Popular Posts

Sunday, October 6, 2019

PHỞ có dấu hỏi không ?

Chủ đề:    PHỞ có dấu hỏi không ?



       
                                                                PHỞ có dấu hỏi không ? 

                                        https://www.daymadi.com/2019/05/pho-co-dau-hoi-khong/

        PHỞ có dấu hỏi không ?

          Tài liệu của bác Ái-Văn/Ca, để thêm phần “sáng tỏ”, bổ túc cho “Hà-nội Phở” của Lê minh Châu/Ca 

” Kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay đã có nhiều tranh cãi về nguồn gốc ra đời của Phở. Tuy vẫn còn bất đồng về nơi xuất xứ thực sự hay thời điểm ra đời, nhưng hầu hết cùng chung quan điểm là Phở được khai sinh trong thời Pháp thuộc, ở giai đoạn người Pháp bắt đầu đẩy mạnh khai thác thuộc địa ở Việt Nam. Có thể xem Phở là một trong những ví dụ đặc trưng cho khái niệm Bricolage (lai ghép), mà các nhà Nghiên cứu văn hóa ẩm thực dùng để chỉ món ăn thiên hướng lai ghép (kết hợp, biến tấu từ nhiều nguồn thức ăn ngoại lai) hơn là tự thân sáng tạo .Hiện nay, Phở đã theo chân cộng đồng người Việt có mặt ở nhiều nước trên thế giới.”  

(Fb Minhbo Tran – Con trai cố GS. Trần Văn Khê)

                                                                                                          NGUỒN GỐC MÓN PHỞ.*


          Trong Tự điển tiếng Việt – Bồ Đào Nha – La Tinh của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 không có từ ngữ “Phở”. Trong Tự điển Huỳnh Tịnh Của (biên soạn năm 1895) và Tự điển Genibrel (biên soạn 1898) cũng không có từ ngữ Phở . 

          Danh từ Phở được chính thức ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (1930) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo và giảng nghĩa : 

          “Món ăn nấu bằng bánh bột gạo thái nhỏ với nước dùng bằng thịt bò hầm “. 

* Nhà văn Nguyễn Công Hoan từng viết: “ Năm 1913…tôi trọ số 8 Hàng Hài…thỉnh thoảng, được ăn Phở (hàng Phở gánh rong). Mỗi bát 2 xu (có bát 3 xu, 5 xu)”. Phở rong bắt đầu thịnh hành nên bị chính quyền đánh thuế: “…họ phải mua hai hào tem thuế mỗi ngày. như vậy có thể xem Phở xuất hiên khoảng giữa những năm 1900 đến 1913.

* Người Việt ngày xưa 99% là nông dân , họ coi bò là loài gia súc thân thương và hữu ích (sức kéo) nên không ăn thịt bò. Vì thế nói quê hương Phở bò ở Nam định miền Bắc là không hợp lý.

          Chuyện là : 

          Năm 1910, nhiều thanh niên Việt Nam, cả miền Bắc lẫn miền Nam, đi lính cho Pháp. Họ phải sang Mẫu quốc để phục vụ một thời gian, trong số đó có một người từng làm phụ bếp cho Toàn quyền Sài Gòn tên Huỳnh. Đơn vị ông Huỳnh đóng quân ở Marseille, và ông được giữ chức Bếp trưởng của Binh đoàn toàn lính người An Nam. Sáng nào ông Huỳnh cũng ra lệnh đốt bếp lò thật sớm bằng cách hô to: ” Feu ! Feu!”, có nghĩa là “nổi lửa lên” để nấu súp thịt bò cho binh sĩ ăn điểm tâm với bánh mì khô. Thấy binh sĩ người Việt bỏ ăn sáng hơi nhiều, ông Huỳnh bèn nghĩ ra một món mới, hy vọng anh em binh sĩ An Nam sẽ cảm thấy dễ nuốt hơn. Sau khi được các “Xếp Tây ” cho phép, ông bèn lấy nước súp bò của Tây… cho hầm chung với quế, hồi, gừng… Riêng “bánh tài phảnh” mua của người Tàu bán ở khu Chinois, rồi ông Huỳnh nêm thêm nước mắm vào soupe cùng với hành, ngò rí, hành tây … cho hợp khẩu vị Việt Nam. Tuyệt vời thay, ở xứ lạ quê người, buổi sáng trời lạnh như cắt da, mà lại được ăn một bát súp “hủ tíu bò” nóng hổi ngào ngạt đậm mùi quê hương, thay vì ăn bánh mì Tây quá ư nhạt nhẽo! Binh sĩ An Nam ủng hộ Chef Huỳnh hết mình …Nấu bao nhiêu cũng hết! Các Sĩ quan Pháp thấy vậy đòi ăn thử, ai cũng tấm tắc khen ngon rồi thắc mắc: “Tên món này là món gì mà sáng nào Monsieur Huỳnh cũng ra lệnh Feu… Feu... vậy ?” Không chần chừ, ông Huỳnh trả lời: Thưa Xếp tên nó là Phở (Feu) đấy! “…PHỞ ra đời năm ấy – năm 1910 … được Tây lẫn Ta yêu thích và chết tên “Feu” từ đó…Khi muốn ăn, Sĩ quan Tây chỉ cần nói “Feu… Feu...” là có tô Phở bò hầm kiểu An Nam nóng hổi khói bốc nghi ngút…theo gió, thơm lừng cả doanh trại.

          Nhiều binh lính An Nam nhà ở Hà Nội sau khi giải ngũ về đã lấy Phở gánh với tiếng rao:  
Feu…ớ … làm kế sinh nhai, thực khách là lính Tây và kiều dân Pháp. Dân Hà Nội cũng ăn thử và “mê tít” món Feu từ đó!

– Ở Dalat năm 1930 có Phở Gare xe lửa là tiệm Phở bò đầu tiên của Dalat do con ông Huỳnh (Chef) làm chủ.  Chữ “tô xe lửa” (Tô lớn) từ đây mà ra . Phở Gare Dalat sau 1960 dời vế Phú Nhuận Saigon lấy tên là Phở Bắc Huỳnh.

– Ở Sài Gòn trước năm 1940 có tiệm Phở Turc là tiệm Phở đầu tiên, chủ tiệm cũng là dân đi lính Tây giải ngũ về, ông này nói tiếng Pháp giỏi nên có nhiều khách Tây đến ăn 


..”_ 


                                      Viết theo lời kể của Ông Võ Văn Côn, nguyên là Chef Bếp Việt của Vua Bảo Đại.


                                     
        Phở không từ “tộc” Việt , nhưng nhắc đến Phở là nói tới “dân” Việt ! 
                                                                                                                                                            Hết.



__._,_.___

Posted by: van tran 

Saturday, October 5, 2019

Nhớ người đã chết.


