Popular Posts

Sunday, May 27, 2012

TÌM HIỂU CHÚ ĐẠI BI

 

TÌM HIỂU CHÚ ĐẠI BI

trần minh hiền orlando ngày 25 tháng 5 năm 2012

CHÚ ĐẠI BI - Võ Tá Hân phổ nhạc http://www.youtube.com/watch?v=11aNvmdY6dQ

CHÚ ĐẠI BI http://www.youtube.com/watch?v=TXdIuAbhhw8

Chú Đại Bi tiếng Việt LaTuấnDzũng phổ nhạc http://www.youtube.com/watch?v=wl2lqe3t_f4

Chú bé 3 tuổi tụng chú Đại bi http://www.youtube.com/watch?v=ciR3vIedg6g&feature=related

Chú Tiểu Trí Từ - 01 http://www.youtube.com/watch?v=cz9IEi3nsKg&feature=related





TÌM HIỂU CHÚ ĐẠI BI

trần minh hiền orlando ngày 25 tháng 5 năm 2012

 

 

Trong tất cả kinh Phật thì có một kinh , một chú mà sức thần thông oai thần rất là vi diệu và nếu ai trì công trì tâm tụng niệm thì sẽ có kết quả hiệu quả vô cùng thần kỳ . 

Trong bài viết này chúng tôi sẽ tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa cũng như nghĩa tiếng Việt của chú này từ tiếng Phạn .

Chú Đại Bi, hay Đại Bi Tâm Đà La Ni (Maha Karunika citta Dharani), là bài chú căn bản minh họa công đức nội chứng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokiteśvara Bodhisatva). Bài chú này còn có các tên gọi là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thanh Cảnh Đà La Ni…

Theo kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, bài chú này được Bồ tát Quán Thế Âm đọc trước một cuộc tập họp của các Phật, bồ tát, các thần và vương. Cũng như câu Om Mani Padme Hum rất phổ biến ngày nay, Đại Bi chú là chân ngôn phổ biến cùng với phật Quán Thế Âm ở Đông Á, bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh.

 

Chú Đại Bi thường dùng chính là Tâm Chú của Đức Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát (Nìlakantha Avalokite’svara Bodhisatva) chủ yếu do hai ngài Bất Không Kim Cương và Kim Cương Trí dịch vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6. Các bản này được lưu truyền dưới 2 dạng là bản dài với bản ngắn:

1) Bản dài (quảng bản) được ghi nhận qua các bài:

Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát Đà La Ni, Bất Không Kim Cương dịch.

Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Nễ La Kiến Tha Đà La Ni, Kim Cương Trí dịch.

Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Chỉ Không dịch.

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Chú, Kim Cương Trí dịch.

2) Bản ngắn (lược bản) được ghi nhận qua các bài:

Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Tự Tại Vương Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Tự Tại Thanh Cảnh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Bất Không Kim Cương dịch.

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni, Bất Không dịch.

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Già Phạm Đạt Ma dịch.

Do các bản Chú Văn có nhiều loại phiên dịch nên chương cú cũng dựa theo các Kinh Văn mà có sự khác biệt kể cả số lượng câu và Phạn Ngữ.

Nīlakaṇṭha Dhāranī

नीलकण्ठ धारनी

namo ratnatrayāya namah ui arya avalokiteśvarāya

नमो रत्नत्रयाय नमह् अर्य अवलोकितेश्वराय

bodhisattvāya mahāsatvāya mahākārunikāya

बोधिसत्त्वाय महासत्वाय महाकारुनिकाय

o sarvarabhaya sudhanadasye namaskrtvā imam

सर्वरभय सुधनदस्ये नमस्क्र्त्वा इमम्

āryāvalokiteśvara radhava namo narakindi.

आर्यावलोकितेश्वर रंधव नमो नरकिन्दि।

hrih mahāvadhasama sarva athadu śubhu ajeya.

ह्रिह् महावधसम सर्व अथदु शुभुं अजेयं।

sarva satya nama, vastya namo vāka, mārga dātuh.

सर्व सत्य नम वस्त्य नमो वाक मार्ग दातुह्।

tadyathā o avaloki locate karate, e hrih

तद्यथा अवलोकि लोचते करते ह्रिह्

mahābodhisattva. sarva sarva, mala mala, mahima hdayam,

महाबोधिसत्त्व। सर्व सर्व मल मल महिम हृदयम्

kuru kuru karmu, dhuru dhuru vijayate mahāvijayate,

कुरु कुरु कर्मुं धुरु धुरु विजयते महाविजयते

dhara dhara dhirīniśvarāya, cala cala, mama vimala muktele,

धर धर धिरीनिश्वराय चल चल मम विमल मुक्तेले

ehi ehi, śina śina, āraa pracali via via prāśaya.

एहि एहि शिन शिन आरषं प्रचलि विष विषं प्राशय |

huru huru mara hulu hulu hrih

हुरु हुरु मर हुलु हुलु ह्रिह्

sara sara siri siri suru suru bodhiya bodhiya

सर सर सिरि सिरि सुरु सुरु बोधिय बोधिय

bodhaya bodhaya. maitriya nārakindi

बोधय बोधय मैत्रिय नारकिन्दि

dharinina bhayamāna svāhā siddhāya svāhā

धर्षिनिन भयमान स्वाहा सिद्धाय स्वाहा

mahāsiddhāy svāhā siddhayogeśvarāya svāhā

महासिद्धाय् स्वाहा सिद्धयोगेश्वराय स्वाहा

narakindi svāhā māraara svāhā

नरकिन्दि स्वाहा मारणर स्वाहा

śira saha mukhāya svāhā sarva mahā asiddhāya svāhā

शिर संह मुखाय स्वाहा सर्व महा असिद्धाय स्वाहा

cakra asiddhāya svāhā padma hastrāya svāhā

चक्र असिद्धाय स्वाहा पद्म हस्त्राय स्वाहा

nārakindi vagalaya svāhā mavari śankharāya svāhā

नारकिन्दि वगलय स्वाहा मवरि शन्खराय स्वाहा

namah ratnatrayāya namo āryavalokiteśvarāya svāhā

नमः रत्नत्रयाय नमो आर्यवलोकितेश्वराय स्वाहा

o sidhayantu mantra padāya svāhā

सिधयन्तु मन्त्र पदाय स्वाहा

Mỗi câu trong bài chú tượng trưng với hình ảnh một vị Phật, Bồ Tát, Tôn Giả hoặc Thánh Thần do Đức Quan Âm Bồ Tát hóa thân:

Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da: Bổn thân Quan-Âm Bồ-Tát hóa hiện tướng hành giả cầm chuỗi lễ tụng cầu Bồ-Tát cảm ứng.

Nam Mô A Rị Da: Quan-Âm hóa hiện tướng tay bưng Như-Ý Pháp-Luân. Hành giả y giáo phụng hành.

Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da: Quán-Âm hóa hiện tướng Quán-Tự-Tại trì bát. Hành giả quán tưởng khiến chúng sanh được trường thọ.

Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da: Quan Âm hiện thân Bất Không Quyên Sách Bồ Tát tự giác giác tha, phổ độ chúng sanh.

Ma Ha Tát Đỏa Bà Da: Quan Âm hiện tướng tụng chú, theo pháp tu trì, được thiện giải thoát.

Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da: Quan Âm hóa hiện tướng Mã-Minh Bồ Tát tự giác giác tha, tự đô tự tha.

Án: Quan Âm hóa hiện tướng các Thần Quỷ Vương chắp tay tụng chú. Chư Phật quán tưởng chữ Án thành chánh giác.

Tát Bàn Ra Phạt Duệ: Quan Âm hóa hiện tướng Tứ Đại Thiên Vương dùng lục độ hoá độ chúng ma.

Số Đát Na Đát Tỏa: Quan Âm hóa hiện tướng Bộ-Lạc Tứ Đại Thiên Vương khiến cải ác theo thiện.

Nam Mô Tất Kiết Lật Đỏa Y Mông A Rị Da: Quan Âm hiện tướng Long Thọ Bồ Tát hộ trì người tu hành, hàng phục tất cả ma oán.

Bà Lô Yết Đế Thất Phật Ra Lăng Đà Bà: Quan Âm hiện tướng Phật Viên Mãn báo Thân Lô Xá Na rộng độ vô lượng chúng sanh.

Nam Mô Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Phật Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na gia hộ chúng sanh an lạc.

Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế: Quán Âm hiện tướng Dương Đầu Thần Vương hộ trì hành giả xa lìa loài ác thú.

Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Cam Lộ Vương tay cầm cành dương, tay cầm bình ngọc cam lộ độ chúng sanh.

A Thệ Dựng: Quán Âm hiện tướng Phi Đằng Dạ Xoa Thiên Vương tuần sát bốn phương khuyến thiện ngừng ác.

Tát Bà Tát Đa Na Ma Bà Tát Đa Na Ma Bà Già: Quán Âm hiện tướng Thần Vương Bà Già Bà Đế độ chúng sanh có duyên.

Ma Phạt Đạt Đậu: Quan Âm hiện tướng Quân Tra Lợi Bồ Tát mặt có ba con mắt cảm hóa ác nhơn hướng thiện.

Đát Điệt Tha: Quán Âm hiện tướng A La Hán thuyết pháp độ chúng sanh.

Án A Bà Lô Hê: Quan Âm hiện tướng Quan Âm Bồ Tát từ bi vô lượng cứu khổ ban vui.

Lô Ca Đế: Quan Âm hiện tướng Đại Phạm Thiên Vương ở trong mười phương thế giới độ thoát chúng sanh.

Ca Ra Đế: Quan Âm hiện tướng Đế Thần ở trong mười phương thế giới thường cứu chúng sanh.

Di Hê Rị: Quan Âm hóa hiện tướng Thiên Thần Ma Hê Đầu La thống lãnh thiên binh độ chúng sanh.

Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa: Quan Âm dùng tâm nguyện thanh tịnh, từ bi vô ngã cảm ứng độ người chân thật tu hành.

Tát Bà Tát Bà: Quan Âm hiện thân Bồ Tát Hương Tích điều phục năm phương chúng quỷ theo hầu cứu giúp chúng sanh.

Ma Ra Ma Ra: Quan Âm hiện Bạch Y Bồ Tát tay mặt cầm Như Ý, tay trái dắt đồng tử khiến chúng sanh được trường thọ.

Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng: Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà khiến chúng sanh khi hết thân nầy đồng sanh Cực Lạc quốc.

Cu Lô Cu Lô Yết Mông: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Không Thân hàng phục vạn ức thiên binh, hóa độ vô lượng chúng sanh.

Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế: Quan Âm hóa thân Bồ Tát Nghiêm Tuấn áp lãnh man binh Khổng Tước Vương hàng phục các ma oán.

Ma Ha Phạt Xà Da Đế: Quan Âm hóa hiện Đại Lực Thiên Tướng tay cầm Bảo Xử hộ trì chúng sanh, tinh tấn tu hành.

Đà Ra Đà Ra: Quan Âm hiện tướng trượng phu tu khổ hạnh khiến chúng sanh phá trừ ngã chấp pháp chấp.

Địa Rị Ni: Quan Âm hiện tướng Sư Tử Vương xét nghiệm người tụng chú khiến chúng sanh tiêu trừ tai họa.

Thất Phật Ra Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Thích Lịch tay cầm Kim Xử hàng phục các ma và quyến thuộc của chúng.

Giá Ra Giá Ra: Quan Âm hiện thân Bồ tát Tồi Toái tay cầm Kim Luân hóa độ oán ma điều phục tùng.

Mạ Mạ Phạt Ma Ra: Quan Âm hiện thân Đại Hàng Ma Kim Cang tay cầm Kim Luân hộ trì chúng sanh đắc đại cát tường.

Mục Đế Lệ: Quán Âm hiện tướng chư Phật, Bồ Tát chắp tay lắng lòng nghe tụng thần chú, hành giả phụng trì chứng đắc Phật quả.

Y Hê Y Hê: Quan Âm hiện thân Ma Hê Thủ La Thiên Vương cảm triệu nhơn thiên thuận tùng.

Thất Na Thất Na: Quán Âm hiện thân Ca Na Ma Tướng Thiên Vương, hóa lợi chư Thiên, không gây tai hại nhân gian.

A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi: Quan Âm hiện tướng tay cầm khiên, tay cầm cung tên kính tụng thần chú đắc pháp tự tại.

Phạt Sa Phạt Sâm: Quan Âm hiện thân Kim Khôi Đại Tướng cầm linh thuận thời giáo hóa độ chúng sanh.

Phật Ra Xá Da: Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà, chúng sanh tưởng niệm thì hiện tiền tương lai sẽ thấy Phật.

Hô Lô Hô Lô Ma Ra: Quán Âm Hiện Tướng Bát Bộ Thần Vương chắp tay niệm từ bi hàng phục chúng ma.

Hô Lô Hô Lô Hê Rị: Quan Âm hiện tướng Tứ Tý Tôn Thiên tay bưng Nhật Nguyệt chiếu sáng hóa độ nhơn thiên.

Ta Ra Ta Ra: Quan Âm hóa độ Phổ Đà Sơn hiển linh bất khả tư nghì, có ý nghĩa Ta-Bà khổ như núi non hiểm trở.

Tất Rị Tất Rị: Quán Âm hiện tướng mạo từ bi tay cầm cành dương, tay cầm tịnh bình rưới nước cam lồ cứu khổ độ sanh.

Tô Rô Tô Rô: Quán Âm hóa tướng lá cây rụng, chúng sanh nghe tiếng được bốn lợi ích: quán đảnh, mát thân, tâm vui, đầy đủ.

Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ: Quan Âm hiện tướng diện mạo từ bi thân cận trẻ con giáo hóa lợi ích chúng sanh.

Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng A Nan tôn giả tay cầm bình bát hóa độ chúng sanh.

Di Đế Rị Dạ: Quan Âm hiện tướng Di Lặc Bồ Tát chỉ dạy chúng sanh tu hạnh đại bi, được chơn giác ngộ an lạc.

Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Địa Tạng Bồ Tát khai ngộ chúng sanh tỉnh giác mê chấp, được thoát khổ ác đạo.

Địa Rị Sắc Ni Na: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Tràng tay kiết ấn, tay cầm Kim Xoa làm lợi ích chúng sanh.

Ba Dạ Ma Na: Quan Âm hiện tướng Bảo Kim Quang Tràng Bồ Tát cầm Bạt Chiết La Xử lợi ích độ sanh.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng ba đầu Viên-Tịch Thắng-Nghĩa lợi ích độ sanh.

Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay kiết ấn Liêm Thủ thông đạt tất cả pháp.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hằng Hà Sa đứng trên đầu rồng, dùng tâm cát tường hóa độ chúng sanh.

Ma Ha Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phóng-Quang tay cầm tràng phan báu lợi ích độ sanh.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Mục Kiền Liên tay cầm tích trượng, bình bát dứt trừ tai ương, cứu độ chúng sanh.

Tất Đà Du Nghệ: Quan Âm hiện Tây Phương Cực Lạc, tất cả chư Thiên, Bồ Tát vân tập thính thọ pháp hỷ, hóa độ thập phương nhơn thiên.

Thất Bàn Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Thiên Nữ Tự Tại Viên Mãn

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả A-Xà-Na hoan hỷ bưng cao bình bát tăng trưởng tâm lợi ích độ sanh.

Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Sơn Hải Huệ tay cầm kiếm vàng hóa độ thánh-giả Tiểu-thừa.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Chiên Đà La quảy nón lá vô trụ thắng nghĩa độ hóa chúng sanh.

Ma Ra Na Ra: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Ấn Vương tay cầm búa vàng Như Ý kiểm nghiệm tâm hạnh chúng sanh.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Câu Hy La mang giầy cỏ đạp trên sóng nước phát sanh tiếng hải triều cảnh giác tâm chúng sanh.

Tất Ra Tăng A Mục Khê Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Dược Vương tay cầm dược thảo trừ bịnh khổ chúng sanh.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Viên Mãn Bồ Tát thân mặc y đỏ chấp tay tâm viên mãn an lạc chúng sanh.

Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Dược Thượng Bồ Tát tay cầm bình ngọc giải trừ tật khổ chúng sanh.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay cầm chơn kinh cứu cánh thắng nghĩa hóa đạo chúng sanh quy Tịnh Độ.

Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Thần Hổ gầm, tay cầm búa kiên định tâm hàng phục ma oán.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng chư Thiên Ma Vương tay cầm Xà Thương hóa đạo chúng sanh giải trừ tâm oán hận.

Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Linh Hương Thiên Bồ Tát bưng lư Như Ý hộ trì chúng sanh.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Tán Hoa Thiên Bồ Tát tay cầm bảo liên ngàn cánh thành tựu chúng sanh lợi ích an lạc.

Na Ra Cẩn Trì Bàn Dà Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Tôn Giả Phú Lâu Na tay bưng bình bát cứu độ chúng sanh lìa tai nạn.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Đà La Ni Từ tay bưng trái tươi bố thí độ sanh chân thật tu hành rõ pháp tánh không.

Ma Bà Lợi Thắng Yết Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Tam Ma Thiền Na kiết già trên bánh xe, tay bưng đèn ngọc sáng khắp pháp giới.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Đại Ca Diếp tay trái cầm chuỗi, tay mặt cầm thiền trượng chỉ dẫn chúng sanh tu hành.

Nam Mô Hắc Ra Đát na Đa Ra Dạ Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hư Không Tạng cầm hoa ngồi trên đá khiến cho chúng sanh kiên định tín tâm dõng mãnh tinh tấn.

Nam Mô A Rị Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phổ Hiền kiết già thiền tọa trên Hương Tượng khiến chúng sanh viên mãn công hạnh.

Bà Lô Yết Đế: Quan Âm hóa thân Bồ Tát Văn Thù ngồi trên sư tử tay chỉ hư không khến chúng sanh khai ngộ.

Thước Bàn Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng hoa sen ngàn cánh giải trừ chúng sanh ái sắc trần hư vọng, thấy tự tánh không.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng buông thõng hai tay giải trừ nhĩ căn phân biệt thanh trần hư vọng, nghe tự tánh không.

Án Tất Điện Đô: Quan Âm hiện tướng mở hai bàn tay đoạn tỳ căn ái nhiễm hương trần, tự giác tánh không.

Mạn Đà Ra: Quan Âm hiện tay Đâu La Miên đoạn trừ căn ái nhiễm vị trần hư vọng, tự giác tánh không.

Bạt Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng tay bưng bát hương giải trừ tham ái chạm xúc, khiến chúng sanh đoạn thân căn xúc trần hư vọng, tự giác tánh không.

Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tay cầm tràng phan giải trừ phân biệt các pháp, khiến chúng sanh đoạn ý căn chấp pháp trần hư vọng, biết tự tánh không.

Chú Đại Bi & Lược Giải Chú Đại Bi

 

Nam mô đại bi hội thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)

 

        Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni:

 

              Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da.

 

       Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đá sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá (na ma bà tát đa *) na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án a bà lô hê. Lô ca đế.  Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Địa lị sắt ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, ta bà ha.

 

 Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a lị da. Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ, ta bà ha.

 

 “Án, tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đa da, ta bà ha.”. (3 lần)

 

(Ghi chú :   (*) Trong bản Hán văn và hình thứ 16 có năm chữ nầy. Tuy nhiên, không biết lý do nào và vì sao đã mất hẳn sự trì tụng từ lâu qua các bản Việt văn? Chúng tôi cũng ghi ra cho rõ, để quý vị tham khảo và biết sự thiếu sót nầy.)

 

*

 

*   *

 

Lược Giải Chú Đại Bi

 

 

 

1.-  Dẫn nhập:

 

 Chú Đại Bi được phát xuất từ  sự xác quyết do kim khẩu của Bồ tát Quán Thế Âm. Thường được gọi là Thần chú, Linh chú. Bởi vì ai tin và thành tâm hành trì thần chú nầy thì bản thân người ấy đã có đủ Đại bi tâm. Thần chú nầy do Bồ tát Quán Thế Âm nói ra và được chư Phật ấn chứng mà gần nhất là đức Thích Ca Như Lai Từ Phụ của chúng ta nghe và đức Thích Ca cũng ấn chứng.

