Popular Posts

Wednesday, May 18, 2016

NẾU VUA TỰ ĐỨC NGHE THEO NGUYỄN TRƯỜNG TỘ THÌ VIỆT NAM NGÀY NAY VƯỢT XA NHẬT BẢN

 
Cam on bài viêt Dang Quang Chinh :


«Ông thông minh, hc gii, nên được truyn tng là " Trng T ". Thế nhưng, ông không đ đt gì, có th vì ông là người  Công  giáo nên không được đi thi, hoc là ông không mun đi theo con đường khoa c  »



....Hòa ước Giáp Thân 1884 hay còn có tên là Hòa ước Patenôtre (Pa-tơ-nt), là hòa ước cui cùng nhà Nguyn ký vi thc dân Pháp vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 ti kinh đô Huế. Điu 19. Các điu ước quc tế hin nay s thay thế các điu ước được ký kết ngày 15 tháng 3, ngày 31 tháng 8 và 23 tháng 11 năm 1874.(6). Vi Hòa ước này, Vit Nam càng lúc càng chu s đô h nng n hơn ca Pháp.  " .



Phía VN có Phm Thn Dut , Tôn Tht Phan , Nguyn Văn Tường - phia Pháp đó Jules Patenôtre ký . Hòa ước này có hai đim chính :

1)  Triu đình Huế phi chm dt bt giết người Công Giáo .
2)  VN ph
i chp nhn Pháp trong vai trò chánh ph Bo H -  Governement De Protectorat  .

    Tiếc thay Nhà Yêu Nước Nguyn Trường T  .


On Tuesday, May 17, 2016 4:35 AM, "chuong ngoc van dam [ChinhNghiaViet]" <> wrote:

 
Tiến sĩ "N" (6)

Trường hp Nguyn Trường T khá đc bit vì ông không phi là mt khoa bng ...nhưng, chúng ta có th nói đó là mt người có kiến thc đúng nghĩa.

«Ông thông minh, h
c gii, nên được truyn tng là "Trng T". Thế nhưng, ông không đ đt gì, có th vì ông là người Công giáo nên không được đi thi, hoc là ông không mun đi theo con đường khoa c» (1)

Ông không là Tiến sĩ, nhưng tm nhìn ca ông rt xa khi nhn thc được bi cnh và khuynh hướng vn đng chung ca thế gii thi by gi, Nguyn Trường T có nhng nhn đnh:

«Ngày nay các n
ước phương Tây đã bao chiếm sut t Tây Nam cho đến Đông Bc, toàn lãnh th châu Phi cho ti Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Đin, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lp, Tro Oa, L Tng, Cao Ly, Nht Bn, Trung Quc và các đo ngoài bin, k c Tây châu, không đâu là không b chn hng bám lưng. Nước Nga thì t Tây Bc đến Đông Nam gm tt c các nước Đi Uyn, Ct Li Cán, Mông C và các x Bc Mãn Châu, không đâu là không chiếm đt và nô dch dân nhng nơi đó. trên lc đa, tt c nhng ch nào có xe thuyn đi đến, con người đi qua, mt tri, mt trăng soi chiếu, sương mù thm đng thì người Âu đu đt chân đến, như tm ăn cá nut, đâu thun vi h thì phúc, ch nào trái vi h thì ha; ai hòa vi h thì được yên, ai c li thì dùng binh lc giao tranh; trong thiên h không ai dám kháng c li h. Song tt c đu không được phúc đáp. Đu năm 1864, ông li gi cho đi thn Trn Tin Thành mt bn điu trn na (hin tht lc) đ thuyết phc Triu đình Huế nên tm hòa vi Pháp và m rng bang giao» (2).

Được thế, nh ông biết tiếng Pháp. Trong bài "Trn tình" (viết xong ngày 7 tháng 5 năm 1863), Nguyn Trường T phân trn rng: lúc bt đu khi hn (đu năm 1859, tc lúc quân Pháp chun b tn côngthành Gia Đnh), quân Pháp có mi ông cng tác, nhưng ông mt mc t chi. Sau khi Đi đn Chí Hòa tht th (tháng 2 năm 1861), ông thy rng phi tm hòa theo đ ngh ca Pháp, đ dưỡng quân và cng c lc lượng. Chính vì thế mà Nguyn Trường T đã nhn làm t dch cho Pháp đ mong góp phn vào vic hòa đàm.