---------- Forwarded message ---------
From: Loc Vu <
Date: Sun, Sep 29, 2019 at 8:29 PM
Subject: Nhớ người đã chết.
To: Loc Vu <

Nhớ người đã chết.
Giao Chỉ San Jose. (Viết về các bạn mũ đỏ Trần quốc Lịch, Phan nhật Nam)
Nếu anh không nói, ai nói ? 
Bây giờ không nói, bao giờ ?
Bây giờ là đầu tháng 10 năm 2019. Tính ra là gần nửa thế kỷ từ ngày mất nước tháng tư năm 75. Thời gian đã quá lâu rồi. Chuyện chính trường Hoa Kỳ còn đang nổi sóng. Nói đến chuyện tranh luận về cuộc chiến điêu linh ngày xưa xem chừng như “Cung đàn lạc điệu”. Nhưng rồi cũng phải nói thôi. Ông mục sư King là người da đen duy nhất có riêng một ngày tưởng niệm trong quốc lễ Hoa Kỳ. Chính ông King đã nói câu danh ngôn rất lý thú. Đại khái ông nói rằng chúng ta phải trách nhiệm về những điều nói ra. Nhưng cũng trách nhiệm cả về những chuyện biết mà không nói. Vì vậy câu chuyện sau đây tôi phải nói . Số là anh em mũ đỏ vừa tổ chức họp mặt lần thứ 39 tại Nam CA. Đại úy nhẩy dù Phan Nhật Nam không tham dự. Nhưng ông Nam lại viết thư giãi bầy điều đáng tiếc là đại hội có sự hiện diện vị tướng mũ đỏ duy nhất là ông Trần Quốc Lịch. Xem ra có vẻ làm tủi hổ vong linh các tử sĩ nhảy dù. Đặc biệt là các chiến hữu đã từng có mặt trong các đơn vị ông Lịch chỉ huy suốt 18 năm theo binh chủng nhảy dù. Lý do ông Nam cho biết vào những ngày sau cùng của tháng tư quốc hận, ông Lịch còn đang bị tù chờ ra tòa án quân sự vì những trách nhiệm xấu khi làm tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh. Một cách văn vẻ, đại úy Nam nói rằng có nhiều chiến binh trong lữ đoạn 2 không còn sống để có mặt trong các đại hội mũ đỏ hàng năm. Những người lính đã chết cho cấp chỉ huy lên tướng. “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô.”Ông Nam trích dẫn binh nghiệp của chuẩn tướng Trần Quốc Lịch và nhắc đến danh tính một vài tử sĩ. Đọc được tài liệu của ông Nam giãi bầy đăng trên báo, tôi cho là điều rất đáng tiếc. Chuyện của ông Lich bị tù quân kỷ còn có nhiều uẩn khúc mà không ai biết rõ. Mặt khác, trong chiến tranh, người lính nào cũng nghĩ đến các chiến hữu đã hy sinh. Không phải chỉ có riêng ai. Nhưng câu chuyện đáng tiếc còn tiếp theo. Ngay sau khi bài viết của đại úy Nam phổ biến. Trên diễn đàn Mạng khắp nơi các bạn mũ đỏ lên tiếng bênh vực ông Lịch mắng mỏ trách cứ ông Nam với những lời lẽ nặng nề. Tôi có nói riêng đôi lời với ông Lịch và các bạn Mũ Đỏ. Nay thấy cần lên tiếng thêm để bày tỏ những tin tức ghi nhận được từ trước năm 1975. Như Mục sư King nói. Ta trách nhiệm về cả những điều không nói. Vì vậy xin nói như sau.                                                                           
Chuyện Trần Quốc Lịch.
Anh Lịch cùng chúng tôi 300 thanh niên miền Bắc giã từ Hà Nội bay vào Sài Gòn tháng 3 năm 1954. Theo học khóa Cương Quyết số 2 tại trường Võ bị liên quân Đà Lạt. Đây là 2 đại đội của khóa Tư Phụ trừ bị Thủ Đức gửi lên học trường võ bị hiện dịch. Trần Quốc Lịch và tôi cùng một vài anh em hiện nay còn sống đều thuộc trung đội 21 đại đội 6 sinh viên sỹ quan. Tất cả đều cùng đợt tuổi 20 giã từ Hà Nội. Chúng tôi còn sống đến ngày nay đều trên 85 tuổi. Thời gian cuối năm 1974, trung tướng Đồng Văn Khuyên vào những buổi xế chiều từ văn phòng của ông trên nhà lầu bộ Tổng Tham Mưu thường ghé xuống văn phòng Patfinder của tôi để hỏi chuyện về quân viện Hoa Kỳ. Sau chuyện công vụ chúng tôi nói về khóa 1 Thủ Đức của ông Khuyên Nam Kỳ và khóa Cương Quyết Bắc Kỳ của anh em chúng tôi. Những chuyện tôi say sưa nhắc lại và tướng Khuyên cũng rất thú vị lắng nghe. Chuyện trung tá tiểu đoàn trưởng công binh Nghiêm Kế bị bắt tù binh trận Tân Cảnh giải ra Bắc. Sau hiệp định Paris trung tá Nguyễn Thế Nhã nhảy dù ra đón bạn cùng trung đội 21 được trả tù binh trên sông Thạch Hãn. Nhã đã nói rằng Kế ơi Kế, sao số phận mày lại khốn nạn thế này. Qua năm sau, Nguyễn thế Nhã tử trận khi làm trung đoàn trưởng của sư đoàn 1 bộ binh. Chúng tôi chôn cất đại tá Nhã ở nghĩa trang Sài Gòn. Nghiêm Kế khóc mà nói rằng: Nhã ơi Nhã, sao phần số mày lại khốn nạn thế này. Tôi lại kế tiếp cho ông tướng tham mưu trưởng liên quan rằng hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Khi tôi ra thăm các bạn cùng khóa đánh trận Quảng Trị có sự hiện diện của 3 đại tá chỉ huy 3 lữ đoàn cùng là anh em ra đi từ trại Ngọc Hà Hà Nội năm 1954. Đại tá Phạm văn Chung lữ đoàn trưởng TQLC giữ tuyến sông Thạnh Hãn. Đại tá Trần Quốc Lịch lữ đoàn trưởng nhảy dù và đại tá Ngô văn Định lữ đoàn trưởng TQLC thay nhau tấn công Cổ Thành. Trước đó lữ đoàn mũ đỏ của anh Lịch đã đánh trận long trời lở đất tiêu diệt cả sư đoàn địch ở phía Tây Quảng Trị. Nhưng lính dù cũng hy sinh hàng trăm người. Nhân vui câu chuyện tôi hỏi tướng Khuyên về trường hợp Trần Quốc Lịch đang bị giam tại Chí Hòa. Sau 18 năm nhảy dù từ trung đội trưởng lên đến đại tá lữ đoàn trưởng với trên 30 huy chương và toàn thăng cấp mặt trận. Về tư lệnh sư đoàn 5 lên chuẩn tướng mà sao lại ra nông nỗi như vậy. Từ sư đoàn 5 Lịch bi thuyên chuyển về làm chánh thanh tra quân đoàn 4 tại Cần Thơ. Rồi lại bị thanh tra trung ương điều tra và giam giữ.Trong chỗ tình cảm, tướng Khuyên cho biết trong hoàn cảnh cha Thanh tố cáo mọi người tham nhũng từ ông Thiệu trở xuống, hồ sơ Trần Quốc Lịch là một trường hợp điển hình cần đưa ra làm gương. Đại tá Lịch nhận sư đoàn 5 tháng 9 năm 1972 đến tháng 11 lên chuẩn tướng nhiệm chức. Một năm sau tháng 11-1973 bàn giao cho ông Lê Nguyên Vỹ. Tài liệu an ninh cho biết tìm thấy gạo và thuốc tây trong mật khu xuất xứ liên quan đến sư đoàn 5 thời kỳ anh Lịch trách nhiệm. Quân đội bèn phạt quân kỷ và lấy lại ngôi sao nhiệm chức của chuẩn tướng Lịch. Tin đồn bán súng, bán xe và bán cả thiết giáp cho Việt Cộng là đồn láo. Đây là giai đoạn ông Thiệu không thể hy sinh các tướng Quang, tướng Toàn, tướng Nghi nên tạm nhốt các chuẩn tướng Trần Quốc Lich, Lê văn Tư làm các con dê tế thần. Bên ngoài cả phía cha Thanh và Hoa Kỳ cùng tổ cáo tham nhũng.  