 

 Thần chú nầy có rất nhiều tên khác nhau như:

 

 Quảng đại Viên mãn, Vô ngại Đại bi, Cứu khổ Đà la ni, Diên thọ Đà la ni, Mãn nguyện Đà la ni, Diệt ác thú Đà la ni, Phá ác nghiệp chướng Đà la ni,  Tối siêu thượng Đà la ni,..

 

Những danh hiệu trên đây, đức Phật đã trực tiếp hướng dẫn cho ngài A Nan và Đại chúng biết. Nguyên Thần chú nầy tên rất dài: “Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ tát Quảng đại Viên mãn Vô ngại Đại bi tâm Đà la ni thần chú”. Bài chú gồm có 84 câu.

 

 Đức Phật đã từng nói với Bồ tát Quán Thế Âm:

 

 -  “Hởi thiện nam tử, ngươi nên bền lòng trì tụng Thần chú nầy, sẽ có tác dụng lớn trong việc tế độ chúng sanh trong những ác nghiệp của các kiếp sau ....”

 

 Căn cứ vào sự ghi chép trong kinh điển, lúc ấy Bồ tát Quán Thế Âm sau khi nghe đức Phật hướng dẫn, Ngài liền phát nguyện trì tụng liên tục từ cảnh giới Sơ địa đến Bát địa và thẳng lên Bất động địa. Cũng từ đó, ngài phát đại nguyện: Cầu cho kiếp sau của ngài phổ độ cho hết thảy chúng sanh đều được vui thích và mong cho ngài được ngàn cánh tay, ngàn con mắt.

 

 Sau khi phát nguyện xong, phút chốc, toàn thân ngài đã đầy đủ cả ngàn tay, ngàn mắt; tất cả mười phương đều chấn động và mưa hoa cúng dường. Chư Phật cũng phóng hào quang rực rỡ, soi khắp đó đây. Từ đó, Thần chú nầy mới có nhiều danh hiệu như vậy.

 

 Đức Phật bảo ngài An Nan rằng:

 

 Kết quả có được của Bồ tát Quán Thế Âm là do sự phát đại thệ nguyện vì chúng sanh.

 

 Những ai phát nguyện nhất tâm trì tụng thì sẽ được tiêu trừ tội chướng trong đời nầy và kiếp vị lai. Trong giây phút lâm chung, nếu mình tự niệm hoặc được thiện tín thành tâm hộ niệm thì sẽ được vãng sanh hoặc đến quốc độ mà mình muốn đến. Có đức Phật A Di Đà và chư vị Bồ tát thùy từ tiếp dẫn.

 

 Những ai trong đời nầy, nhất tâm trì tụng Đại bi tâm chú thì sẽ được toại nguyện về 15 loại thiện sanh và trừ được 15 loại ác tử.

 

 a. Mười lăm loại thiện sanh:

 

 1.      Nơi được sanh ra thường gặp năm điều lành.

 

2.      Thường được sanh ở nước lành (thiện quốc).

 

3.      Thường gặp thời hay, vận tốt.

 

4.      Thường gặp được thầy sáng, bạn lành.

 

5.  Thân các căn đều trọn vẹn, đầy đủ (lục căn hoàn cụ)

 

6.      Đạo tâm luôn được thuần hậu, chơn chánh.

 

7.      Không phạm cấm giới.

 

8.      Tình anh em cốt nhục đều được thuận hòa, an lạc.

 

9.      Trọn đời cơm áo đầy đủ, nhàn nhã.

 

10. Luôn luôn được mọi người kính mến, thương giúp.

 

11. Tài sản, của cải không bao giờ bị cướp đoạt.

 

12. Cầu gì đều được toại ý. (Sở cầu như ý)

 

13. Luôn được thiện thần, hộ pháp bảo vệ.

 

14. Nơi được sinh ra thường được nghe Phật thuyết pháp.

 

15. Khi nghe được Chánh pháp là hiểu ngay được thâm ý mà trực ngộ lời Phật dạy.

 

 b. Mười lăm loại về ác tử:

 

 1.      Không bị chết khốn khổ về đói khát, loạn lạc.

 

2.      Không bị chết vì giam cầm, đánh đập.

 

3.      Không  bị chết vì thù oán.

 

4.      Không bị chết nơi trận địa.

 

5.      Không bị chết vì thú dữ cắn xé.

 

6.      Không bị chết vì rắn, rết cắn.

 

7.      Không bị chết cháy hay chết đuối.

 

8.      Không bị trúng độc khi ăn uống mà chết.

 

9.      Không bị các loại trùng độc sát hại.

 

10. Không bị cuồng loạn hay thất vọng mà chết.

 

11. Không bị cây cối rơi trúng hoặc sa xuống hầm hố mà chết.

 

12. Không bị người khác trấn ếm, trù ẻo mà chết.

 

13. Không bị tà thần, ác quỷ làm hại để chết.

 

14. Không bị chết vì ác bệnh.

 

15. Không bị chết oan (tự tử, bất đắc kỳ tử, ...).

 

 Vì những điều nêu trên, Chú Đại Bi có thể trừ được tất cả những tai nạn, những khổ nạn và thành tựu được những toại nguyện. Những ai chí thành trì niệm thì được những điều lợi ích như trên và sẽ được xa lánh mọi ưu bi, khổ não cho chính mình và có thể cứu giúp được tha nhân như Đại bi tâm của Bồ tát Quán Thế Âm.

 

  2.-   Giải thích:

 

Nam mô :  tức là Quy y, nương về, nương theo,

 

 Hát ra đát na đá ra dạ da :  tức là Tam bảo (Phật, Pháp Tăng),

 

 Nam mô :  tức là Quy mạng, cũng có nghĩa là Quy y,

 

 A lị da :  tức là Thánh,

 

 Bà lô yết đế :  tức là Quán,

 

 Thước bát ra da :  tức Tự tại,

 

 Bồ đề tát đỏa bà da :  tức là Giác hữu tình,

 

Ma ha tát đỏa bà da :  tức là Đại giác hữu tình,

 

 Ma ha ca lô ni ca da :  tức là người có lòng đại bi. (Đại bi tâm giả),

 

 Án :  tức là Quy mạng,

 

 Tát bàn ra phạt duệ :  tức là Nhất thế tôn,

 

Số đát na đát tả :  tức là Vị cứu hết thảy sự khủng bố,

 

 Nam mô :  tức là Quy mạng,

 

 Nam mô tất cát (hay kiết) :  tức là kẻ ở bên kia (Ư bỉ),

 

 Y mông a lị da :  tức là Thánh của chúng ta (Ngã thánh),

 

 Bà lô cát đế, thất Phật ra lăng đà bà :  tức là Quán tự tại Hương sơn,

 

 Nam mô :  tức là Quy mạng,

 

 Na ra cẩn trì :  tức là Uy lực của Thánh Quán tự tại, tên là Thanh cảnh chí tâm chơn ngôn,

 

 Hê rị ma ha bàn đá sa mế :  tức là Ta nay tuyên thuyết,

 

 Tát bà a tha đậu du bằng :  tức là Vị có hết thảy mọi sự hy vọng viên mãn và có ánh sáng rực rỡ,

 

 A thệ dựng :  tức là Không gì có thể so sánh được,

 

 Tát bà tát đá :  tức là Hết thảy mọi quỷ thần không thể đánh thắng được.