"Sau khi thôi vi
c, Nguyn Trường T đã dn hết tâm trí vào vic tho kế hoch giúp nước. Nh s hiu biết sâu rng v các phương dinchính tr, kinh tế, văn hóa, khoa hc k thut... đến đu tháng 5 năm 1863, thì ông đã tho xong 3 bn điu trn gi lên Triu đình Huế là: "Tế cp lun", "Giáo môn lun" và "Thiên h phân hp đi thế lun"(3)

Nguy
n Trường T đã gi liên tiếp ba bn điu trn cho đi thn Trn Tin Thành, và hai bn điu trn cho đi thn Phm Phú Th, đ nh đưa các vn đ quan trng lên vua và Triu đình. Hai văn bn gi cho ông Th, vì chưa tìm thy nên không rõ ni dung. Còn ba văn bn gi cho ông Thành, thì có th là các bài: "Góp ý v vic mua và đóng thuyn máy" (cui 1864), "Góp ý v vic đào to người điu khin và sa cha thuyn máy" (tháng 2, 1865) và "Khai hoang t" (tháng 2, 1866) (4)

Cũng trong thi gian trên, ti nước Nht đã có s thay đi rng ln thi Minh Tr Thiên Hoàng (3 tháng 11 năm 1852 30 tháng 7 năm 1912).

T
s thay đi trong thi gian đó, Nht Bn đã dn dn tr thành mt cường quc Châu Á. Cũng chính t s canh tân đt nước như thế, dù bi trn sau thế chiến th hai, ngày nay Nht vn là mt trong nhng cường quc trên thế gii, ít ra v mt kinh tế.

Th
t ra, tuy s canh tân được mang tên ông vua Nht bn, nhưng bi cnh lch s và s đóng góp ca gii quan li (nht là ca gii trí thc) trước thi Minh Tr, có phn đóng góp quan trng hơn. Năm 1854, Matthew C. Perry li mang mt hm đi 9 chiếc tàu chiến, bt chính quyn Mc ph ký mt hip đnh buôn bán bt bình đng, nhưng chế đ Mc Ph trước đó 200 năm, tuy bài ngoi, nhưng vn còn giao thương vi mt s các nước Tây Phương; đc bit là Hòa Lan.


Tình trng Vit Nam li trái ngược như thế. Vic cm đo Thiên chúa khá gt gao và tuy cũng biết đến các nước Tây Phương khác, nhưng chính sách bế quan ta cng gay gt hơn nhiu. Đã thế, nhng đóng góp canh tân, chng hn như trường hp ca Nguyn Trường T, không được s quan tâm ca triu đình. 

«Nh
ưng sau khi đ trình lên cách gii quyết, thì không được thi hành nên ông có l chán nn, và xin v Ngh An (ngày 10 tháng 4 năm 1866) [20]. Trong bc thư gi Trn Tin Thành (viết t Ngh An đ ngày 15 tháng 6 năm 1866), thì tâm trng ca ông lúc by gi khá u ut. Mt phn vì ông nóng lòng vic canh tân đt nước, mt phn vì thy vua và mt s quan li bo th hãy còn nghi k mình» (5)

Tuy nhiên, công cuc vn đng ca ông vn được duy trì mt cách nhn ni, cho đến năm 1871. Ông mt đt ngt vào năm mi 41 tui.

Hòa
ước Giáp Thân 1884 hay còn có tên là Hòa ước Patenôtre (Pa-tơ-nt), là hòa ước cui cùng nhà Nguyn ký vi thc dân Pháp vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 ti kinh đô Huế. Điu 19. Các điu ước quc tế hin nay s thay thế các điu ước được ký kết ngày 15 tháng 3, ngày 31 tháng 8 và 23 tháng 11 năm 1874.(6). Vi Hòa ước này, Vit Nam càng lúc càng chu s đô h nng n hơn ca Pháp. 

Mt trí thc vì căm phn vi triu đình, tìm cách chng li nhà vua đến ni b x chết (Cao Bá Quát) đến mt trí thc (dù không bng cp cao) nhưng quan tâm đến vn mnh ca đt nước nên đã tìm đ cách đ triu đình làm mt cuc thay đi, cho kp đà phát trin ...mi người mt cách thế; nhưng nói cho cùng, đó mi chính là thái đ rt đáng được kính trng ca k sĩ. Còn nhng Tiến sĩ "N" thi bui ngày nay, không biết có xng danh là mt k sĩ, hiu theo cách như hai trường hp được k đến như thế không?!...




