông là người hiểu đạo" (trích trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương).

Cuộc sống mỗi con người chúng ta chỉ tồn tại trong một hơi thở vậy tại sao chúng ta cứ để tâm mình mãi luẩn quẩn trong "u mê" và "phiền não"?

Nếu như con người biết buông xả trong đời sống hiện tại. Buông đi những lợi danh, buông đi những hận thù chấp nhặt. Đồng thời xả đi những mưu cầu tính toán cho bản thân, xả đi những "tham - sân - si" trong cuộc sống thường nhật thì sẽ tự tìm thấy cho mình niềm an vui và thanh thản trong tâm hồn.

Bởi khi biết buông xả thì tâm ta mới trong sáng để vượt qua những cám dỗ của tham, sân, si, của mạn nghi ác kiến để rồi nhìn thấy niềm vui xung quanh ta.

Có buông xả được thì lòng ta mới rộng mở, ai nói gì không vừa ý cũng bỏ qua mà không chấp. Nếu ai có làm điều gì xúc phạm cũng dễ dàng tha thứ, mà nếu có giận có buồn thì chỉ một vài phút hoặc một vài giờ, cùng lắm qua một đêm rồi quên hết đi cho đời mình được an vui.

Nhưng hãy hiểu rằng buông xả không có nghĩa là buông bỏ, dẹp hết tất cả để chỉ lo cho bản thân mình. Không có nghĩa là chối bỏ, trốn tránh trách nhiệm trong cuộc sống.

Là người con Phật, chúng ta buông xả nhưng phải luôn giữ trọn vẹn trách nhiệm của một con người. Để bồ đề tâm thêm vững chắc, để trả ơn công lao sinh thành của cha mẹ, để vẫn chu toàn mọi việc, mọi bổn phận.

Tất cả được làm với tấm lòng bao dung mở rộng như một vị Bồ tát, xử xự theo tinh thần "Từ - Bi - Hỷ - Xả". Còn đích đến nào tuyệt với hơn khi biết tìm lại và trở về với chính cuộc sống nội tâm của chúng ta, để trở về với sự thanh thản trong tâm hồn.

Bởi khi tâm hồn trong sáng, vui vẻ, là chúng ta đang tiến dần đến mục tiêu, thành công của cuộc sống mà chúng ta mong đợi. Chúng ta làm việc sẽ tốt hơn, sống đam mê hơn, nhân hậu, tha thứ và rộng mở, học thêm được nhiều điều...

Song quan trọng nhất là chúng ta được hạnh phúc, nhận nhiều yêu thương khi biết buông xả, có lẽ đó chính là quy luật và cũng là nghệ thuật sống, mang lại sự bình an cho mỗi người...
Sưu Tầm



Tuesday, November 11, 2014

"Nỗi lòng người đi" hay "Tôi xa Hà Nội"?


“Nỗi lòng người đi” hay “Tôi xa Hà Nội”?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2014-11-01
  • In trang này
  • Chia sẻ
  • Ý kiến của Bạn
  • Email
VHNT11012014.mp3
Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội ngày 11/07/2011.
RFA PHOTO/Trung Khang

“Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều

Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ

Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa.”

Bộ sưu tập có thể đang bị hoen ố?

Những giòng nhạc mà quý vị vừa nghe có lẽ hơn một nửa nước Việt Nam đã từng biết tới, nhất là đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 bỏ lại tất cả tài sản, mồ mả cha ông để theo đoàn quân chân đất hơn 1 triệu người vào Nam lập nghiệp. Ca khúc “Nỗi lòng người đi” được biết dưới cái tên của nhạc sĩ Anh Bằng ra đời trong hoàn cảnh đó, người nhạc sĩ cắt ruột từ giã người yêu để khi tới Sài Gòn dưới ánh đèn hoa lệ bỗng dưng thấy trơ trọi và mọi thứ biến thành khói mây phù du của một cuộc chia tay.
Những ca từ đậm màu nước mắt ấy được người yêu nhạc tiền chiến cất giữ nó như một tuyệt phẩm trong bộ sưu tập của họ.
Bộ sưu tập ấy hôm nay có thể đang bị hoen ố khi nổ ra vụ Khúc Ngọc Chân, một nhạc công Cello trong dàn nhạc giao hưởng Việt Nam lên tiếng khẳng định ca khúc “Nỗi lòng người đi” nguyên ủy là của ông với cái tên “Tôi xa Hà Nội”. Việc đòi hỏi bản quyền này được nhà báo chuyên về âm nhạc Nguyễn Thụy Kha viết thành bài chứng minh từ những điều mà ông Chân kể lại.
Anh Chân công tác ở giàn nhạc giao hưởng và trong giàn nhạc giao hưởng anh em vẫn biết như anh Hồ Quang Bình, anh Quang Tôn… tất cả mọi người đều vẫn biết bài này là của anh Khúc Ngọc Chân từ năm 1954, họ vẫn hát với nhau mà…
-Nhà báo Thụy Kha
Câu chuyện nhuốm vẻ tiểu thuyết lãng mạn thời Thơ Mới của ông Khúc Ngọc Chân và cô gái mang tên Nguyễn Thu Hằng khiến nhạc phẩm trở nên huyền ảo hơn. Nhân vật Thu Hằng tuy đã mất vào năm 1969, bốn năm sau khi nhạc phẩm của Anh Bằng xuất hiện tại Sài Gòn như mọi người yêu nó đều biết, được nhắc lại bằng một cái tên mới và sinh nhật nó cũng mới: “Tôi xa Hà Nội” của Khúc Ngọc Chân được sáng tác vào tháng 10 năm 1954 tại Cầu Đất Hải Phòng, khi tác giả lặn lội từ Hà Nội về Hải Phòng để tiễn nàng và gia đình vào Nam. Trong không khí buồn bã u ám của buổi chia tay, nhạc phẩm ra đời và Thu Hằng mang theo với nàng vào Sài Gòn hoa lệ.
Ông Khúc Ngọc Chân trình bày với chúng tôi về sự việc này:
“Lúc bấy giờ tôi có người yêu là cô Thu Hằng, tôi được tin cô Hằng đi theo gia đình để chuẩn bị di cư vào Nam. Tôi mới hỏi xem ở đâu, sau đó tôi biết ở Cầu Đất dưới Hải Phòng và cũng gặp được ngay. Tôi biết cô ấy lúc bấy giờ mới 16 tuổi còn tôi đúng 18 tuồi. Trong hoàn cảnh đất nước vừa giải phóng và tôi thì không thể nào theo được. Chúng tôi có gặp nhau và chúng tôi cũng có đề cập với cô ấy là thôi thì cứ vào trước trong ấy vì cô mới 16 tuổi còn tôi mới trường thành không thể nào tách rời  gia đình được.”
Khi được hỏi ca khúc này được sáng tác vào lúc nào ông Chân cho biết:
“Tôi quen sống vui ca đàn nhạc nên luôn luôn mang theo cây đàn và tiện đó tôi sáng tác bài đó về cô và cũng là bài đầu tiên tôi sáng tác nhạc tình yêu. Tôi viết là “Tôi xa Hà Nội năm lên 18…” viết đúng với hoàn cảnh rất tự nhiên của chúng tôi. Cô Hằng này thì đúng 16. Sáng tác xong thì tôi để cho cô ấy trong hoàn cảnh phải chờ đợi. Hoàn cảnh của tôi là tôi xa Hà Nội xuống Hải Phòng để tìm cô ấy chứ không có ý nghĩ nào muốn đi Sài Gòn cả.
Đến mấy năm sau nữa thì tôi vào công tác thì thấy có một bài hát mà của riêng tôi với cô ấy sáng tác với nhau mới biết. Bạn bè tôi lúc ấy vào năm 1954 cũng biết sau khi cô ấy đi tôi vẫn còn sáng tác mấy bài nữa vì nhớ cô ấy. Đến hai năm sau nữa tôi biết rằng rất khó mà gặp nhau lắm.”