 

 (* ma bà tát đá) na ma bà dà :  tức là Đồng chơn,

 

 Ma phạt đặc đậu :  tức là Người có đạo tâm đang ở trong cõi mê khiến sớm cho được thanh tịnh,

 

 Đát điệt tha :  tức là Có nghĩa là,

 

 Án :  tức là Quy mạng,

 

 A bà lô hê :  tức là Bậc có trí tuệ sáng suốt,

 

 Lô ca đế :  tức là Quán tự tại,

 

 Ca ra đế :  tức là Đấng siêu việt thế gian,

 

 Di hê lị :  tức là Vị sư tử vương,

 

 Ma ha bồ đề tát đỏa :  tức là Đại Bồ tát,

 

 Tát bà tát bà :  tức là Hết thảy hết thảy,

 

 Ma ra ma ra :  tức là Ghi nhớ, ghi nhớ,

 

 Ma hê ma hê rị đà dựng :  tức là Tâm chơn ngôn,

 

 Câu lô câu lô yết mông :  tức là Làm sự nghiệp,

 

 Độ lô độ lô :  tức là Bảo trì, bảo trì,

 

 Phạt xà da đế :  tức là Người dạo chơi ở trên không (Du không giả),

 

 Ma ha phạt xà da đế :  tức là Người oai đức lớn (Ma ha) dạo chơi ở trên không (Đại du không giả),

 

 Đà ra đà ra :  tức là Bảo trì, bảo trì,

 

 Địa rị ni :  tức là Kẻ trì tụng,

 

 Thất Phật ra da :  tức là Vua Tự tại (Đế vương tự tại),

 

 Dá ra dá ra :  tức là hành động,

 

 Mạ mạ phạt ma ra :  tức là Không bị bụi bám vào (Vô cấu nhiễm),

 

 Mục đế lệ :  tức là Thể không nhơ nhớp (Vô cấu thể),

 

 Y hê y hê :  tức là Lời giáo dục, dạy dỗ (Giáo ngữ),

 

 Thất na thất na :  tức là Lời thề rộng lớn (Đại thệ nguyện),

 

 A ra sâm :  tức là vua (Vương),

 

 Phật ra xá lị :  tức là sự Giác ngộ kiên cố (Giác kiên cố tử),

 

 Phạt sa phạt sâm :  tức là Hoan hỷ, vui vẻ,

 

 Phật ra xá da :  tức là Trừ mọi độc hại do tham sân si gây nên,

 

 Hô lô hô lô ma ra :  tức là Làm phép không bị nhiễm ô (tác pháp vô cấu

 

nhiễm),

 

 Hô lô hô lô hê rị :  tức là mau chóng, mau chóng, tóc đã bạc rồi.

 

 Ta ra ta ra :  tức là Kiên cố vậy (kiên cố giả),

 

 Tất rị tất rị :  tức là Hoa sen,

 

 Tô rô tô rô :  tức là Cọng hoa sen,

 

 Bồ đề dạ bồ đề dạ :  tức là tỉnh ngộ, tỉnh ngộ,

 

 Bồ đà dạ bồ đà dạ :  tức là Dạy cho được Giác ngộ,

 

 Di đế rị dạ : tức là Người có lòng từ bi,

 

 Na ra cẩn trì :  tức là Thanh cảnh, xinh đẹp,

 

 Địa lị săt ni na :  tức là Bền chắc và lanh lợi,

 

 Ba dạ ma na :  tức là Nghe tên (danh văn),

 

 Ta bà ha :  tức là Lòng mong mỏi được gặp thì sẽ được hiển hiện, sanh lòng hoan hỷ, viên mãn tới niết bàn,

 

 Tất đà dạ :  tức là Nghĩa,

 

 Ta bà ha :  tức là Bậc đã được thành tựu,

 

 Ma ha tất đà dạ :  tức là Bậc đại nghĩa,

 

 Ta bà ha :  tức là bậc đã được thành tựu lớn lao, đại thành tựu,

 

 Tất đà du nghệ :  tức là Vô vi,

 

 Thất bàn ra dạ :  tức là Bậc Đại tự tại,

 

 Ta bà ha :  Bậc Tự tại  bởi Tất địa và Du già,

 

 Na ra cẩn trì :  tức là Hiền ái,

 

 Ta bà ha :  tức là Vì thanh cảnh viên mãn nên được thành tựu,

 

 Ma ra na ra :  tức là Như ý tối tôn,

 

 Ta bà ha :  tức là được Thành tựu,

 

 Tất ra tăng a mục khư da :  tức là Nghĩa thứ nhất của tiếng yêu thương (ái ngữ đệ nhất nghĩa),

 

 Ta bà ha :  tức là Tay cầm hoa sen,

 

 Ta bà ma ha :  tức là Đại thành tựu,

 

 A tất đà dạ :  tức là Không có gì so sánh được (Vô tỷ),

 

 Ta bà ha :  tức là Thành tựu,

 

 Giả cát ra a tất đà dạ :  tức là Không có gì để so sánh được,

 

 Ta bà ha :  tức là Thành tựu,

 

 Ba đà ma yết tất đà dạ :  tức là Đại nghĩa,

 

 Ta bà ha :  Đấng được khai ngộ vì nghe được tiếng pháp loa,

 

 Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ :  tức là Bậc hiền thủ thánh tôn,

 

 Ta bà ha :  tức là Thành tựu,

 

 Ma bà lợi thắng yết ra dạ :  tức là Anh hùng uy đức sanh tánh,

 

 Ta bà ha :  tức là Thành tựu, đại thành tựu (sự chinh phục tất cả ma chướng).

 

 Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da :  tức là Quy mạng Tam bảo (Phật Pháp Tăng),

 

 Nam mô :  tức là Quy mạng, quy y,

 

 A lị da :  tức là Thánh,

 

 Bà lô cát đế :  tức là  Quán,

 

 Thước bàn ra dạ :  tức là Tự tại,

 

 Ta bà ha :  tức là Thành tựu,

 

 Án :  tức là Quy mạng, quy y,

 

 Tất điện đô :  tức là Khiến cho tôi sớm được thành tựu,

 

 Mạn đà ra :  tức là Chơn ngôn,

 

 Bạt đà da :  tức là Đều (Câu hay cu),

 

 Ta bà ha :  Thành tựu, sớm thành tựu.