Đng Quang Chính

On Tuesday, 17 May 2016, 10:01, "tran lien [DienDanCongLuan]" <> wrote:

 


Ông Nguyn Trường Tô đuoc Vua T Đc c sang Pháp . Sau khi quan sát các tiến b khoa hc , phát trin kinh tế, quân đi ca nước văn minh nht Âu Châu thi by gi  , ông v nước và viết bn điu trn gm by đim dâng lên vua T Đc , đ ngh vua phi cho thi hành ngay đ canh tân đt nước .-- tránh cho đt nước  khi s đô h ca Thc Dân Pháp sau này.

  Than ôi , Vua T Đc có nghe đâu ...!!



image


             Nguyễn Trường Tộ – một người Công giáo hết lòng vì đất nước

On Friday, February 19, 2016 5:58 PM,  "luu vu    wrote:

 



----- Forwarded Message -----
From:   "'dinhthong3Gmail' 
 

                   Cm Ơn LM Alexandre De Rhodes khi viết ch Quc Ng

       Điểm nổi bật là các trường học ,các bệnh viện ,các cơ sở từ thiện do  Giáo Hội Công Giáo lập ra và
     trông  coi chỉ có giúp DÂN.
Từ ngày Nhà Nước đòi Quản Lý  hiện tượng Trộm Cắp xẩy ra thường xuyên Khi kho thuốc của Bệnh Viện Hồng Bàng do 1 soeur ( nữ tu) coi không mất 1 viên thuốc,sau đổi tên thành BV Phạm Ngọc Thạch kho thuốc do 1 Cán Bộ quản lý khi kiểm tra thuốc Rifadine ( thuốc chữa lao đắt tiền mất gần hêt .
Nhìn tinh thần và cách phục vụ của Cán Bộ Y Tế Nhà Nước với các Tu Sĩ  tại các Trại Phong ( Cùi ) tại Qui Hòa (Qui Nhơn), Núi Sạn ( NhaTrang ) Di Linh ( ĐaLạt ) ta thấy sự khác biệt, một bên vì bổn phận ( bắt buộc ) một bên vì Tình Yêu Thiên Chúa.
Gương Giám Mục Cassaigne, Mẹ Mơi, Linh Mục Bác Sĩ Cổ Tân Hưng: cả cuộc đời phục vu người phong
cùi đáng kình phục.


Xin chuyen de nhan xet kinh nghiem :

---------------

TAI  SAO  CS  KHO KIÊM  SOAT  NHÀ  THO  CG  ?

Đạo CG người ta có tổ chức chặt chẽ và đào tạo trình độ học vấn cao.

Một Linh Mục phải học Tiểu Chủng Viện, Đại CV.. Khi lên bậc Đại học, phải học Bốn năm Thần Học và bốn năm Triết học. Ngoài ra còn tư cách đạo đức và nhiều thử thách trước khi được chịu chức.


Hàng Giám Mục tiêu chuần khó khăn hơn  -  Đại đa số có ít nhất một bằng Tiến Sĩ Gia'o Lua^t  hoặc Thần Học. Quan trong vẫn là đạo đức và uyên thâm chức nghiệp.




           Cm Ơn LM Alexandre De Rhodes khi viết ch Quc Ng

Mới đây một nhóm người Việt đi tìm mộ Cha Alexandre De Rhodes . Ngài chết ở Iraq .
Có thể do bị truy lùng bắt đạo gắt gao VN , nên LM Al. De Rhodes phải qua truyền giáo ở Iraq . Ngày nay Iraq đã cố gắng nhưng cũng chưa có mẫu tự La Tinh abc như tiếng Việt chúng ta.
   Các nhà truyền giáo Dao Chua Âu Châu phát minh ra tiếng Việt lúc đầu chi?  nhắm truyền giáo trong xóm làng nghèo VN , hoặc giảng dạy trong các nhà thờ CG mà thôi .


 Hơn  hai  thế  kỷ sau ,  các nhà ngôn ngữ VN mới thấy mẫu tự La tinh hay hơn nên tìm cách loại bỏ tiếng Hán của người Tàu và thay cách viết tiếng Nôm bằng chữ quốc ngữ như ta thấy ngày nay . Tờ báo đầu tiên dùng chữ quốc ngữ La Tinh abc là tờ Gia  Đi.nh Báo  phát hành năm 1860. 