Xa Hà Nội khi nào?

Nhà báo Nguyễn Thuy Kha nói về nguyên nhân khiến ông viết bài khẳng định “Tôi xa Hà nội” là của Khúc Ngọc Chân:
Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội ngày 11/07/2011. RFA PHOTO/Trung Khang.
“Tôi lâu nay vẫn nghĩ bài này là của ông Anh Bằng tất nhiên tôi cũng hơi lạ, là vì cái “air” nhạc của ông ấy không phải là cái “air” như thế. Nhạc của ông Anh Bằng là “Tôi còn nợ em”, “Nếu vắng anh”, “Khúc thụy du”… Tôi cũng rất tình cờ, anh em ở giàn nhạc giao hưởng họ mới nói anh Khúc Ngọc Chân là nên tới gặp tôi để mà làm thì anh Chân anh ấy trình bày tất cả các lý do anh ấy sáng tác bài này như thế nào đối với người yêu của anh ấy là cô Nguyễn Thu Hằng. Tôi xem cái âm nhạc của anh Chân, vì anh Chân viết nhịp 3/8 thì tôi thấy rằng như vậy thì cái cậu bé 18 tuổi viết cái này nó có vẻ hợp lý hơn vì năm 1954 thì ông Anh Bằng đã 29 tuổi rồi, lúc ấy ông Anh Bằng chưa nổi tiếng mặc dù bằng tuổi với ông Nguyễn Văn Quỳ, ông Đoàn Chuẩn nhưng lúc ấy ở Hà Nội chả biết ông Trần Anh Bường (Anh Bằng) là ai cả. Tôi thấy rất hợp lý là vì anh Chân nói với tôi từng chi tiết một tại sao tôi viết như thế này, tại sao tôi viết như thế kia, thế nhưng nó có khó khăn là sau đó là giải phóng thủ đô cho nên các tài liệu của anh Chân do anh ấy chép buộc lòng phải hủy đi là vì tình hình Hà Nội lúc ấy không phải là dễ dàng. Anh Chân công tác ở giàn nhạc giao hưởng và trong giàn nhạc giao hưởng anh em vẫn biết như anh Hồ Quang Bình, anh Quang Tôn… tất cả mọi người đều vẫn biết bài này là của anh Khúc Ngọc Chân từ năm 1954, họ vẫn hát với nhau mà…”
Riêng nhạc sĩ Anh Bằng dĩ nhiên là ông rất tức giận khi biết có người cho là ông ăn cắp nhạc người khác. Mặc dù đã gần 90 tuổi và không còn nghe được ông vẫn trả lời cuộc phỏng vấn do hệ thống SBTN thực hiện về vấn đề này. Nhạc sĩ giải thích tại sao tới năm 1965 ông mới tung bài hát này ra thị trường âm nhạc mặc dù ông đã sáng tác nó 10 năm về trước:
“Khi lên tàu di cư vào miền Nam năm 1954, tôi đã có cảm hứng viết nhạc phẩm này. Nhưng đâu phải viết một lần là xong mà phải mất tới mười năm, sửa chữa nhiều lần và đến năm 1965 mới cho phổ biến bản này. Khi bản Nếu Vắng Anh phát hành được công chúng yêu chuộng thì tôi hứng khởi hoàn tất bản Nỗi Lòng Người Đi để tiếp tục cái đà sáng tác đang đi tới. Thực ra bản này được thai nghén đầu tiên trong sự nghiệp âm nhạc của mình khi từ giã miền Bắc vào Sài Gòn. Hồi còn trẻ cũng có viết mấy bản nhạc đầu tay nhưng không được phổ biến, cho nên bây giờ cũng không còn nhớ rõ, và coi như là Nỗi Lòng Người Đi là đứa con đầu lòng mặc dù nó ra mắt chậm hơn bản Nếu Vắng Anh.
Thật ra lúc đó tôi 28 tuổi, nhưng không lẽ câu hát viết " Tôi xa Hà Nội năm lên hăm tám " thì nốt nhạc không xuôi tai, cho nên phải đổi lại thành " năm lên mười tám" vừa xuôi tai, vừa nghe lãng mạn hơn. Có thể nói tôi thích cả bài này từ lời ca cho đến nét nhạc.”
Để chứng minh luận điểm của mình là xác thực nhà báo Nguyễn Thụy Kha cho biết:
“Và sau đó thì tôi có xem thêm một số bài hát nữa của anh Chân khi chị Hằng vào Nam như bài Biển, bài Mùa thu cho em …cái air nhạc của ảnh thì tôi biết ngay, mình làm nhạc mình biết, mình thấy nó đúng một cái air như vậy.
Thật ra lúc đó tôi 28 tuổi, nhưng không lẽ câu hát viết " Tôi xa Hà Nội năm lên hăm tám " thì nốt nhạc không xuôi tai, cho nên phải đổi lại thành " năm lên mười tám" vừa xuôi tai, vừa nghe lãng mạn hơn.
-Nhạc sĩ Anh Bằng