Lại thêm vụ Quỹ Tiết kiệm quân đội khiển phạt oan uổng biết bao đại tá tại bộ quốc phòng vì tội tham nhũng những sự thực là thanh toán chính trị. Tôi hỏi tướng Khuyên về tương lai ra sao. Ông nói chắc sẽ bị phạt quân kỷ và cho giải ngũ với cấp bậc đại tá. Cả đời nhảy dù gần 20 năm chinh chiến chắc chắn sẽ có sự giảm khinh. Đại tướng Viên cùng gốc nhảy dù nên vẫn có tình riêng với gia đình Mũ  Đỏ. Đó là chuyện tôi biết về anh bạn cùng trung đội đã từng đeo một sao cho khóa Cương Quyết ra đi từ Hà Nội. Ngày đau thương 30 tháng tư 75 vị lữ đoàn trưởng anh hùng mũ đỏ đánh giặc từ An Lộc mà đánh ra đến Quảng Trị để rồi từ khám Chí Hòa mà bước qua trại tù tập trung cộng sản trọn vẹn 14 năm dài. Gia đình Trần quốc Lịch HO qua Mỹ năm 1991. Suốt 14 năm nín thở qua sông, sang đến nước Mỹ, Trần quốc Lịch tiếp tục nín thở diện bích để làm thơ Đường Luật. Chiến hữu xa gần dù đồng khóa, đồng tù hay cùng đội mũ đỏ đều nói rằng chuyện cũ chẳng cần tìm hiểu giãi bầy, bạn chẳng nên phơi mặt ra chốn cộng đồng cho rắc rối. Tuy không phải người nhái nhưng bạn Lịch của tôi cũng lặn kỹ được 30 năm dài. Chỉ qua lại giữa chiến hữu. Nhưng rồi năm nay, nhảy dù hải ngoại họp lần thứ 39, ông già lữ đoàn trưởng nghe lời chiến hữu ra ngoài phơi nắng với anh em lính tráng và mấy ông tu bíp nhà binh. Ngờ đâu lại bị ông Phan Nhật Nam luộc nhẹ cho một bài vào lúc hoàng hôn cuộc đời. Rất tiếc.
Chuyện Phan Nhật Nam.
Chúng tôi không biết anh Nam trong đời thường nhưng biết rất nhiều qua văn nghệ. Khi Nam viết bài báo về Trần Quốc Lịch là nghĩ đến các chiến binh đã hy sinh trên đoạn đường lên lon của các tướng lãnh. Nam nghe nói đến những chuyện sai lầm tham nhũng của các cấp chỉ huy, các nhà lãnh đạo nên viết lời cay đắng. Tâm trạng đó rất trong sáng hay có đôi chút oán hờn cá nhân cũng là chuyện thường tình. Nhưng anh liền bị các chiến hữu phản đối mạnh mẽ và đến lượt chính anh bị tổ cáo vì coi thường kỷ luật trong nhiệm vụ dưới màu áo lính. Quả thực với cá tính đặc biệt và với văn tài xuất sắc trong lãnh vực văn chương chiến sự anh em ta rất nên nghĩ lại. Quân đội và gia đình mũ đỏ đã có thừa các đại úy đại đội trưởng anh hùng và tôn trọng quân kỷ. Nhưng không có Phan Nhật Nam sẽ không có ai Dựa lưng nỗi chết, mang Dấu binh lửa, vượt Ải Trần Gian suốt Dọc Đường Số Một. Sẽ không có ai viết được bản cáo trạng lịch sử về Tù Binh và Hòa Bình. Sau cùng sẽ không có ai dựng được cả Mùa Hè Đỏ Lửa, tác phẩm đã tái bản 30 lần. Dù bị tống ra khỏi nhảy dù những cả VNCH không ai đem được nhẩy dù ra khỏi thân xác Phan Nhật Nam. Trong vai trò của thành viên Ủy hội quốc tế, người thanh niên gốc Huế đã ra thăm Hà Nội trong chiến tranh trên tàu bay Mỹ. Hai năm sau khi đất nước hòa bình anh đã bị cầm tù chạy qua Hà Nội trên xe tải Liên Sô. Là người tù binh cấp úy 14 năm lính nhưng cũng đã được cộng sản cầm tù đủ 14 năm với hai lần biệt giam tưởng chừng ở địa ngục ngay trong cõi trần gian. Cộng sản Bắc Việt trân trọng lữ đoàn trưởng nhảy dù Trần Quốc Lịch nên cầm chân người thanh niên Hà Nội 14 năm. Rất công bình cộng sản cũng cầm chân Phan Nhật Nam đủ 14 năm. Chiến công hay tội ác của ông  Lịch là trận liệt từ 4 vùng chiến thuật và Hạ Lào Cam Bốt. Chiến công hay tội ác của Phan Nhật Nam là những tác phẩm phóng sự chiến trường đã đưa tên bạn bè của anh, đã đưa những địa danh chiến trường đất nước vào các trang sách bất tử.  Trở lại chuyện anh Lịch. Là sinh viên cũng trung đội 21, đại đội 6 của cái khóa Cương Quyết con nuôi của trường Đà Lạt, tôi xin chia buồn chuyện lẩm cẩm phiền phức từ ngày xưa. Tôi có gặp ông Khuyên trước khi ông ra đi. Vị tướng Nam Kỳ hết sức thanh liêm và tử tế. Tôi có khoe rằng cái khóa Bắc Kỳ của chúng mình luôn luôn sạch sẽ ngon lành. Ông hỏi khóa các anh còn được mấy người. Hay dở ra sao? Tôi nói rằng. Niên trưởng ơi. Giờ này còn nói gì xấu tốt. Còn thằng nào, chúng tôi chơi thằng đó.
Trở lại chuyện ông Nam.
Tôi chẳng hề quen biết ông, nhưng gặp Nguyễn bá Trạc mỗi ngày ở San Jose nên rất quan tâm. Năm 1993 khi Nam ra tù ở Lái Thiêu cơ quan IRCC cử ông phó của tôi là Nguyễn Đức Lâm trong phái đoàn quốc hội CA về Sài Gòn vận động tự do và đón tù “Cải Tạo” Nam còn nhớ không. Đức Lâm phỏng vấn trực tiếp thu thanh dem về cho tôi phát lại tại Hoa Kỳ. Mới đây lại đọc trên báo thấy viết rằng cậu luôn luôn có can xăng trên xe. Đã có nhiều lần định hỏa thiêu cho mùa hè Hoa Kỳ đổ lửa. Chúng tôi hơn các bạn 10 tuổi. Nên xin can. Ta không thể cưỡng mệnh trời. Giữa anh em. Xấu tốt không thành vấn đề. Còn thằng nào chơi thằng đó. Và xin nhớ cho rằng chiến hữu đã ra di. Dù là tướng lãnh hay chỉ là trung đội trưởng, chúng ta mãi mãi nhớ đến người đã chết. Bao nhiêu chiến binh hy sinh trên con đường Trần Quốc Lịch thăng cấp thì cũng có biết bao nhiêu bạn bè đã ra đi để Phan Nhật Nam hoàn thành các các phẩm trở thành tác giả. Còn thằng nào chơi thằng đó. Hãy sống đến giờ phút cuối cùng.
Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393

Một điều nhịn chín điều lành...