Người Công giáo VN cám ơn nhiều hơn vì có chữ quốc ngữ liên tục từ  thế kỷ  17 .
Hơn nữa các nhà truyền giáo Âu Châu đã chịu hy sinh rất nhiều vì phải bỏ đời sống an lành sung sướng ở quê nhà , phiêu lưu nguy hiểm vào các xóm nghèo VN . 

Rất nhiều nhà truyên giao Âu Châu nhu Hoà Lan , Y , Tây Ban Nha ,  Phap , Bô Dào Nha ...  đã bị các vua chúa VN giết chết .
               Ba cống hiến quan trọng của Công giáo

http://baomai.blogspot.com/



Tôi là người ngoài Công giáo, nhưng rất tôn trọng các tín ngưỡng.
Những xung đột giữa cộng đồng Công giáo với nhà cầm quyền trong thời gian qua là điều không đáng có. Hơn thế, sau những xung đột đó, một số cán bộ có chức sắc đã có những đánh giá thiếu khách quan về vai trò của giáo dân với đất nước. Điều này không có ích cho khối đại đoàn kết dân tộc.
Để tạo được sự đồng thuận, không có cách nào khác là phải có cái nhìn khách quan về vai trò của các tôn giáo. Xin được điểm qua một vài cống hiến của bà con giáo dân với sự nghiệp chấn hưng nước nhà mà tôi có dịp chứng kiến suy ngẫm.

    1-  Chữ quốc ngữ và nền văn minh của nhân loại


image



               CHỮ QUỐC NGỮ LÀ NIỀM HÃNH DIỆN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO

Trước khi các nhà truyền giáo vào Việt Nam , hàng ngàn năm qua, người Việt vẫn dùng chữ Hán hoặc bằng chữ Nôm
 trong các giao dịch. Nhưng đa số người Việt Nam mù chữ và không thể đọc và viết được chữ Tàu, vì hệ thống chữ viết này quá phức tạp.

Từ thế kỷ XVI, cùng với các phát kiến hàng hải, các nhà truyền giáo theo các tàu buôn đến Việt Nam , họ là người tiên phong trong việc dùng mẫu tự La-tinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Đầu năm 1625, Linh Mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam , đã có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ La-tinh rồi.

image

Trên cơ sở đó, Alexandre de Rhodes (1591- 1660) tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cách diễn đạt này, để rồi năm 1651, lần đầu tiên ông cho xuất bản cuốn tự điển VIỆT-BỒ-LA tại Roma. Đây được coi là năm sinh chính thức của chữ Quốc Ngữ. Cuộc khai sinh diễn ra tại nhà in Vatican . Chính nơi nhà in Vatican mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình. Như vậy, chữ quốc ngữ từ chỗ là công cụ truyền giáo trong các nhà thờ, đã từng bước trở thành ngôn ngữ cho toàn dân Việt Nam .

Ngày nay, không ai có phủ nhận sự thuận tiện và văn minh của chữ Quốc ngữ, chính nó đã góp phần lớn đưa đất nước VN hội nhập với thế giới dễ dàng, đơn giản hơn nhiều ngôn ngữ khác. Những ngôn ngữ chính dùng trên thế giới như Tiếng Anh, Tiếng Pháp… sẽ trở nên ít phức tạp hơn cho người học biết chữ quốc ngữ, so với người dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Nhưng nguồn gốc và công lao của người sinh ra ít được người ta nhắc đến, đó là sự thiếu công bằng
.

image 

Cùng với sự xuất hiện chữ quốc ngữ, những nét văn minh phương Tây cũng dần dần được du nhập vào VN đi kèm với Công giáo. Những hủ tục mê tín, dị đoan như cúng tế, bói toán… khi có bệnh được thay vào đó là bệnh viện, nhà thương bố thí, trường học cho người nghèo… Trước đây, nơi nào có Nhà thờ, thì ở đó có thêm trường học, nhà thương cho những người không có khả năng chữa bệnh hoặc học hành.

Ngoài ra, nếp sống quan niệm về cuộc sống cũng dần dần được đưa vào một cách khoa học, thiết thực hơn bởi các sản phẩm văn minh phương Tây mà những người truyền giáo mang đến cho đất nước An Nam theo bước chân truyền đạo của họ.