Tôi nói với anh Chân như thế này: Tôi nghĩ anh không có bằng chứng gì cả để kết luận bài này là của anh nhưng anh có nhân chứng, anh hãy gặp tất cả những nhân chứng đã từng hát bài này của anh từ năm 1954 tại vì ông Anh Bằng từ năm 1967 ông ấy mới đưa bài này ra. Tôi nghĩ ông ấy rất là khôn tại vì năm 1954 có rất nhiều bạn bè của bà Hằng cũng sẽ cùng thuộc bài này vì vậy nếu khai ngay trong thời Đệ Nhất đế chế thì có thể không ổn lắm cho nên ông ấy để tới năm 1967 mới đăng ký bài này. Cho tới nay tôi đã gửi rất nhiều lá thư sang cho ông Anh Bằng rồi nhưng không hề có một sự trả lời nào cả. Tôi nghĩ rằng nếu như ông ấy là người thực sự viết bài này thì ông ấy sẽ từ tốn nói chuyện tôi viết như thế nào, ra làm sao nhưng hoàn toàn ông ấy không có một ý kiến gì cả, tôi thấy cũng hơi kỳ ở chỗ đó.”
Bà Đặng Thị Thu Phương, Phó Quản lý, đặc trách ngoại vụ của Trung Tâm bảo vệ quyền Tác giả Âm Nhạc Việt Nam ở Hà Nội (Vietnam Center for Protection of Music Copyright -VCPMC) cho chúng tôi biết việc tranh chấp của hai tác giả này:
“Cơ quan mình có yêu cầu các bên đưa ra chứng cứ thực tại vì chứng cứ thực chính là material mà họ có thể show được. Bên Anh Bằng thì có đầy đủ chứng cứ về nhạc phẩm của mình còn phía còn lại thì không. Thật ra vấn đề này nó cũng không có gì là quá phức tạp tại vì mọi thứ nó đều rõ ràng chứ không còn gì để có thể tranh cãi hơn nữa. Bên nào có chứng cứ xác thực nhất thì mình sẽ căn cứ vào đấy vì Trung tâm được thành lập để bảo vệ quyền lợi của nhạc sĩ và quyền này là quyền nhân thân cơ bản nhất của các nhạc sĩ vì vậy phải dựa vào tính minh bạch nhất không thiên vị ai cả.”
Ông Phan Phương, người phụ trách mảng tác giả tác phẩm của Trung Tâm kể lại những gì ông biết:
“Tôi là người phụ trách mảng tác giả và tác phẩm trong Trung tâm bản quyền Việt Nam. Tôi phát hiện ra sự song trùng của hai bài ấy và cảm thấy tất cả những bài do ông Thụy Kha viết về ông Khúc Ngọc Chân nó chỉ là một bài văn hư cấu chứ không phải là phóng sự điều tra để khẳng định rằng đây là tác giả chính hay tác giả phụ. Vì nó là bài văn hư cấu có nghĩa là nó không đáng tin cậy, có nghĩa như chúng ta viết văn thì có thể tưởng tượng được cái này hay cái khác. Đây không phải là một phóng sự điều tra vì phóng sự điều tra thì nó phải có đầy đủ chứng cứ. Trong luật thì anh biết rồi nhất là luật sở hữu trí tuệ quốc tế nó quy định cứ anh nào có bằng chứng thì anh ấy thắng.
Việc này đâu chỉ riêng Việt Nam mới có đâu mà ở Mỹ cũng đã có những trường hợp như thế. Việc này cơ quan của chúng tôi phải thực thi pháp luật rất nghiêm chỉnh. Tôi cũng xin báo cho anh biết không có một âm mưu chính trị nào trong cái bài viết ấy đâu mà đây chỉ là một sự cẩu thả.”
Theo nhà báo Thụy Kha thì nhịp 4/4 mà Anh Bằng viết cho Nỗi lòng người đi hoàn toàn không thích hợp với dòng nhạc của người nhạc sĩ nổi tiếng này. Thay vào đó nhịp 3/8 mà ông Khúc Ngọc Chân sử dụng có thể hợp lý hơn cho hoàn cảnh tuổi tác của người sáng tác. Ông Kha ní:
“Tôi làm việc này hết sức công tâm. Tối mai tôi có phát biểu ở truyền hình nó có đưa cái này lên. Tôi nói rằng dù là cha nuôi hay cha đẻ thì bài hát này nó cũng đã được sống một thời gian rất là dài và rất cảm ơn anh Anh Bằng nhưng mà cái gì của Cesar thì phải trả cho Cesar.
Truyền hình Việt Nam sẽ phát bài này hát ở nhịp ¾ sau đó là 6/8 anh thấy nó khác với hoàn toàn với điệu slow của ông Anh Bằng. Hoàn toàn khác.”
Việc trình diễn trên truyền hình VTV mà nhà báo Nguyễn Thụy Kha nêu ra được ông Phan Phương cho biết ý kiến:
“Cái vụ ông Kha với cô Phan Huyền Thư làm chương trình Giai Điệu Tự Hào này đưa tác giả Khúc Ngọc Chân lên cách đây đã lâu khi tôi chưa xử lý vụ Anh Bằng-Khúc Ngọc Chân, nó đã thu hình từ trước đó rồi. Bây giờ sáng nay nếu đúng là VTV phát hình thì tôi sẽ gọi điện cho đài truyền hình và cái này thì lỗi nếu có là do sự vô tình của đài truyền hình là cứ tin vào ông Thụy Kha thôi. Nhưng về pháp luật thì chả có giá trị gì cả.”
Bằng tất cả mọi sự dè dặt chúng tôi chỉ đưa mọi thông tin có được đến cho người yêu nhạc biết thêm một vấn đề trong hàng ngàn câu chuyện đạo văn, đạo nhạc từ xưa tới nay. Hy vọng “Nỗi lòng người đi” sẽ sớm được thanh thản và tiếp vuốt ve kỷ niệm buốt nhức của những ai từng xa Hà Nội…