 

 3.-  Đại ý của bài Thần chú:

 

Con kính cẩn cúi đầu trước ngôi Tam bảo Phật Pháp Tăng. Nguyện xin quy y theo đức Thánh Quan Tự Tại. Con nguyện  đem thân mạng mà quy y với đức đại Bồ tát có lòng đại từ đại bi, mà cầu xin sớm được thành tựu sự giác ngộ để cứu độ cho hết thảy chúng sanh do mê muội đang bị khủng bố trên thế gian nầy. Do đó, con đem cả thân mạng mà quy y với đức Đại Bồ Tát có lòng đại từ bi. Một lòng thề nguyện truyền bá rộng rãi lòng từ bi của đức Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát; lắng nghe tâm chơn ngôn (tổng trì pháp môn tâm chơn ngôn và Phật nội chứng), vâng theo mệnh của bổn tôn là Đại bi tâm đà la ni nầy mà hết lòng xưng tụng công đức Quán Tự Tại Bồ Tát, tất cả mọi hy vọng đều được viên mãn, làm sáng tỏ tính chất đồng thể đại bi thanh tịnh viên minh và làm cho tất cả quỷ thần đều không thể đánh thắng được uy lực to lớn của Ngài. Với những kẻ có đạo tâm, không bao giờ bị vô minh phiền não mê hoặc, không bao giờ bị đắm chìm trong cảnh mê muội, u tối và được dẫn dắt tới thế giới quang minh của đức Đại Bồ Tát. Trí tuệ quang minh được biểu hiện siêu tuyệt nhất thế gian là đức Bồ Tát có công đức vô cùng vĩ đại. Có đấng quy mạng giống như đức Tự Tại Sư Tử Vương Đại Bồ Tát. Ức niệm nói chung của bản thể tâm chơn ngôn của Bồ tát cũng giống như đi ở trên không trung để thuyết giảng chánh pháp một cách lớn lao và tự tại, hoặc là làm công việc tư duy về một công việc to rộng. Cũng như các bậc vua chúa, bất kể việc gì, đều được đức Bồ tát làm một cách tự do, tự tại. Được hành động bởi một thân thể thanh tịnh, không mảy may dơ bẩn, hoặc để trừ mọi hành vi dơ bẩn của ba cái độc hại là tham, sân và si; cũng như diệt trừ mọi ác ma độc hại ở trên thế gian nầy. Như thế sẽ nhanh chóng có mái tóc đẹp như hoa sen thanh tịnh và cầm lấy được hoa sen của đức Bồ tát. Giáo hóa được nghiệp ngu si của ta và chứng ngộ được lòng yêu thương vô bờ bến. Khiến được sanh lòng hoan hỷ của Bồ tát Quán Tự tại.

 

 Muốn được tới cõi niết bàn (thành tựu viên mãn) sẽ được thấy cõi niết bàn, và cũng tới được cảnh giới Tất địa (nơi ngộ đạo) với Du già (tương ứng hiệp nhập) thì được tự do, vô ngại. Trong đó, cũng có kẻ không phải là loài người (mặt heo cổ xanh, có kẻ mặt sư tử), con nào từ bi thì biểu thị tay cầm hoa sen, để thâu nhiếp chánh pháp trừ ma quỷ phiền não. Nghe tiếng pháp loa vi diệu được chuyển mê khai ngộ, hết thảy đều quy y Tam bảo.

 

 Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ Tát, khiến cho được tới cõi niết bàn, để trì tụng lời chơn ngôn này ở nơi niết bàn thanh tịnh, trang nghiêm.

 

 Trên đây là đại ý toàn bài Chú đại bi, mong quý vị đọc nhiều lần và thành tâm hành trì thì sẽ được như nguyện; đồng thời, một khi đã được thâm hiểu, xin quý vị hướng dẫn bằng hữu cùng tu tập theo, để gieo duyên với cảnh giới Thường Tịch Quang Tịnh Độ.

 

TỪNG BƯỚC THỰC HÀNH THẦN CHÚ ĐẠI BI 

 

 

A.   Những bước chuẩn bị. 

Bồ Tát Quán Thế Âm đã khả hứa với chúng ta: “Nếu hành giả có thể tụng trì đúng pháp -khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh- lúc ấy ta sẽ sắc cho tất cả Thiện thần, Long vương, Kim Cang, Mật tích thường theo ủng hộ, không rời bên mình, như giữ gìn tròng con mắt hay thân mạng của chính họ “. 

 

Như vậy, thế nào là tụng trì đúng pháp? 

 

Trong phần hình trạng tướng mạo đã chỉ rõ mười đặc tính cốt yếu của Thần chú Đại Bi mà quan trọng hàng đầu là tâm Đại Từ Bi, cho nên mỗi lần trì tụng thần chú này hành giả phải bắt đầu hướng tâm vào việc quán tưởng khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh. Một cách lý tưởng, để đạt được những công năng mà thần chú mang lại, trong thời gian trì tụng, hành giả phải giữ gìn giới hạnh, đặc biệt là sát, đạo, dâm, vọng. Phải kiêng cử rượu thịt, các thứ hành, hẹ, tỏi, cùng các thức ăn hôi hám. Tốt nhất là nên ăn chay. 

 

Phải giữ vệ sinh thân thể, thường xuyên tắm gội, thay đổi y phục sạch sẽ, không nên để cho trong người có mùi hôi. Trước khi trì chú cũng phải đánh răng, súc miệng sạch sẽ, nếu trước đó có đi đại tiện, tiểu tiện thì phải rửa tay sạch sẽ trước khi trì tụng.Tóm lại, “Giữ gìn trai giới,ở nơi tịnh thất,tắm gội sạch sẽ, mặc y phục sạch, treo phan đốt đèn, dùng hương hoa cùng thực phẩm cúng dường, buộc tâm một chỗ”, đó là tất cả những điều kiện lý tưởng để hành giả trì chú Đại Bi. Tuy nhiên, như phần trên đã nói, Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ yêu cầu chúng ta hai điều mỗi khi trì tụng chú Đại Bi, đó là thành tâm và không mưu cầu những việc bất thiện. Điều này cho phép hành giả có thể trì tụng bất cứ lúc nào mà điều kiện cho phép. Trên xe, trên tàu, trên máy bay, tại sở làm, tại nhà... Với tâm thành, tâm chúng ta lúc đó sẽ hòa nhập vào lời trì tụng đểø cùng thể nhập vào pháp giới, mười phương chư Phật. Bơỉ vì Bồ Tát đã cho chúng ta biết, mỗi lần trì tụng thần chú Đại Bi, thập phương chư Phật đều đến chứng minh. 

 

Bàn thờ. 

 

Hành giả nên có một phòng riêng yên tỉnh để lập bàn thờ Bồ tát. Bàn thờ nên có hình tượng Bồ Tát ngàn tay, ngàn mắt. Nếu không có thì có thể sử dụng bất cứ hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm nào mà mình hiện có. Hình tượng Bồ Tát nên để day mặt về hướng Tây. Trên bàn thờ tuy không bắt buộc nhưng nên có hoa tươi, trái cây, lư hương để cắm nhang, nước cúng. Nên để đèn sáng mỗi khi hành lễ. 