Nền văn hóa làng xã, cục bộ địa phương “sau lũy tre làng” cũng dần dần được thay đổi với cách nhìn toàn diện và tổng thể hơn. Với người Công giáo, bất cứ chỗ nào có giáo dân cũng là anh em, với mọi người đều là con Thiên Chúa dù khác đạo. Điều này dễ chứng minh nếu nhìn thấy bà con công giáo khắp nơi đã đổ về Thái Hà, về Xã Đoài… khi có những biến cố mà về mặt xã hội thì không liên quan đến những người ở xa xôi.

image

Những hoạt động của các Dòng tu trong Công giáo như Dòng Chúa Cứu Thế với linh hướng phục vụ người nghèo, Dòng Phanxicô theo linh hướng “Sống với tinh thần nghèo khó”… đã có những tác dụng thiết thực xoa dịu nỗi đau của những người nghèo khổ trong xã hội. Nhìn những cộng đồng tu hành phục vụ tại các trung tâm điều dưỡng, điều trị cho bệnh nhân AIDS, phục vụ những người đang vướng vào tệ nạn xã hội, nuôi dưỡng trẻ mồ côi… đã thể hiện rõ điều này và được xã hội công nhận.

2-  Duy trì nền kinh tế nhiều thành phần.

image

Thời bao cấp, do quan niệm thời kỳ quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế chỉ có hai thành phần chính là Kinh tế tập thể và Kinh tế quốc doanh. Mọi thành phần khác đều không được khuyến khích và chính thức thừa nhận.


Ruộng đất, các tư liệu sản xuất quan trọng khác và cả các loại hình dịch vụ đều phải tập trung vào hợp tác xã. Nhưng phong trào Hợp tác hóa nông nghiệp đã dần dần thể hiện rõ những bất cập của nó và sớm chết yểu bởi nó đi ngược với quy luật kinh tế và cách nghĩ truyền thống của nông dân Việt Nam .  Chính vì thế có thể nói đó là một mô hình công xã ảo tưởng, nó đã tiêu diệt nền kinh tế nông nghiệp VN từ chỗ thừa gạo xuất khẩu đến một giai đoạn từ Trung ương đến địa phương, từ quan chức đến mỗi người dân đều chỉ lo… cái đói.

image
Giám mục Đinh Đức Trụ

Tuy nhiên, nhiều nơi, đặc biệt là các vùng Công giáo vẫn có những gia đình, thậm chí là có những cơ sở không gia nhập Hợp tác xã nông nghiệp dù bị nhiều áp lực xã hội. Chẳng hạn theo tôi được biết, ở Thái Bình, Giám mục Đinh Đức Trụ là người đã công khai khuyến khích giáo dân không nên vào Hợp tác xã vì nó chỉ là ảo tưởng. Vì vậy bà con giáo dân vẫn kiên trì mô hình kinh tế hộ, và sau này vào thời kỳ đổi mới, đường lối đó được thực tế chứng minh là đúng đắn. Cả đất nước sau mấy chục năm Hợp tác hóa đã chấp nhận trở lại kinh tế cá thể.

Những hộ kinh tế cá thể không tham gia Hợp tác xã nông nghiệp, tự họ có thể nuôi sống mình mà không cần trợ giúp của nhà nước. Hơn thế, họ còn có nông sản dư thừa cung cấp cho thị trường đã là minh chứng sống cho việc khẳng định đường lối Hợp tác xã nông nghiệp là sai lầm. Điều này giúp cho các nhà hoạch định chính sách mạnh dạn khẳng định chủ trương chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần
.


image

Thời kinh tế tập trung, mọi thứ hàng hóa đều do nhà nước quản lý và đều chịu sự phân phối từ trung ương xuống địa phương. Trong khi nhu cầu là sự đa dạng mà nhà nước thì không thể quán xuyến hết nên trong một thời gian thực thi chính sách này, nền kinh tế dần dần đi vào ngõ cụt, đời sống đói kém, hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng. Thế nên dân gian mới có câu: “Cái cứt gì cũng phân mà phân thì… như cứt”.