"Nỗi lòng người đi" hay "Tôi xa Hà Nội"?

21:24
Baron Trịnh

Baron Trịnh: Tôi vừa đọc được trên trang Dòng Nhạc Xưa bài viết liên quan đến nghi vấn về tác giả thật của nhạc phẩm Nỗi lòng người đi mà lâu nay vẫn được biết đến với tác giả là nhạc sĩ Anh Bằng.
Có lẽ vụ việc này sẽ còn tốn nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu âm nhạc, các nhạc sĩ và những người liên quan. Tôi copy các bài viết về đây để lưu giữ những thông tin về một nhạc phẩm mà tôi vẫn yêu thích.
Do không có nhiều thời gian tìm kiếm đến bản gốc của các bài viết, tôi dẫn lại từ nguồn của các trang viết trên mạng internet.
Trước khi đến với 02 bài viết liên quan đến tác giả của nhạc phẩm, mời bạn đọc thưởng thức Nỗi lòng người đi qua giọng ca tuyệt tác của ca sĩ Vũ Khanh và hình ảnh về lời của bài hát vẫn ghi tên tác giả là nhạc sĩ Anh Bằng (nguồn hình ảnh: Từ trang Dòng Nhạc Xưa).

Nguồn: YouTube



Dưới đây là bài viết của nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha đề cập đến người tự nhận là "tác giả thật" của nhạc phẩm Nỗi lòng người đi và bài viết phản biện lại của nhạc sĩ Cao Minh Hưng.
--------------------------------------------------------------------------

GẶP TÁC GIẢ THẬT CA KHÚC “NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI”

Một buổi sáng cuối thu Hà Nội, có một người nhỏ thó đến văn phòng tôi làm việc ở 59 Tràng Thi – Hà Nội. Ông tự giới thiệu là Khúc Ngọc Chân.
Tôi nhìn mãi mới nhận ra ông đã từng là nghệ sĩ đàn cello ngồi ở Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam từ những năm mới thành lập. Các anh em của ông là Khúc Phác và Khúc Ka Hoàng cũng đều là dân nhạc nổi tiếng từ lâu. Ông Chân họ Khúc, đích thị là con cháu Khúc Thừa Dụ ở Ninh Giang – Hải Dương rồi. Ông nói rằng ông có bài thơ về tổ tiên được khắc trên bia đá tại đền thờ họ Khúc ở quê. Dần dà, ông bắt đầu kể cho tôi nghe về hoàn cảnh ra đời của ca khúc Nỗi lòng người đi mà chính ông là tác giả với cái tên đầu tiên là Tôi xa Hà Nội.

Khúc Ngọc Chân sinh năm 1936 tại phố Tô Tịch – Hà Nội. Ở Hà Nội, khi ông Chân vào thanh xuân cũng là khi cuộc chiến đấu chống Pháp của chúng ta sắp vào hồi kết. Bởi vậy, các thanh niên Hà Nội nơm nớp sợ bị bắt lính, tống ra các chiến trường. Để thoát khỏi cảnh cưỡng ép này, gia đình đã nhờ người thân xin cho ông vào làm nghề sửa chữa máy vô tuyến điện trong thành Hà Nội. Làm ở đây, vừa không bị bắt đi lính, lại chỉ phải làm có nửa ngày, nửa ngày tự do có thể làm gì tùy thích. 

Vốn yêu âm nhạc, ông Chân tìm đến học đàn với thầy Wiliam Chấn ở gần Hồ Tây. Lúc ấy, cả nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Tạ Tấn cũng đều đến học thầy Chấn nổi tiếng. Qua học thầy mà ông Chân quen với một thiếu nữ Hà Nội tên là Nguyễn Thu Hằng, kém ông hai tuổi. Rồi tình yêu nhen lửa. Họ đã có những ngày đầu yêu thương thật thơ mộng bên bờ Hồ Gươm. Không thể quên những chiều ngồi bên bờ hồ té nước đùa vui với nhau.

Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ký hiệp định Genève. Ông Chân phải theo gia đình về quê. Nỗi nhớ nhung người yêu khiến cho ông cảm xúc bâng khuâng.
Khi trở về Hà Nội, ông Chân mới biết gia đình người yêu đã xuống Hải Phòng, ở khách sạn Cầu Đất chờ di cư vào Nam. Ông tìm xuống Hải Phòng để sống cùng người yêu, chờ tiễn nàng xuống tàu. Những ngày đó, với cây guitar luôn mang theo bên mình, Khúc Ngọc Chân viết Tôi xa Hà Nội tại khách sạn Cầu Đất – Hải Phòng, viết lại những gì đã bâng khuâng trong suốt những ngày tháng qua, những ngày tháng xa Hà Nội:

Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói bay theo mây chiều
Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
Ai đứng trông ai bên hồ
Khua nước chơi như ngày xưa
Chàng tròn 18 tuổi. Nàng tròn 16 tuổi. Khi ấy, tuổi ấy yêu đương là bình thường. Nếu nỗi nhớ thương người yêu ngày đó đã khiến cho Hoàng Dương viết ra Hướng về Hà Nội nổi tiếng, thì Khúc Ngọc Chân cũng viết Tôi xa Hà Nội nổi tiếng không kém. Chàng lại tiếp tục dào dạt trở lại cái cảm xúc ấy, cái giai điệu ấy nhịp 3/8 hát chậm và tình cảm (Lento - Espressivo):

Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy
Bạn lòng ơi! Thuở ấy tôi mang cây đàn
Quen sống ca vui bên nàng
Nàng khóc tơ duyên lìa xa…
Không biết trong những ngày ngắn ngủi bên nhau ở Hải Phòng, nàng đã khóc bên chàng bao lần. Chỉ biết rằng họ vẫn an ủi nhau, nàng cứ vào trước, chàng hứa hẹn rằng sẽ vào sau, sẽ tìm nàng ở Sài Gòn. Nàng hãy gắng chờ đợi giữa đô hội phồn hoa:

Giờ đây biết ngày nào gặp nhau
Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu
Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa dòng đời
Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi
Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ
Ông Chân kể rằng khi viết Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi là viết rất thực về những ngày luồn lủi, nơm nớp sợ bắt lính, sống không yên chút nào trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm. Đến khi ông viết Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời cũng là tưởng tượng về cánh tay giơ cao của Nữ thần Tự do. Ông viết trong một thầm ước mong manh cho ngày gặp lại không biết đến khi nào. Viết vì thương nàng cô đơn giữa Sài Gòn hoa lệ:

Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui
Nhưng riêng một người tâm tư sầu não đi trong bùi ngùi
Ca khúc được viết xong, Khúc Ngọc Chân đã tập cho nàng hát thuộc lòng, hát đi hát lại đến chan chứa cảm xúc. Khi ấy đã là cuối tháng 11.1954.

Ngày đưa tiễn nàng và gia đình xuống tàu há mồm di cư vào Nam, chàng và nàng cùng xuống một chiếc thuyền con ở bến Bính để đi ra nơi tàu đậu ngoài cửa biển. Thuyền cứ trôi, còn chàng thì cứ bập bùng guitar và hát Tôi xa Hà Nội cho nàng nghe. Nàng thì vừa nghe vừa đập nhịp bằng tay lên mạn thuyền. 

Một cảnh tượng chia tay thật lãng mạn như trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Và rồi con tàu đã rời xa đất liền, trôi mãi vào biển cả mênh mang, mang theo nàng và mối tình đầu day dứt cùng giai điệu đượm buồn kia. Còn chàng thì quay về, rồi trở lại Hà Nội. Nhưng nỗi nhớ nàng thì cứ thắp sáng trong những đêm trường cô đơn. Nỗi nhớ buộc chàng phải thốt lên thành thơ, khi nhớ lại cảnh tiễn đưa nàng:

Đưa tiễn em đi mưa bụi bay
Tâm tư dằng xé lệ dâng đầy
Em đi gói ghém niềm chua chát
Anh ở ôm ghì nỗi đắng cay
Chiến họa trường kỳ đến thảm khốc
Tình đau vô hạn khó phôi pha
Một thời bức xúc triệu đôi lứa
Vật đổi sao dời nhớ khó khuây.
Còn nàng, khi vào Sài Gòn, vì mưu sinh, với khả năng văn nghệ và vẻ đẹp của mình, nàng đã đến đầu quân cho một quán bar. Ở đó, nàng vừa làm việc, vừa nhớ người yêu. Ca khúc của chàng đã được nàng tự hát trong những đêm thương nhớ. Hát để nhớ chàng, hát để chia sẻ với bao người khác có tâm trạng nhớ nhung như nàng. Và đương nhiên, một ca khúc hay như thế đã lọt vào thẩm âm của nhiều nhạc sĩ lúc đó cũng đã lìa xa Hà Nội. 

Chắc chắn trong đó có nhạc sĩ Anh Bằng. Ca khúc đã có một số phận khác khi được nhạc sĩ nhận thức và tìm cách xử lý. Còn ở Hà Nội, Khúc Ngọc Chân đâu ngờ gia đình ông bao đời không chịu làm cho Tây đã không theo dòng người di cư mà ở lại Hà Nội vừa giải phóng. Vậy là lời hứa với nàng đành lỡ dở theo thời gian.

Ở lại Hà Nội, năm 1956, ông Chân vào học đàn cello ở Trường Âm nhạc Việt Nam. Khi tốt nghiệp thì về công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Ngày thống nhất đất nước, khi Dàn nhạc Giao hưởng vào biểu diễn ở Sài Gòn vừa giải phóng, ông Chân đi tìm người yêu qua họ hàng thân thiết thì biết tin người yêu vò võ đợi chờ ngày gặp lại đã mất vì mắc bệnh hiểm nghèo năm 1969, khi mới vào tuổi “tam thập nhi lập”. Theo người thân của người yêu, ông đã tìm đến mộ nàng và thắp hương, thầm khóc cho cuộc tình chia phôi bất hạnh. 

Chính vì người yêu đã mất, nên ông không sao hiểu nổi bằng cách gì mà ca khúc Tôi xa Hà Nội của ông lại lọt vào tay nhạc sĩ Anh Bằng, được ông sửa thành nhịp 4/4 theo điệu Slow và phổ biến “quá trời” tại Sài Gòn. Ông Chân nói rằng đó là điều may mắn. Khi ấy, nếu ca khúc lan ra mà lại ghi tên ông là tác giả, chắc ông khó mà ngồi yên ở Dàn nhạc Giao hưởng cho đến khi về hưu.

 Nhưng vì ca khúc ghi là của tác giả Anh Bằng, nên những ca từ rất thực của ông diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm lại trở thành một vệt đen mang đậm nỗi ấm ức của bao người di cư ở bên kia chiến tuyến. Lại nữa, vì Anh Bằng đổi tên ca khúc thành Nỗi lòng người đi nên vệt đen kia hóa thành có thực khi đất nước bị chia cắt. Cũng chính vì thế mà cho đến nay Nỗi lòng người đi (vốn là Tôi xa Hà Nội) vẫn chưa được cho phép hát lại.