 

Cách thức ngồi, lạy : 

 

Mỗi người nên có một tọa cụ, hoặc đơn giản hơn, một miếng vải sạch hay khăn bông xếp lại để làm chỗ tọa thiền. Hành giả nên ngồi theo cách thức kiết già nhưng nếu gặp khó khăn thì có thể ngồi theo cách thức bán già (ngồi xếp bằng, chân phải gác lên chân trái hay ngược lại), lòng bàn tay để ngữa hướng lên trên, bàn tay mặt để lên trên bàn tay trái, hai đầu ngón cái đụng vào nhau. Mắt nên mở hé, nếu nhắm hẵn thì dễ rơi vào trạng thái hôn trầm, nếu mở lớn thì khó định tâm. 

 

Lạy là nghi thức biểu lộ sự cung kính, tôn trọng. Mỗi thời đại có một cung cách khác nhau để biểu lộ sự tôn trọng. Lối lạy kiểu cũ theo cách thức của người Trung Hoa có nhiều điểm rất bất tiện, không thích hợp cho không khí thiền đường. Trước hết, với kiểu lạy này, khi hành lễ mỗi người chiếm một khoảng diện tích đáng kể đủ để có thể đứng và qùy xuống lạy, gây trở ngại cho những thiền đường nhỏ. Việc đứng lên qùy xuống gây ra những tiếng động của động tác, tiếng sột soạt của quần áo, những động tác này cũng có thể làm phóng ra những bụi bặm, vi trùng mà ta mang trên quần áo, những mùi hôi của cơ thể - nhất là trong những xứ khí hậu nóng nực-, làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường ta cần có để thở. Chưa kể là việc đứng lên qùy xuống lộn xộn trong những tư thế rất khó coi... Cho nên, chúng ta có thể thực hành một cách lạy tương đối đơn giản trong khi hành lễ, là thiền sinh cứ ngồi theo tư thế hành thiền, kiết già hay bán già, khi lạy chỉ cúi gập đầu xuống sàn phía trước, kéo dài tư thế này một khoảng thời gian ngắn đủ để niệm một câu “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm BồTát”, xong ngồi dậy. 

 

Cách thức tụng đọc : 

 

Chú Đại Bi phải nên được trì tụng lớn tiếng, giọng điệu trầm hùng, nhanh và liên tục bằng cách lấy hơi từ bụng ra. Lớn tiếng ở đây không có nghĩa là ta phải la lớn lên, nhưng giọng đọc phải rõ ràng, nghe đủ tiếng, không lờ mờ, trại giọng. 

 

Kinh “Nghiệp Báo Sai Biệt” cho biết việc niệm Phật, tụng kinh, trì chú lớn tiếng có mười công đức sau đây : 

 

1.Dẹp được sự buồn ngủ ám ảnh  

2.Thiên ma hoảng sợ.  

3.Tiếng vang khắp mười phương  

4.Ba đường hết khổ  

5.Tiếng đời chẳng lọt vào tai  

6.Lòng không tán loạn  

7.Dõng mãnh tinh tấn  

8.Chư Phật vui mừng  

9.Tam muội hiện ra trước mắt  

10.Vãng sanh Tịnh Độ 

 

Thật sự, ta cũng sẽ không lo ngại cơn buồn ngủ ám ảnh. Bởi vì khi trì tụng chú Đại Bi, các vị Thiên, Long, Hộ Pháp sẽ luôn ở bên cạnh ta, khi ta rơi vào cơn buồn ngủ, các Ngài sẽ giúp đánh thức ta -mà rồi qúy vị sẽ chứng nghiệm khi thực hành trì chú một cách nghiêm túc- bằng một âm thanh như tiếng sấm nổ ở trong đầu khiến ta hoảng hồn, giật mình tỉnh thức. Thông thường sau đó ta sẽ không còn (hoặc không dám) buồn ngủ nữa. Tuy nhiên, nếu việc này xảy ra một lần thứ hai trong buổi hành Thiền, điều này có nghĩa là thể xác ta quá mỏi mệt, ta nên xin phép được xả thiền để nghỉ ngơi. 

 

Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt phải tụng thầm chỉ riêng cho mình nghe, hoặc chỉ nhép môi không ra tiếng như khi chúng ta đang làm việc, đi chung xe tàu với người khác, hoặc đi nằm trước khi ngủ. 

 

B. Nghi Thức Hành Lễ 

 

Hành giả nên tự mình sắp xếp thời khoá biểu thích hợp và cố định cho việc hành thiền tu tập của mình hằng ngày, vào buổi sáng hoặc buổi tối hoặc cả sáng lẫn tối. Đức Phật dạy rằng mỗi người nên hành thiền ngày hai buổi, buổi sáng sớm lúc mới rạng đông và buổi hoàng hôn lúc ngày chuyển qua đêm, còn nữa đêm thì nên thức dậy để đọc kinh. Đó là thời khóa biểu lý tưởng cho người tu tập, tuy nhiên nếu ta không có điều kiện thì chọn một thời khóa trong ngày cũng được. Thời gian lựa chọn để thiền định vào buổi sáng hay buổi tối rất quan trọng đối với mỗi cá nhân bởi vì có người chỉ hành thiền kết quả vào buổi sáng hoặc ngược lại. Kinh nghiệm cho thấy những người còn sống đời sống thế tục thì hành Thiền vào buổi sáng sớm kết quả hơn, bởi vì buổi tối sau một ngày làm việc, thể xác còn mệt mỏi, tâm hồn lại bị vướng mắc bởi bao nhiêu chuyện lo nghĩ từ chuyện gia đình đến chuyện sở làm ... rất khó định tâm. 

 

Ngoài ra, mỗi cuối tuần nên có một buổi hành lễ chung của những người trong nhóm; đây cũng là dịp để tự sám hối, trao đổi kinh nghiệm tu tập. Việc tu học sẽ tăng tiến nhanh chóng nếu ta có những bạn đồng tu, những thiện trí thức đúng nghĩa. 

 

NGHI THỨC HÀNH THIỀN 

 

Hành giả ngồi xuống theo tư thế kiết già hay bán già. Điều chỉnh thế ngồi, lắc vai, lay chuyển thân thể chừng 5 lần, sửa xương sống cho ngay, chuẩn bị cho mình một thế ngồi thoải mái. 

 

Rải ba tiếng chuông. 

 

Lắng lòng thanh tịnh theo tiếng chuông ngân, hành giả thanh lọc nội tâm, tiêu trừ các tội chướng thân khẩu ý để bắt đầu bước vào nghi thức hành Thiền. 