-- 

************************************
DIỄN ĐÀN PHỤNG SỰ XÃ HỘI
************************************

Thursday, October 3, 2019

CHUYỆN HÀ NỘI


 ( Thưa rằng : những chuyện rủi ro ( không may bất ngờ ) thì có nhiều lắm 
     nhất là thời chiến tranh , mà nhất là trong thời  Cộng sản !
      Nó  làm tan nát đời bạn , và cả đời con cháu bạn nữa !
      Nhân tiện , xin mời nghe  một câu chuyện liên hệ , do bạn tôi kể lại :
          " Tôi làm nghề dậy học , kể từ khi ra trường ( 1945 ) đến 1975 . 
            Vào khoảng 1949, bị Tây bắt ( thời kháng Tây , mà ) làm phu phen ,
           không bị đánh đập , nhưng lúc được thả ra cũng rã rời cả tinh thần lẫn vật chất .
             Chính quyền Việt minh vẫn cho đi dậy lại . Nhưng họ lại nghi là Pháp thả về là để dùng tôi như mật vụ . Và họ , VIệt minh - luôn luôn chủ trương giết lầm còn hơn tha lầm - nên quyết định thủ tiêu tôi - bằng cách -như thường lệ , không tốn đạn , không tòa án gì cả - bịt mặt , thọc tiết , cho trôi sông . May thay , một người trong đám hành hình , là một phụ huynh học sinh tốt , tìm cách cứu thoát,và khuyên nên tìm cách " vào thành " (nghĩa là
vào vùng quốc gia ) . Vào vùng quốc gia , đi dậy lại , Đến nghỉ hè 1954 , 
nghe tin vụ chia đôi đất nước ,  vội tìm cách  đưa gia đình (càng sớm càng tốt )  đến Hải phòng ,  đây là nơi thuận tiện nhất để đi vào Nam ; bởi lẽ ,nơi tôi dậy học , muốn tới Hải phòng , xe đò phải đi qua mấy cái cầu phao do quân đội làm - Nếu chậm chân , hoặc vì lý do chiến sự nào đó , cầu phao hư , thì kẹt lại và đời tàn (A) . Đến Hải phòng , trong khi mọi người còn nhẩn nha - vì còn cả mấy trăm ngày mới  thực hiện hiệp định chia đôi đất nước cơ mà ! , Thì tôi - nhân bộ giáo dục  Sài gòn cần gấp  một số giáo chức  -  xin xung phong vào Nam ngay .
                      Tôi là một trong số người vào Nam đầu tiên ! Cho đến năm 1975 , tháng tư , ngày 27 , 11 giờ đêm , do một cơ may , Trời giúp , cả gia đình được leo lên một phi cơ vận tải đi thoát Việt Nam - nhìn qua cửa sổ máy bay , phi trường Tân sơn nhất  đang bị pháo kic'h . 
                         Có thể đây là chiếc máy bay cuối cùng  được cất cánh ! Máy bay quân sự  không có gắn cách âm accoustic , tai gần như bị điếc ,                         nhưng biết mình một lần nữa  thoát khỏi địa ngục ! (A) như bao nhiêu triệu người đã quá tin chúng ! "

     Bài học xương máu , rút ra từ những chuyện này , là :
         " Cộng Sản trên toàn thế giới , là những kẻ tòan nói dối và lật lọng .
     ( chính những nhân vật đầu não Cộng sản cũ , có kinh nghiệm ,đã nói vậy )
        Không bao giờ nên tin chúng . Càng lánh xa chúng , càng xa , càng sớm,
          càng tốt . "
            
                     

----- Forwarded Message -----
From: Dung Le 
Sent: Wednesday, October 2, 2019, 11:55:36 AM CDT
Subject: Fw: [ykhoahue] CHUYỆN HÀ NỘI [1 Attachment]



----- Forwarded Message -----
From: Andrew Vu 
To: Andrew Trong Vu <
Sent: Wednesday, October 2, 2019, 10:07:41 AM CDT
Subject: [ykhoahue] CHUYỆN HÀ NỘI [1 Attachment]

 
[Attachment(s) from Andrew Vu included below]

Subject:  CHUYỆN HÀ NỘI


Day la chuyen cua mot nhan vat noi tieng cua Hanoi khi xua. Vi nghe theo du gio cua CS o lai Hanoi khong di cu nen lanh du. Ong la chu cua nhac sy Tham Oanh. Vo ong la chi em ruot voi bà Hoang Xuan Han. Nam 1980 ong ba sang duoc Paris chua benh, duoc ong ba HX Han cho o nho mot appartement cua ong Han. Ca hai sau nay deu chet tai Paris.
Bonne lecture !
Than ai
      


CHUYỆN HÀ NỘI
FB Ngô Nhật Đăng

Người Hà Nội cũ quanh phố cổ mấy ai mà không biết cái hiệu thuốc Tây có tên 8-3 của Công ty dược phẩm Hà Nội gần vườn hoa Bà đầm xòe sau 54 gọi là vườn hoa Cửa Nam, những năm 75, 76…nhà thuốc này và ở ngôi nhà bên cạnh rất đông người đến lấy thuốc có cái tên hơi lạ :“vi lượng đồng căn” chữa bệnh hen suyễn và vẩy nến, lạ hơn là người bốc thuốc không bao giờ lấy tiền. Người ta chỉ biết ông bà là công chức “thu dung” của chế độ cũ, ông làm ở nhà thương Phủ Doãn còn bà ở nhà thương phụ sản còn gọi là bệnh viện C. Không hiểu sao tôi rất thích từ “Nhà thương”, một từ phổ biến sau này bị đổi thành “Bệnh viện” nhưng những người già vẫn dùng từ nhà thương như : Nhà thương Phủ Doãn, nhà thương Khách (của người Hoa trước 54, sau này gọi là bệnh viện Hòe Nhai)…

Mấy ông già ở phố nhà tôi bảo : Ông ấy được gọi là Clark Gable vì đẹp trai và để bộ ria giống nhân vật chính trong bộ phim khét tiếng “Cuốn theo chiều gió” làm dậy sóng Hà Nội hồi trước 54. Bố tôi nói với tôi : Ông ấy tên là Thẩm Hoàng Tín học dược ở Paris, còn là Thị trưởng Hà Nội từ năm 50-52.