Tìm hiểu về nhạc sĩ Anh Bằng qua nhiều luồng thông tin, qua trang mạng Google thì thấy rằng điều ông Chân thổ lộ rất có cơ sở. Nhạc sĩ Anh Bằng tên khai sinh là Trần An Bường. Ông sinh năm 1925 tại thị trấn Bỉm Sơn thuộc Ninh Bình. Ông học trung học tại Hà Nội trước khi di cư vào Nam. Sau ngày 30.4.1975, Anh Bằng sang Mỹ, cư trú tại Houston, bang Texas. Ông vẫn hoạt động văn nghệ trong cộng đồng người Việt và hiện là cố vấn Trung tâm Asia Entertainment tại Houston.

Ngày ấy, khi vào Sài Gòn, theo thiển nghĩ của tôi, Anh Bằng chưa được biết đến như Chung Quân, Cung Tiến. Nghe được ca khúc Tôi xa Hà Nội do một thiếu nữ làm ở quán bar hát những khi chia sẻ mà lại không biết xuất xứ. Với khả năng âm nhạc của mình, Anh Bằng đã thuộc được giai điệu này. Ông thấy rất hợp tâm trạng của ít nhất là những thanh niên vừa phải xa Hà Nội di cư vào Sài Gòn. 

Vậy là cuộc sử dụng một giai điệu mang tâm trạng của thanh niên xa Hà Nội, nhưng để hợp thời thế, Anh Bằng đã chuyển nhịp 3/8 gốc của ca khúc Tôi xa Hà Nội thành nhịp 4/4 dùng tiết điệu Slow. Còn về ca từ, Anh Bằng đã khéo léo gắn vào đó tên của một nhà thơ tình nổi tiếng là Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là nhà thơ đã từng tham gia chiến tranh tại Nam bộ và có bài thơ Tiểu đoàn 307 được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc rất hoành tráng. Nhưng sau Hiệp định Genève, ông đã ra tập kết ở miền Bắc. Có lẽ thông tin này, Anh Bằng không biết, nên ông đã tự “vu” cho Nguyễn Bính chịu trách nhiệm ca từ này. Trong ca từ, Anh Bằng có sửa vài chỗ. Chỗ thì cho lãng mạn hơn theo ý của ông. 

Đấy là câu “Khua nước chơi như ngày xưa” thành “Khua nước trong như ngày xưa”. Hồ Gươm đã được gọi là Hồ Lục Thủy, tức là hồ nước xanh tự ngàn xưa, nên chữ “trong” không đúng với hiện thực mà là tưởng tượng ra thôi. Còn nữa, nếu Khúc Ngọc Chân viết: “Mộng với tay cao hơn trời - Ai nhắn thay tôi đôi lời” thì Anh Bằng sửa là “tôi hái hoa tiên cho đời” thì đúng là ca ngợi cuộc sống Sài Gòn lúc đó, để cho người miền Nam thấy đang hưởng một cuộc sống “phồn hoa” tuy “giả tạo”. Cuối cùng, Anh Bằng đã đổi tên ca khúc Tôi xa Hà Nội thành Nỗi lòng người đi, rất phù hợp với tâm trạng những người xa Hà Nội khi ấy ở Sài Gòn. Và nhờ Nỗi lòng người đi, Anh Bằng đã chính thức bước vào làng nhạc để rồi tạo ra trung tâm âm nhạc “Lê – Minh – Bằng” tức là trung tâm do 3 nhạc sĩ: Lê Dinh – Minh Kỳ – Anh Bằng khởi xướng, chuyên làm đĩa nhạc và dạy âm nhạc ở Sài Gòn từ 1966 đến 1975.

Ông Chân kể lại câu chuyện này với tôi không hề có ý đòi hỏi gì về bản quyền và tranh chấp với Anh Bằng. Ông chỉ muốn kể ra một sự thực của một ca khúc do ông viết ra. Sau ngày thống nhất, sau khi đã đến thắp hương cho bà Hằng, và xót xa cảnh ngộ của bà khi vào Sài Gòn phải làm “gái bar”, rồi phải giữ mình để mất đi cô đơn trong bạo bệnh, cũng phải sau 20 năm nữa, không quên được mối tình đầu đẹp đẽ và lãng mạn, ông Chân lại viết ra những vần thơ thương nhớ người yêu, cũng như sau Tôi xa Hà Nội, ông còn viết Biển và em, Thu Hà Nội vẫn với “air nhạc” như Tôi xa Hà Nội để nhớ bà. Ông đã rơm rớm khi đọc bài tưởng nhớ bà mang tên “Tình thoảng gió”:

Tình thoảng gió như tình đời trong bụi
Đời mà nhơ thì bụi vẫn còn nhơ
Ai yêu đương thoang thoảng vào giấc mơ
Còn giữ lại trong đời khi thoảng gió

Chỉ giây phút rồi liền sau đó

Tình bay đi và gió cũng bay đi
Bao nâng niu âu yếm hỏi làm gì
Người còn đó để tình bay theo gió

Có những phút nhìn đời không màu đỏ

Bởi thiên tình mà ai có biết không
Lụi tàn ngọn lửa đêm đông
Ngẫm tình thoảng giá nhìn không thấy đời

Sống chơi vơi mà chết cũng chơi vơi

Tuổi xuân ngày ấy buồn ơi là buồn
Có lẽ nước mắt trong bài thơ này cũng đủ để nói hết nỗi lòng của chàng và nàng chia ly thuở đó. Bà Nguyễn Thu Hằng thì đã ra đi ôm theo mối tình đầu trong tâm trạng cô đơn. Ông Chân vì không có bà Hằng cũng đành phải lập gia đình khác, nhưng đâu có hạnh phúc trọn vẹn. Người vợ đầu của ông bây giờ đã cùng cô con gái sang Phần Lan. Năm 1974, ông Chân mới “đi bước nữa” cùng một bác sĩ là giáo sư Đại học Y khoa. Bà tuy không làm nghệ thuật nhưng rất yêu nghệ thuật. Nghe câu chuyện mối tình đầu của ông Chân, bà đồng ý để ông Chân kể ra câu chuyện sáng tác ca khúc Tôi xa Hà Nội với cuộc đời. 