 

1. Tịnh Pháp Giới và Tam Nghiệp Chơn Ngôn: 

 

ÁN LAM (21lần)  

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ bà phạ, truật độ hám (3 lần) 

 

2. Tác Bạch Cúng Hương: 

 

(Có thể có những bài nguyện hương khác nhau, hành giả có thể tự chọn bài nguyện hương quen thuộc). 

 

Hương thơm giăng bủa  

Thánh đức tỏ tường  

Bồ Đề Tâm rộng chẳng suy lường  

Tùy chỗ phóng hào quang  

Lành tốt phi thường  

Dâng cúng Pháp trung vương 

 

NAM MÔ HƯƠNG CÚNG DƯỜNG BỒ TÁT, MA HA TÁT. (3 lần). 

 

3. ĐÃNH LỄ CHƯ PHẬT, BỒ TÁT 

 

Nhất tâm đãnh lễ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn. (Chuông, 1 lạy).

 

Nhất tâm đãnh lễ Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A-Di-Đà-Thế Tôn. (Chuông, 1 lạy).    

   

Nhất tâm đãnh lễ Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Thế Tôn. (Chuông, 1 lạy).

 

Nhất tâm đãnh lễ Quá Khứ Vô Lượng Ức Kiếp, Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Thế Tôn (Chuông, 1 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Quá Khứ Vô Lượng Kiếp, Chánh Pháp Minh Thế Tôn (Chuông, 1 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Thập Phương Nhứt Thiết, Chư Phật Thế Tôn (Chuông, 1 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Hiền Kiếp Thiên Phật, Tam Thế Nhứt Thiết Chư Phật Thế Tôn (Chuông, 1 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Thần Diệu Chương Cú. (Chuông, niệm 3 lần, 3 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Quán Âm Sở Thuyết Chư Đà La Ni, Cập Thập Phương Tam Thế Nhứt Thiết Tôn Pháp.(Chuông, niệm 3 lần, 3 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát.(Chuông, niệm 3 lần, 3 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát(Chuông, 1 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Tổng Trì Vương Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Thập Phưong Tam Thế, Nhứt Thiết Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy). 

 

Nhất tâm đãnh lễ Ma HA Ca Diếp Tôn Giả, Vô Lượng Vô Số Đại Thanh Văn Tăng, Chư Lịch Đại Tổ Sư (Chuông, 1 lạy). 

 

4. ĐẠI BI PHÁT NGUYỆN 

 

(Nếu một nhóm hành thiền chung, người chủ trì sẽ dâng lời phát nguyện này, các thiền giả chỉ nhẫm đọc theo và lắng lòng suy nghĩ theo lời nguyện.) 

 

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,  

Nguyện con mau biết tất cả Pháp.  

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm, 

 

Nguyện con sớm được mắt trí huệ.  

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,  

Nguyện con mau độ các chúng sanh.  

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,  

Nguyện con sớm được phương tiện khéo.  

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,  

Nguyện con mau lên thuyền bát nhã.  

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,  

Nguyện con sớm được qua biển khổ.  

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,  

Nguyện con mau được giới định đạo.  

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,  

Nguyện con sớm lên non niết bàn.  

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,  

Nguyện con mau về nhà vô vi.  

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,  

Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.  

Nếu con hướng về nơi non đao,  

Non đao tức thời liền sụp đổ.  

Nếu con hướng về lửa, nước sôi.  

Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.  

Nếu con hương về cõi địa ngục,  

Địa ngục liền mau tự tiêu tan.  

Nếu con hướng về loài ngã quỷ,  

Ngã quỷ liền được tự no đủ.  

Nếu con hướng về chúng Tu la,  

Tu la tâm ác tự điều phục.  

Nếu con hướng về các súc sanh,  

Súc sanh tự được trí huệ lớn.  

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm (10 lần)  

(chuông, lạy) 

 

Xong tụng đọc: 

 

5. THẦN CHÚ ĐẠI BI  

(Tụng 5 ,7 hoặc 21 biến) 

 

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)  

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà ra ni.  

Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam Mô A rị da. Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát toả. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa (na ma bà tát đa). Na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê. Lô ca đế. Ca la đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da.Giá ra gía ra. Mạ. Mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê lị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ Bồ đề dạ. Bồ đà dạ Bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Bà dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dủ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ. Ta bà ha. 

 

Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha. 

 

Án. Tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha. (3 lần) 

 

6. Nhập Thiền. 

 

Tùy theo thời khoá biểu và thời gian cho phép, hành giả tự ấn định cho mình khoảng thời gian thiền định (15 phút, 30 phút, 1 giờ, v.v...) 

 

7. Xả Thiền. 

 

Trả Ơn Cửu Huyền Thất Tổ: 

 

Tụng kinh, trì chú cũng là một cơ hội mà hành giả trả ơn cửu huyền thất tổ. Do công đức trì tụng trong pháp hội này, dưới sự chứng minh của thập phương chư Phât, chư Bồ Tát, đặc biệt là vị Bồ Tát Bổn Tôn Quán Thế Âm, ta hướng tâm thành đến các Ngài để nguyện cầu cho cửu huyền thất tổ, những hương linh của thân bằng quyến thuộc đã qua đời (nêu tên hoặc pháp danh) được vãng sanh đến miền Tịnh Độ. Ta cũng nguyện cầu cho những thân bằng quyến thuộc còn ở trong vòng sinh tử luân hồi, nhờ oai lực và sự trợ duyên của chư Phật, chư Bồ Tát, Bồ Tát Quán Thế Âm có cơ hội biết đến Phât pháp, tinh tấn tu tập, và hướng đến giác ngộ. (Phần này mỗi hành giả có một lời nguyện riêng). (3 lạy) 

 

Hồi Hướng: 

 

Nguyện đem công đức này  

Hướng về khắp tất cả  

Đệ tử và chúng sanh  

Đều trọn thành Phật đạo  

(3 lạy) 

 

Xong mở miệng thở vài hơi dài. Nhè nhẹ lay chuyển cổ, vai, thân khoảng 5 lần, xong dùng hai bàn tay xoa nhẹ vào nhau xoa lên mắt (khoảng 5 lần). Bắt đầu dùng tay xoa bóp hai bắp vế và tháo chân ra, xoa bóp hai bắp chuối, bàn chân cho nóng lên (khoảng 5 lần). 

 

Kết thúc buổi hành Thiền. 

 trần minh hiền orlando ngày 25 tháng 5 năm 2012


 

https://twitter.com/#!/hienminhtran
http://www.facebook.com/profile.php?id=643665706
http://http://my.opera.com/hientrankhanhdo/blog/my.opera.com/hientrankhanhdo/blog/
http://www.lmstflorida.com/?1415
http://www.lmstflorida.com/?1416


http://hientran2012.multiply.com/

http://www.lmstflorida.com/?1418

http://www.lmstflorida.com/?1422  
http://www.lmstflorida.com/?1423
http://hientrankhanhdo.wordpress.com/
http://www.lmstflorida.com/?1428
http://www.lmstflorida.com/?1431

__._,_.___