Một lần theo Thầy ra ngắm bóng nắng của cây Tháp Bút vào ngày Đoan Ngọ (vào ngày này đúng giờ Thìn bao giờ bóng của Tháp Bút cũng chấm vào đúng Đài Nghiên trên cổng vào đền Ngọc Sơn), Thầy tôi nói : Cây cầu Thê Húc này là do ông Thẩm Hoàng Tín cho xây lại sau khi Hà Nội bị tàn phá bởi “tiêu thổ kháng chiến” cùng với rất nhiều khu nhà bị đổ nát chỉ còn gạch vụn, Thầy tôi nói thêm : “ Ông Tín có công rất lớn trong việc xây dựng lại Hà Nội” rồi thở dài.

Sau này tìm hiểu về Thẩm Hoàng Tín tôi biết thêm ông còn là con nuôi cụ Hoàng Huân Trung Chủ tịch hội Khai Trí Tiến Đức. Chữ Hoàng trong tên ông là vì lý do này, cụ Hoàng Huân Trung lại là cha của Đô đốc Hoàng Cơ Minh người sáng lập phong trào kháng chiến tiền thân của đảng Việt Tân.

Vậy sao ông Tín lại ở lại mà không di cư vào Nam ?

Ngày đó trước làn sóng di cư ồ ạt, ông Hồ Chí Minh lo lắng bởi những nhà tư bản, chủ xưởng, chủ nhà máy…sẽ mang của cải ra đi, ông phái ông Nguyễn Duy Trinh vào Hà Nội gặp Thẩm Hoàng Tín, khen ngợi một người có tấm lòng “vì dân, vì nước” và mong muốn ông Tín ở lại và vận động những người “hằng tâm hằng sản” cũng ở lại để xây dựng đất nước đã được độc lập.

Ông Tín chấp nhận ở lại với cam kết tài sản của ông và của những người “tư sản dân tộc” sẽ không bị tịch thu. Rất nhiều người giàu cũng ở lại, họ nói “ Ông thị trưởng còn ở lại kia mà”, phần đông nghĩ dù Việt Minh cộng sản thì cũng là người Việt, có lẽ nào….

Và cái chuyện “Có lẽ nào ?” đã xảy ra. Chỉ kể riêng chuyện ông Tín.

Chuyện kể rằng, khi bị "kiểm kê" tài sản, dù ông Tín trước đó đã "tự nguyện hiến tặng" một số tài sản như nhà và xe. Ông Tín tìm gặp ông cụ để thắc mắc, ngài kịch sĩ vĩ đại gọi đàn em lên trách móc, vị đàn em nói : "Nhưng đó là ý nguyện của nhân dân". Lãnh tụ quay sang nói với khổ chủ :

- Chú thấy đó, đã là ý nguyện của nhân dân thì bác cũng chịu.

Và ông Tín cũng phải chịu. Sau này, đến năm 1980 ông Tín sang Pháp với con cái để “chữa bệnh” và mất ở Paris.

Ps : Ông bạn vong niên (sinh năm 1952) của tôi là con một nhà tư sản ở lại theo lời khuyên của ông Thẩm Hoàng Tín, ông “tư sản” này có một xưởng sửa chữa ô-tô vào loại lớn nhất miền Bắc. Năm 58, khi chứng kiến một cuộc biểu tình trên đường phố hô khẩu hiệu : “ Đả đảo Ngô Đình Diệm !”, đứng trên vỉa hè ông “ngứa mồm” nói : “ Ông Diệm làm gì mà đả đảo người ta?”.Thế là, nhanh như chớp, hai người đứng sau lưng ông bẻ quặt tay ông lại và dẫn đi, khi ra tù thì ôi thôi, tài sản đã bị tịch thu bởi ông chủ nó là “phản động”. Khi kể chuyện này với tôi, con trai ông giờ là một anh thợ cạo trên vỉa hè (gần cái garage của ông bố) chỉ cười như mếu. Anh là một Catholic chân chính nên không biết văng tục.

Ảnh : Ông bà Thẩm Hoàng Tín (năm 1952)

  

  •  

__._,_.___

Posted by: Hank Music 

Wednesday, October 2, 2019

KHẨU NGHIỆP: NGHIỆP NẶNG NHẤT CỦA ĐỜI NGƯỜI


KHẨU NGHIỆP: NGHIỆP NẶNG NHẤT CỦA ĐỜI NGƯỜI

1. NÓI NHỮNG LỜI TỔN THƯƠNG

Lời nói không giống con dao, nhưng nó lại là thứ làm người khác đau như bị dao cứa vào cơ thể. Lời nói có thể an ủi, động viên nhưng cũng có thể đẩy người khác đến bờ vực thẳm. Bởi vậy nên hãy học cách ăn nói, suy nghĩ trước sau. Đừng bao giờ làm tổn thương người khác rồi nói lời xin lỗi thế là xong.
    Nhưng người ăn nói lỗ mãng, không biết tôn trọng người khác thì có ngày hại chính bản thân của mình. Vậy nên không muốn mất đi phúc đức thì nhất định phải biết sửa cái miệng.
    Thí dụ: Đừng mắng chửi người khác bằng những lời lẽ như "đồ mất dạy", "thằng mất dạy" vì những lời mắng chửi như vậy không chỉ nhắm vào đối tượng mà cả cha mẹ của đối tượng. Anh chị không nên mắng em "thằng mất dạy, con mất dạy", vì mắng như thế là tự mắng cha mẹ mình. Tương tự, cha mẹ mắng con "mất dạy" là tự mắng mình.

2. NÓI DỐI, BỊA CHUYỆN

    Trên đời này, điều độc ác nhất chính là bịa chuyện, nói xấu người khác nhằm gây ly gián, mưu lợi cho bản thân. Tuyệt đối đừng bao giờ nói xấu sau lưng người khác, cũng đừng bao giờ bịa chuyện từ xấu thành tốt, từ tốt thành xấu để lừa dối người khác. Hãy thành thật, trung thực với những gì mình có.
    Độc ác không kém là những người thuộc thành phần “đạo thính nhi đồ thuyết”, nghe người khác kể chuyện, không rõ thực hư, lại đi loan truyền câu chuyện đó đến nhiều người khác, có khi còn thêm mắm thêm muối. Đến khi rõ thực hư, biết mình đã tiếp tay kẻ nói dối, phun nọc độc hại  người vô tội thì quá muộn.
    Trên đời này không thiếu những kẻ chuyện không nói thành có, chuyện có nói thành không. Chuyện thật đời thường: Một cụ cao niên, chủ một tờ  báo,  sợ không đủ sức chăm sóc bèn sang tờ báo cho cô em. Nghỉ ngơi gần một năm, thấy khỏe, tiếc của muốn lấy lại. Thay vì gặp cô em để dàn xếp, thương lượng cụ hô hoán với hàng xóm rằng "cô em tôi giựt tờ báo của tôi trong khi tôi bệnh nặng phải nằm bệnh viện". Sự thật: cụ chẳng nằm bệnh viện ngày nào và chẳng có ai cướp giựt tờ báo của cụ cả.
    Thêm một chuyện xảy ra ở đời thường về việc nói dối, bịa chuyện: Hai chị em không hợp tính tình, cô em tuổi đã trưởng thành dọn ra riêng từ lâu. Người chị chẳng nuôi cô em ngày nào, thế mà khi có ai hỏi đến lại than thở khóc lóc rằng “vì chữ hiếu với mẹ tôi nên tôi nuôi nó ăn học thành tài, dựng vợ gã chồng cho nó”. Bà còn trách móc cô em rằng “cô ơi, cô đã làm cho tôi bị người ta chửi cha mắng mẹ!” Sự thật: Bà chẳng nuôi cô em ngày nào, cô em tự lập gia đình,  cô chẳng làm gì để ai chửi cha mắng mẹ anh cô và cũng chẳng có ai chửi cha mắng mẹ anh cô cả.