Người thay ông Chân nhận làm tác giả ca khúc và đổi tên là Nỗi lòng người đi, là nhạc sĩ Anh Bằng thì đã nhờ những giai điệu này mà nổi tiếng, có cuộc sống tốt từ đó đến nay. Việc nhận thay vô thức này đã tặng cho ông Chân một cuộc sống bình an trên đất Bắc từ 1954 đến nay. Cũng chả cần gì phải nói thêm về sự chia sẻ, tranh chấp hồ đồ. Chỉ có một điều muôn thuở là “cái gì của Caesar thì trả lại cho Caesar”. Bài viết này tuy đã muộn nhưng vẫn còn chưa muộn vì nhạc sĩ Anh Bằng vẫn còn có thể có một lời nào đó với nhân gian về câu chuyện này. Và hơn nữa, vì lý do cấp phép ca khúc được lưu hành sẽ lĩnh hội và cho phép Tôi xa Hà Nội của Khúc Ngọc Chân được lưu hành như một ca khúc hay về Hà Nội thời kỳ đó.

Tác giả: Nguyễn Thụy Kha
Bài đăng trên Kiến Thức Ngày Nay, số 804.
Nguồn bài viết từ trang Giai điệu Xanh.
-------------------------------------------------------------------------

CẢM NGHĨ SAU KHI ĐỌC BÀI VIẾT VỀ “NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI”

Từ khi Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ được thành lập, chúng tôi (Ngọc Bích và tôi) có may mắn được gặp gỡ thường xuyên với Nhạc sĩ Anh Bằng vì ngoài vai trò là người đồng sáng lập, ông là một trong các vị Cố vấn luôn quan tâm và góp ý kiến cho chúng tôi, từ những việc nhỏ như vấn đề may áo đồng phục cho Ban Hợp Ca, đến những việc khác như khuyến khích các ca nhạc sĩ trong nhóm tiếp tục sáng tác những bản nhạc đấu tranh cho dân chủ quê hương đất nước, v.v. Chúng tôi rất cảm phục trước tấm lòng nhiệt tình đấu tranh không mệt mỏi cho quê hương đất nước sớm có ngày được tự do, dân chủ dù với tuổi đời đã cao và sức khoẻ không được tốt của ông.

Gần đây, khi trên các trang mạng tung ra bài viết của tác giả Nguyễn Thụy Kha với ý đồ vu khống và hạ uy tín của Nhạc sĩ Anh Bằng qua bài viết “Tôi Xa Hà Nội” mà ông Nguyễn Thụy Kha cho biết viết theo lời kể của “nhạc sĩ” Khúc Ngọc Chân”. Đọc qua bài viết này của ông Nguyễn Thụy Kha, chúng tôi nghĩ đa số mọi người đều thấy ngay nhiều điểm kịch tính, gán ghép, mâu thuẫn trong bài viết với mục đích là cố tình bôi xấu và hạ uy tín của Nhạc sĩ Anh Bằng.

Chúng tôi đã liên lạc với Nhạc sĩ Anh Bằng vì e rằng bài viết vu khống có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của ông. Tuy nhiên, chúng tôi rất vui khi được biết rằng tinh thần của ông vẫn cao và không hề nao núng trước sự đánh phá, xuyên tạc qua bài viết này. Ông cho biết cá nhân ông không muốn trả lời cho những người tự cho là mình là những người văn nghệ sĩ, nhưng thật ra họ đã mất đi nhân tính khi cố tình viết lên những điều trái với sự thật như vậy.
Mặc dầu Nhạc sĩ Anh Bằng không muốn lên tiếng về việc này, nhưng qua những điều tìm hiểu được sau khi đọc bài viết của ông Nguyễn Thụy Kha, chúng tôi thấy cần phải lên tiếng thêm về một vài chi tiết ngoài những điều mà chúng ta đã đọc của nhiều tác giả viết những bài phản bác lại bài viết của ông Nguyễn Thụy Kha trong những ngày vừa qua.

Điểm đầu tiên chúng tôi muốn đề cập đến là chi tiết khi ông Nguyễn Thụy Kha viết rằng ông Khúc Ngọc Chân và người yêu “đã cùng xuống một con thuyền con ở bến Bính để đi ra tàu đậu ngoài của biển”. Chỉ một chi tiết này thôi, chúng ta cũng thấy sự thêu dệt của cả 2 ông Nguyễn Thụy Kha và Khúc Ngọc Chân khi họ cố tình bóp méo những chi tiết có tính cách lịch sử với nhiều nhân chứng và hình ảnh còn ghi lại. Những người di cư vào Nam vào thời điểm năm 1954 chắc ai cũng biết là những chiếc tàu lớn (tàu há mồm) chở người dân miền Bắc di cư vào Nam tìm tự do không hề “đậu ngoài cửa biển”, mà đậu ngay ở bến tàu để những xe nhỏ hay đồng bào di cư đi lên thẳng trên tàu (xin xem theo những hình ảnh lịch sử đính kèm). Cá nhân chúng tôi chưa ra đời vào những năm tháng đó, tuy nhiên những chi tiết lịch sử này chúng tôi được biết qua một số lời kể và những hình ảnh lịch sử được ghi lại. Với những chứng cứ này, chúng ta có thấy ngay là hình ảnh “thuyền cứ trôi, còn chàng thì cứ bập bùng guitar và hát ‘Tôi Xa Hà Nội’ cho nàng nghe” được dựng lên hoàn toàn không thực và được đưa vào bài viết một cách hết sức gượng ép. Tác giả của bài viết đã xem thường những chi tiết thật của lịch sử.