Khi sự đói kém bao phủ toàn xã hội thì ở những làng công giáo, đời sống đỡ tệ hơn nhiều. Làng Vĩnh Hòa thuộc xã Hợp Thành, quê tôi là một làng như vậy. Vào thời điểm đó, trong cộng đồng bà con công giáo, nền kinh tế gia đình vẫn âm thầm phát triển, đặc biệt là các nghề truyền thống. Do bị phân biệt đối xử nên cộng đồng bà con công giáo vẫn ngầm “móc ngoặc” nhau sản xuất hàng hóa và tiêu thụ trong cộng đồng rồi tuồn ra bên ngoài. Sau này tìm hiểu được biết thêm, không chỉ ở làng Vĩnh Hòa quê tôi mà cả các khu vực khác đông đồng bào Công giáo như Phát Diệm, Bùi chu… các ngành nghề phụ vẫn âm ỉ hoạt động và cung ứng hàng hóa cho xã hội
.


image

Nhờ sự linh hoạt đó, nên khu vực kinh tế tư nhân mà nhà cầm quyền quyết tâm tiêu diệt đã không chết. Đặc biệt là trong cộng đồng Công giáo. Để rồi, khi dỡ bỏ chính sách cấm đoán đó, thành phần kinh tế này được dịp trỗi dậy, làm sinh động của nền kinh tế.

Hiện tượng này vẫn được đảng ta gọi là: “Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo”

3-  Tiên phong hội nhập

So với các tôn giáo khác, Công giáo là cộng đồng dân cư đa sắc tộc, đa quốc nhất. Trải dài từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam , hơn 175 nước và vùng lãnh thổ có bà con Công giáo sinh sống, nhưng tập trung một tỷ lệ lớn nhất ở các nước phương Tây. Chính vì sợi dây liên lạc này, nên ngay cả khi cấm đoán đang ở vào thời điểm cao trào thì cộng đồng Công giáo vẫn duy trì liên lạc với các tín hữu của mình ở ngoài biên giới quốc gia.

http://baomai.blogspot.com/

Những công trình Công giáo nguy nga, rộng lớn dành cho việc thờ tự đã là một nét văn hóa không thể tách rời từ lâu của nền văn hóa Việt Nam . Việc xây dựng các công trình đó đã đem đến cho Việt Nam những quan niệm ban đầu về một lĩnh vực mới về kiến trúc và xây dựng hiện đại… thoát ra khỏi những quan niệm xây dựng tranh tre lá nứa hoặc vôi cát từ lâu đã  in sâu đậm trong quan niệm người Việt.

Cùng với đó, những nhà truyền giáo ngoại quốc vào Việt Nam khiến nhu cầu học tập ngôn ngữ nước ngoài cũng đã dần dần xuất hiện và cổ vũ cho sự tìm hiểu thể giới bên ngoài bắt đầu từ những cá nhân trong chính Công giáo như Nguyễn Trường Tộ…

image


Nguyễn Trường Tộ – một người Công giáo hết lòng vì đất nước – sinh năm 1830 tại làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyện, tỉnh Nghệ An. ( không phải huyện Nghi Lộc đã ghi sai )

Việc sinh hoạt cộng đồng đã từng bước thay đổi cách sinh hoạt truyền thống của người Việt. Cùng kiến trúc là âm nhạc, hội họa là những môn nghệ thuật mới tạo ra sự khác biệt trong sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Việt xưa. Thông qua những sinh hoạt như vậy, người Việt Nam vượt qua được chính những định kiến, những tư tưởng cục bộ địa phương… đó được coi là những mầm mống đầu tiên cho sự hội nhập của đất nước sau này.

image

Cũng cần nói thêm, cuộc di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam năm 1954 hầu hết là bà con Công giáo. Sau năm 75, là cuộc di tản vĩ đại sang các nước không cộng sản, trong đó chiếm tỷ trọng lớn là bà con Công giáo. Một tỷ lệ lớn người Việt ở Mỹ là bà con Công giáo. Họ là người có điều kiện tiếp cận với thể chế văn minh, dân chủ phát triển ở trình độ cao.

Khi nhà nước Việt Nam mở cửa, họ là những người đầu tiên về nước hoặc là gửi ngoại tệ về giúp thân nhân ở trong nước. Cùng với đó là hàng hóa, dịch vụ... Điều này giúp cho Việt Nam giảm căng thẳng về sự khan hiếm kéo dài trong những năm bao cấp. Hơn thế là cách thức tổ chức làm ăn, cách thức tổ chức đời sống và ý thức chấp hành pháp luật của một xã hội pháp quyền
.

image

Có thể nói, cộng đồng công giáo là những người tiên phong hội nhập.
Trên đây là những cảm nhận được của riêng tôi, có thể các bạn có những phát hiện khác, xin mời có
ý kiến tham gia!  

Phan Thế Hải


image
       





__._,_.___

Posted by: dao mai