3.  NÓI LỜI CAY NGHIỆT VÌ OÁN HẬN

Con người có xu thế khi gặp chuyện không may, khi gặp những khó khăn thì họ thường đổ lỗi tất cả, oán trách số phận, trách Trời trách Phật.
    Hãy nhớ rằng đã là cuộc sống thì nhất định phải có những khó khăn, vấp phải những mất mát trong đời cũng không có gì gọi là bất công. Bởi vì Phật đã giảng dạy về nghiệp báo rằng mỗi con người đều phải gánh chịu nghiệp báo cho những hành vi, ý nghĩa bất hảo từ kiếp trước.
    Chuyện thật: Chị kia mướn một nhân viên giúp việc. Trong việc làm, đôi khi có nhiều bất đồng, sinh ra cãi vả. Cãi vả sinh ra oán hận. Chị quyết định cho người nhân viên nghỉ việc. Đã cho người ta nghỉ việc từ lâu rồi nhưng nỗi oán hận vẫn không nguôi.  Oán hận làm mờ tâm trí chị đến nỗi chị không muốn nhìn mặt người nhân viên cũ, có khi còn buông ra những lời cay nghiệt,  đặt điều nói xấu vợ chồng người nhân viên đó hết sức thậm tệ.

4. ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC

Bạn không nên và cũng không có quyền đánh giá người khác, bởi bạn không phải là họ nên sẽ không thể biết hết về con người họ được. Cũng đừng tự nhận mình hoàn hảo rồi cho rằng người khác hèn kém, chắc gì bạn đã tốt còn họ hẳn là người xấu.
    Những kẻ chuyên đi đánh giá người khác suy cho cùng là không tự tin ở bản thân. Mặt khác nó khiến bạn trở thành người nhiều chuyện, chuyên đi xỉa xói sau lưng người khác. Lúc đó bạn cũng sẽ dần mất hết các mối quan hệ xung quanh, bởi chẳng ai muốn đến gần người nhiều chuyện như bạn./.
(Tổng hợp)

__._,_.___

Posted by: Vu Dinh Truong 

CÁCH CƯ XỬ CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ


CÁCH CƯ XỬ
CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ
Toàn Không
                                                                     
I). NHÂN DUYÊN:
     Khi Đức Phật đi giáo hóa đến ngự tại động Thất Diệp thuộc núi Kỳ xà Quật gần thành La Duyệt, một hôm con một Trưởng giả tên Thiện Sinh, sáng sớm tắm rửa xong, ra khỏi thành vào vườn cây, dùng hương lễ lạy sáu phương. Lúc ấy, Đức Phật đang ở tại động Thất Diệp, Ngài quán sát chúng sinh, thấy vậy, Ngài liền đến chỗ ấy (bằng thần thông) ngay khi Thiện Sinh vừa lễ lạy xong; khi gặp, Ngài nói với thanh niên rằng:
- Này con của Trưởng giả, tên gì? Vì sao sáng sớm đã đến vườn này lễ lạy các phương như thế?
     Khi đó, Thiện Sinh thưa:   
- Tên con là Thiện Sinh. Con lễ lạy do cha con trước khi qua đời có dặn rằng: “Nếu con có muốn lễ bái, trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, sau đó dùng hương lễ lạy sáu phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới”. Con không hiểu ý nghĩa, nhưng vì con vâng theo lời dạy của cha con, nên thường đến đây lễ bái.
     Đức Phật bảo:
- Có tên của những phương này, chứ không phải không có; trong pháp Hiền thánh của Ta, có đầy đủ ý nghĩa, không phải lễ sáu phương mà đầy đủ cung kính đâu.
     Thiện Sinh thưa:
- Cúi xin Ngài hãy vì con nói cách thức lễ sáu phương của pháp Hiền thánh.
     Đức Phật bảo:
- Hãy lắng nghe, hãy chú ý nghe, suy gẫm, ghi nhớ về vấn đề này, Ta sẽ nói cho.
- Thưa vâng, con đang muốn nghe.
II). PHÁP HIỀN THÁNH CHO PHẬT TỬ:
     Đức Phật giảng dạy:
- Nếu người nào biết bốn nghiệp: Sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói dối là làm ác; nếu người nào biết bốn chỗ tham dục, sân hận, ganh ghét, tà kiến là ác hạnh. Người ấy không làm ác, tránh ác hạnh, kính lễ sáu phương, chẳng những đời này được phúc lành, đời sống vững chãi, mà đời sau hưởng quả báo tốt đẹp vô cùng; người ấy được bậc trí khen ngợi, danh dự ngày thêm lớn như mặt trăng ngày rằm tròn sáng; còn người không biết tránh bốn nghiệp làm ác, bốn hạnh ác, dù có lễ lạy sáu phương thế nào đi nữa, cũng vẫn tổn giảm như mặt trăng cuối tháng.
1). SÁU NGHIỆP TỔN HẠI:
     Lại nữa, nếu người nào có sáu nghiệp tổn hại là:
1- Đam mê rượu chè sẽ sinh bệnh, hay gây gỗ, tiếng xấu đồn xa, trí tuệ giảm, gia sản tiêu mòn.
2- Người nào ham mê cờ bạc, gia tài không thể giữ được.
3- Người nào say mê kỹ nữ, tiền của tiêu tán.
4- Người làm bạn với người ác dễ sinh khinh lờn, dụ người nhà khác mưu lợi về mình.