Lên tàu há mồm ở cảng Hải Phòng

Hai Phong port 1954

Một chi tiết khác mà chúng tôi được biết là Nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác bài “Nỗi Lòng Người Đi” từ năm 1954 và phải hơn 10 năm sau, sau những lần sửa đổi cho bài hát được hoàn chỉnh, ông mới mang ra giới thiệu với công chúng. Một tác phẩm mất khoảng thời gian 10 năm để cho ra đời, nhưng theo bài viết thì “nhạc sĩ” Khúc Ngọc Chân chỉ viết trong một thời gian ngắn giữa cảnh di tản hỗn loạn của đồng bào miền Bắc di cư vào Nam. Nếu như thế thì đúng là “nhạc sĩ” Khúc Ngọc Chân” quả là một thiên tài nhưng “thiên tài” này từ ngày đó đến nay, cũng như nhiều người đã nhận xét và tra cứu trên các trang mạng, ông Khúc Ngọc Chân không có một nhạc phẩm nào được biết đến trong kho tàng âm nhạc Việt Nam so với hàng trăm bản nhạc của Nhạc sĩ Anh Bằng mà trong số đó, không ít những bản nhạc đã trở thành bất tử.

Nói thêm về sự thêu dệt và bịa đặt trong bài viết của ông Nguyễn Thụy Kha, theo như ông Khúc Ngọc Chân cho biết, ông đã không biết tin gì về người yêu của mình, tức bà Nguyễn Thu Hằng cho đến khi ông Chân vào Nam vào năm 1975 và cất công đi tìm và biết rằng người yêu đã qua đời vào năm 1969. Trong khi đó thì ông Nguyễn Thụy Kha lại biết rõ về bà Thu Hằng qua đoạn viết: “Còn nàng, khi vào Sài Gòn với khả năng văn nghệ và vẻ đẹp của mình, nàng đã đến đầu quân cho một quán bar. Ở đó, nàng vừa làm việc, vừa nhớ người yêu. Ca khúc của chàng được nàng tự hát trong những đêm thương nhớ.” Trí tưởng tượng của tác giả Nguyễn Thụy Kha quả thật là phi thường!

Môt chi tiết khác khi ông Nguyễn Thụy Kha viết là Nhạc sĩ Anh Bằng đã sửa lời của bài hát, ví dụ như ở câu: “Còn nữa, nếu Khúc Ngọc Chân viết “Mộng với tay cao hơn trời/Ai nhắn thay tôi đôi lời” thì Anh Bằng sửa là “Tôi hái hoa tiên cho đời…”. Có nhiều người đã nêu ra điểm buồn cười và ngây ngô của đoạn này khi ông Khúc Ngọc Chân cho là mình đã dùng hình ảnh “với tay cao hơn trời” để “tưởng tượng về cánh tay giơ cao của Nữ Thần Tự Do”, một điều ngoài sức tưởng tượng của nhiều người vào thời điểm đó, vì có mấy ai nghĩ đến Hoa Kỳ, có chăng là chỉ nghĩ đến nước Pháp và những hình ảnh về nước Pháp vào thời điểm đó mà thôi! Có lẽ hai ông này không biết một chi tiết là Nhạc sĩ Anh Bằng khi sáng tác bài hát này, ông đã dùng hình ảnh “Tôi hái hoa tiên” dựa theo truyền thuyết là có một bông hoa thần ở trên trời và nếu người nào hái được hoa ấy để tặng cho người mình yêu, sẽ được hạnh phúc mãi mãi. Một hình ảnh đẹp như vậy trong bài hát mà lại bị hai ông Nguyễn Thụy Kha và Khúc Ngọc Chân gán ghép sửa đổi để càng lộ thêm sự thiếu kiến thức về lịch sử và văn chương của họ.

Nói đến khía cạnh văn thơ trong lời ca, ngay như trong câu “Khua nước trong như ngày xưa” của nhạc phẩm “Nỗi Lòng Người Đi” mà theo như ông Nguyễn Thụy Kha viết, ông Khúc Ngọc Chân đã từng viết câu “Khua nước chơi như ngày xưa”. Nếu một thi sĩ khi ngâm câu này hay một ca sĩ khi hát chữ “chơi” thay cho chữ “trong”, sẽ thấy ngay sự trái tai trong cách dùng từ ở chỗ này. Khi ông Khúc Ngọc Chân và ông Nguyễn Thụy Kha đưa ra chi tiết này, họ không ngờ rằng chỉ gây thêm sự phản tác dụng và bộc lộ kiến thức kém cõi về thi văn và âm nhạc của họ.

Còn nhiều chi tiết khác trong một bài viết đầy dụng ý vu khống và bôi nhọ uy tín của Nhạc sĩ Anh Bằng như về việc gán ghép bản nhạc được phổ từ thơ của Thi sĩ Nguyễn Bính, hay nêu ra những chi tiết không đúng với sự thật về nơi sinh quán cũng như nơi cư ngụ của Nhạc sĩ Anh Bằng khi đến định cư tại Hoa Kỳ, hay ngay cả cái tựa đề “Tôi Xa Hà Nội” cũng không thích hợp với hoàn cảnh của câu chuyện kể của ông Khúc Ngọc Chân mà một vài tác giả đã có nhắc tới nên chúng tôi không nhắc lại và bàn thêm nơi đây, nhưng đó cũng là những chi tiết cho thấy sư coi thường độc giả của ông Nguyễn Thụy Kha và càng làm cho mọi người thấy ngay giá trị của bài viết của ông Nguyễn Thụy Kha ra sao!

Những lời thăm hỏi và khuyến khích của Nhạc sĩ Anh Bằng thường tiếp cho chúng tôi thêm nhiệt huyết để dấn thân trên bước đường đấu tranh cho quê hương đất nước để không phụ lòng tin yêu của những người đi trước như Nhạc sĩ Anh Bằng, người nhạc sĩ tài hoa và luôn thiết tha yêu quê hương đất nước.

Tác giả: Cao Minh Hưng
Nguồn bài viết và hình ảnh từ trang Câu lạc bộ Tình nghệ sĩ.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List