5- Người nào phóng đãng không giữ được của cải, không giữ được thân mình, thường sinh dối trá.
6- Người nào lười biếng không chịu làm việc, sản nghiệp không bền.
     Ngược lại: biết tránh sáu nghiệp tổn hại của cải, gọi là người biết sống. Khi tránh xa sáu nghiệp mất mát tài sản như thế, được người trí khen ngợi.
2). BỐN HẠNG OAN GIA: 
     Đức Phật dạy tiếp:      
- Này Thiện Sinh, có bốn hạng thân cận oan gia nên biết rõ, nên tránh, đó là:
1. Hạng kính sợ (uý phục) là hạng người trước cho sau đoạt lại, cho ít lấy lại nhiều, vì sợ nên làm quen, vì lợi nên làm thân.
2. Hạng môi mép (mỹ ngôn) là hạng người lành ác đều thuận theo, tránh xa khi thấy người khác gặp nạn, âm thầm săn đón lúc thấy có lợi, bài xích chê bai khi thấy bất lợi cho mình.
3. Hạng giả vờ kính thuận là hạng người trước dối trá, sau dối trá, hiện tại dối trá; thấy có một tí lỗi đã vội tránh xa, thấy có lợi thì săn đón thân thích.
4. Hạng bạn ác là hạng chỉ là bạn lúc uống rượu, đánh bạc, du hí, dâm dật, mưu đồ việc ác.
3). BỐN HẠNG NÊN THÂN CẬN: 
     Ngược lại, có bốn hạng người nên thân cận, nên gặp, đó là:
1- Hạng người tự biết tránh xa làm xằng bậy, ngăn cản khi thấy người khác làm ác, chỉ bày cho người những điều ngay thẳng, có lòng giúp đỡ, cứu hộ người.
2- Hạng người có lòng thương xót, là người vui mừng khi thấy người khác được lợi, lo buồn khi thấy người gặp nạn, khen ngợi khi thấy người có đức tính tốt, ngăn cản khi thấy người khác nói ác.
3- Hạng làm lợi ích người, không cho người khác phóng dật, bê tha, buômg thả để khỏi hao tài tốn của, nói năng khiến người khác không sợ hãi.
4- Hạng người đồng sự là người không nề gian khổ cực nhọc vì người khác, không tiếc của vì người khác, khuyên bảo người khi ở chỗ vắng, giúp người khỏi sự lo lắng.
III). Ý NGHĨA LỄ SÁU PHƯƠNG:  
      Đức Phật giảng tiếp: Phải biết rõ sáu phương là những gì? Đó là:
1). PHƯƠNG ĐÔNG LÀ CHA MẸ:
     Bổn phận làm con phải kính thuận với cha mẹ, gánh vác công việc cho cha mẹ, cung phụng hiếu dưỡng, không để cha mẹ lo lắng thiếu thốn; khi làm điều gì phải thưa với cha mẹ biết, cha mẹ làm điều gì không được chống báng, cha mẹ làm việc lành không được ngăn cản.
     Ngược lại, bổn phận làm cha mẹ, phải ngăn cản không cho con nghe điều ác, không cho con làm điều ác, chỉ dạy con làm điều lành. Tạo cho con làm nghề chính đáng. Thương con thắm thiết, đối xử bình đẳng giữa các con, tùy thời cung cấp sự cần thiết của con. Tạo cơ hội thuận lợi cho con thành người chân chính.
     Nếu con kính thuận cha mẹ, cha mẹ thương yêu thắm thiết con cái như thế, phương Đông sẽ được yên ổn tốt đẹp, không còn gì đáng lo ngại nữa.
2). PHƯƠNG NAM LÀ THẦY DẠY:
     Học trò kính trọng thầy dạy, tôn trọng quý trọng thầy, học hỏi, chăm chỉ nết na nghe lời thầy; không phá phách, không chống đối, ghi nhớ kỹ không quên những điều thầy dạy bảo, chăm sóc giúp đỡ khi thầy cần đến.
     Đối với thầy phải dạy có phương pháp (sư phạm), làm cho học trò hiểu được lời dạy; dạy những điều mới lạ chưa biết, làm sáng tỏ điều hiểu biết của học trò. Bậc thầy phải giới thiệu bạn lành bạn tốt cho học trò của mình, đem hết sự hiểu biết cuả mình truyền dạy lại không giấu giếm; bậc thầy còn phải công bằng, đạo đức, làm gương  tốt, không lươn lẹo, không bất công thiên vị.
     Nếu học trò kính trọng cung phụng thầy, nết na chăm chỉ học hành; bậc thầy thương yêu dạy bảo đúng với nhiệm vụ làm thầy, phương Nam được yên ổn không còn lo sợ nữa.
3). PHƯƠNG TÂY LÀ VỢ CHỒNG:
     Chồng đối với vợ phải nhã nhặn thanh tao, oai nghiêm đĩnh đạc, ăn mặc đúng lúc tùy thời, nói năng phải đạo; không tỏ vẻ khinh vợ, giao phó việc nhà, trung thành với vợ, và vui vẻ với quyến thuộc của vợ.
     Vợ đối với chồng nói lời hoà nhã, thức ngủ tuỳ thời, kính nhường tuỳ thuận, vui vẻ dịu hiền, nói năng khiêm cung; giữ gìn của cải và siêng năng làm tròn phận sự trong nhà, vui vẻ với quyến thuộc của chồng, và trung thành với chồng.
     Nếu vợ chồng lấy lễ nghĩa đối với nhau, đồng thuận như thế, phương Tây được yên ổn, không còn lo sợ.
4). PHƯƠNG BẮC LÀ ANH
     EM, BÀ CON, BẠN BÈ:
(Còn tiếp)



            CÁCH CƯ XỬ
     CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ
                                        Toàn Không
                                          (Tiêp theo)
4). PHƯƠNG BẮC LÀ ANH
EM, BÀ CON, BẠN BÈ:
     Làm người phải lấy sự giúp đỡ lẫn nhau, từ tiền bạc, đến công sức; nói lời nhu hòa xây dựng, làm việc lợi ích cho nhau; chung làm chung hưởng, không hề dối trá khinh khi. Ngoài ra, anh em, bà con, bạn bè còn phải bảo vệ bao bọc lẫn nhau, can ngăn phung phí hao tài tốn của. Tùy thời khuyên bảo lẫn nhau, khen ngợi việc làm lành; quảng đại, khoan hồng, sẵn sàng làm việc phải cho nhau. Thấy ai có việc liền ra tay giúp đỡ, không đợi cầu khẩn.
     Ngược lại, anh em, bà con, bạn bè được giúp đỡ có bổn phận hết lòng gìn giữ cho khỏi hao tổn tài sản. Bảo vệ lại lúc cô đơn, hoặc sa ngã khủng hoảng, và luôn luôn nhã nhặn khiêm tốn.   
      Nếu anh em bà con bạn bè với nhau biết thân giao kính thuận như thế, phương Bắc được yên ổn, không còn lo sợ.
5). PHƯƠNG DƯỚI LÀ NGƯỜI DƯỚI
     QUYỀN, GIÚP VIỆC, LÀM CÔNG:
     Người trên, người cai trị, người chủ chỉ bảo phân công tùy khả năng mà giao công việc thích hợp, đúng lúc cho ăn, tùy thời thưởng công lao. Khi bệnh cho dưỡng sức, thuốc thang điều trị đầy đủ; không bắt làm qúa sức, qúa giờ; ân cần hỏi han giúp đỡ khi gia đình người làm, cấp dưới gặp hoạn nạn.
     Ngược lại, người làm, kẻ dưới phải làm việc đúng giờ, phụng sự đầy đủ, làm việc cẩn trọng có thứ tự; không tham lam, của không cho không được lấy, khen ngợi công đức người chủ, bậc trên; không nói xấu sau lưng mà phải giữ gìn danh giá cho chủ, cấp trên, không phá hoại tài vật của chủ.
     Nếu chủ cấp trên đối với người làm cấp dưới, và người làm cấp dưới đối với chủ cấp trên được như thế, phương Dưới được ổn cố, không còn lo sợ.
6). PHƯƠNG TRÊN LÀ BẬC TRƯỞNG
     THƯỢNG, BẬC TU HÀNH:
     Phàm là người phải biết tôn kính các bậc trưởng thượng, các bậc tu hành đức độ. Phải biết nói điều thiện, biết làm điều thiện, đúng thời cung kính, đúng thời bố thí, nói năng lễ độ kính trọng.
     Ngược lại bậc trưởng thượng, bậc tu hành phải dạy bảo điều lành, dạy giữ tâm lành, ngăn cản không cho làm ác. Dạy điều lành chưa từng được nghe, làm cho hiểu điều đã nghe chưa hiểu. Hết lòng thương mến, chỉ bảo điều hay lẽ phải.
     Nếu mọi người đều làm được như thế, phương Trên được yên ổn, không có điều gì lo sợ nữa; này Thiện Sinh, như thế mới đầy đủ ý nghĩa lễ sáu phương.
     Bấy giờ, Thiện Sinh chắp tay cúi đầu vái và nói:
- Thưa Đức Thế Tôn, hay quá, thật phúc đức cho con biết bao, thật quá sự tưởng tượng mong ước của con; Ngài đã dẫn giải lời dạy đầy đủ về lễ sáu phương, lại dạy pháp Hiền thánh chưa từng được nghe, khiến con như người bị té ngã vập mặt xuống đất được nâng dậy. Những gì che đậy bưng bít không thấy được mở ra thấy rõ ràng, như người đang mê được tỉnh ngộ, như trong nhà tối mù mịt được thắp ngọn đèn sáng thấy hết mọi vật. Đức Thế Tôn cũng như thế, Ngài dùng vô số phương tiện khai thị (mở mắt) cho kẻ phàm phu ngu muội như con, vì con làm mà không hiểu nghĩa lễ sáu phương là như thế nào. Nay con đã hiểu ngọn ngành, con xin hứa ghi nhớ và thực hành tất cả những điều Ngài dạy. Con xin được quy y Ngài, quy y giáo pháp của Ngài, và quy y đại chúng Tăng đoàn của Ngài kể từ ngày hôm nay cho đến hết đời.
Kết luận: Chúng ta thấy lời giảng dạy của Đức Phật rõ ràng minh bạch như mặt trời giữa buổi trưa, không một gợn mây, sáng trưng, đức độ toàn vẹn. Đây không phải chỉ cho hàng Phật tử, mà cho toàn thể nhân loại học hỏi, noi theo, và áp dụng vậy.
IV). TRAU DỒI KIẾN THỨC
       BẰNG NGŨ MINH:
   Ngoài ra, người Phật tử còn phải trau dồi trí tuệ một cách chu đáo bằng “Ngũ minh” là năm trí tuệ trong sáng, đó là:
1). Y PHƯƠNG MINH (Trí tuệ về Y Học): Người Phật tử nên học về phương pháp chữa bệnh, chữa cả về thân bệnh và tâm bệnh; chữa bệnh về tinh thần là cần thiết, nhưng những phương thuốc chữa thân bênh không phải là không quan trọng. Người Phật tử nên học về thuốc để có thể thực hành công tác xã hội, rất thích hợp cho lòng Từ Bi; nếu là thầy thuốc hay Bác sĩ, người Phật tử đã có trong tay một phương tiện hành đạo quan trọng. Đem sự an ủi đến cho người bệnh, đó là thể hiện một phần nào tinh thần cứu tế, cứu đời tích cực.
2). CÔNG XẢO MINH (Trí tuệ về công nghệ, kỹ thuật, khoa học): Người Phật tử cần học tập công nghệ, kỹ thuật cao, để có phương tiện hành đạo rộng lớn. Cần phải có đủ điều kiện kinh tế để cứu giúp người nghèo đói tật nguyền, người Phật tử dùng phương tiện công xảo kỹ thuật để phục vụ con người, chứ không phải dùng nó để gây đau khổ cho con người và các loài sinh vật.
3). NHÂN MINH: Đây là “Luận lý học” của Phật giáo. Người Phật tử cần phải học phương pháp luận lý, học lập thuyết vững vàng, dựa trên giáo lý một cách rõ rang; luận lý này chủ trương lập thuyết bằng “Nhân”, tức là bằng cách suy cứu đến “lý do”. Lập luận có “thuận”, có “nghịch”, và phải có đầy đủ ba thành phần, đó là:
1- Tôn: Là chủ trương của mình.
2- Nhân: Là lý do thành lập chủ trương ấy.
3- Dụ: Là sự kiện đem ra để chứng minh.
Thí dụ: - Chủ trương (Tôn): Em A bị đói.
       - Lý do (Nhân) : Em A không ăn.
       - Sự kiện chứng minh (Dụ): Phàm ai không ăn đều bị đói.
    Phàm ai không ăn đều bị đói, em A không ăn nên em A bị đói. Đây là lập luận “thuận” (Đồng dụ), trái lại:
    Phàm ai ăn đều không bị đói, em B, em C, D v.v… ăn, nên đều không bị đói, đây là lập luận “nghịch” (Dị dụ).
    Chúng ta thấy “Luận lý nhân minh” giống nhưng tinh vi và đầy đủ hơn “Luận lý học hình thức” (Syllogism), vì nó có đầy đủ tính cách diễn dịch và quy nạp (Diễn dịch: Do một nguyên lý chung mà suy đoán ra những sự thực riêng. Quy nạp: Suy luận từ sự thực riêng mà suy cứu ra nguyên tắc chung).
    Ba phần phải có liên lạc mật thiết với nhau: Chủ trương (Tôn) và Lý do (Nhân) phải thuận với nhau; biết “Nhân Minh” kỹ càng, có thể phán đoán “Chân, Ngụy” dễ dàng, không bị mắc kẹt vào các câu hỏi khó và giải đáp được dễ dàng.
4). THANH MINH (Ngôn ngữ học): Đây là môn học về văn tự, tiếng nói, văn học. Người Phật tử không những có kiến thức về ngôn ngữ mẹ đẻ, hiểu giáo lý, biết trước tác, diễn giảng; người Phật tử còn phải học hỏi ngoại ngữ nữa, để phiên dịch, trao đổi văn hóa với các nước khác.
5). NỘI MINH (Nội điển Kinh sách): Người Phật tử cần phải có kiến thức về Nội Kinh điển Phật giáo: Nghiên cứu Kinh sách đầy đủ, rồi đem giáo pháp truyền lại cho người khác và thực hành.
    Người Phật tử không nên để tình trạng “mê tín dị đoan” lẫn vào đạo, mà nhiều người lầm tưởng đó là của Phật giáo; người Phật tử phải hiểu rõ Kinh điển của Phật giáo một cách tường tận để ngăn chặn những sai lầm như vàng mã, đồng bóng, cúng sao cúng hạn, dời mồ coi mả, giết hại sinh vật để cúng ma vái quỷ v.v...
    Nên nhớ, sự thờ cúng Tổ Tiên, Ông Bà chỉ là tượng trưng sự tưởng nhớ các bậc tiền nhân sinh thành; các vị đã có công gây dựng tiền đồ cho thế hệ về sau. Chúng ta thờ cúng để tỏ lòng tôn kính, tưởng nhớ, biết ơn, và noi theo v.v…. Chúng ta không thể lễ lạy van vái để xin ban ân huệ này nọ được. Sự thờ cúng Tổ tiên không khéo biết có thể rơi vào mê tín mà chúng ta không biết không hay; đó là ý nghĩa của việc thờ cúng Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ v.v…. mà người Phật tử cần phải biết rõ.
    Tóm lại, người Phật tử nào đạt được “Ngũ Minh” nhiều chừng nào, người ấy có trí tuệ đức độ nhiều chừng ấy, và đạt gần quả vị giải thoát hơn.,.




__._,_.___

Posted by: Tien D
__._,_.___

Posted by: Tien Do 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List